Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thống kê cơ cấu lao động và chuyển dịchcơ cấu lao động tỉnh bắc ninh giai đoạn 1997 2016

Phân tích xu hướng biến động cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2016, đánh giá tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động đến phát triển kinh tế - xã hội tỉnh.

Chuyên ngành

Thống kê kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận VĂN THẠC SỸ KINH TẾ

2017

156
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh

Cơ cấu lao động là một yếu tố quan trọng trong sự phát triển kinh tế của tỉnh Bắc Ninh. Từ năm 1997 đến 2016, tỉnh này đã trải qua nhiều biến động trong cơ cấu lao động. Sự chuyển dịch này không chỉ phản ánh sự thay đổi trong các ngành nghề mà còn thể hiện sự phát triển của nền kinh tế. Theo số liệu thống kê, tỷ lệ lao động trong ngành nông nghiệp đã giảm mạnh từ 86,13% năm 1997 xuống còn 20,94% năm 2016. Ngược lại, tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ đã tăng lên đáng kể. Điều này cho thấy sự chuyển dịch cơ cấu lao động theo hướng tích cực, phù hợp với xu hướng phát triển kinh tế của tỉnh.

1.1. Tình hình lao động và việc làm

Tình hình lao động và việc làm tại Bắc Ninh giai đoạn 1997-2016 cho thấy sự gia tăng đáng kể trong số lượng việc làm trong các ngành công nghiệp và dịch vụ. Sự phát triển của các khu công nghiệp đã tạo ra nhiều cơ hội việc làm mới, thu hút lao động từ các vùng lân cận. Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại nhiều thách thức trong việc giải quyết việc làm cho lao động nông nghiệp chuyển đổi sang các ngành khác. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo còn thấp, chỉ đạt khoảng 28,1% vào năm 2016, cho thấy cần có những chính sách đào tạo nghề phù hợp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

II. Phân tích xu hướng và biến động lao động

Xu hướng chuyển dịch cơ cấu lao động tại Bắc Ninh giai đoạn 1997-2016 cho thấy sự thay đổi rõ rệt trong các nhóm ngành kinh tế. Ngành công nghiệp xây dựng đã tăng từ 7,31% lên 48,5%, trong khi ngành dịch vụ cũng có sự gia tăng từ 6,56% lên 30,55%. Điều này phản ánh sự chuyển dịch mạnh mẽ từ nền kinh tế nông nghiệp sang nền kinh tế công nghiệp và dịch vụ. Sự chuyển dịch này không chỉ tạo ra nhiều việc làm mới mà còn nâng cao năng suất lao động, góp phần vào sự phát triển kinh tế bền vững của tỉnh.

2.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch lao động

Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến biến động lao động tại Bắc Ninh. Đầu tiên, chính sách phát triển kinh tế của tỉnh đã tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của các ngành công nghiệp. Thứ hai, sự gia tăng đầu tư từ các doanh nghiệp trong và ngoài nước đã thúc đẩy nhu cầu lao động. Cuối cùng, sự thay đổi trong nhu cầu thị trường lao động cũng đã ảnh hưởng đến cơ cấu lao động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều thách thức như tỷ lệ lao động chưa qua đào tạo cao, cần có các giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.

III. Đánh giá và dự báo cơ cấu lao động

Đánh giá tổng thể về cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh cho thấy những thành tựu đáng kể trong việc chuyển dịch cơ cấu lao động. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều hạn chế cần khắc phục. Dự báo đến năm 2020, cơ cấu lao động sẽ tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, với tỷ lệ lao động trong ngành công nghiệp và dịch vụ sẽ tiếp tục gia tăng. Để đạt được mục tiêu này, cần có các chính sách hỗ trợ đào tạo nghề, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phát triển các khu công nghiệp.

3.1. Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch lao động

Để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động, tỉnh Bắc Ninh cần tập trung vào một số giải pháp chính. Đầu tiên, cần nâng cao chất lượng đào tạo nghề để đáp ứng nhu cầu của thị trường lao động. Thứ hai, cần phát triển các khu công nghiệp và cụm công nghiệp để tạo ra nhiều việc làm mới. Cuối cùng, cần có các chính sách hỗ trợ cho lao động nông nghiệp chuyển đổi sang các ngành khác, nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho tỉnh.

14/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 “Những vấn đề lý luận về cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động” gồm 4 mục: 1. Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động; 1. Các nhân tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu lao động; 1. Các tác động của chuyển dịch cơ cấu lao động; 1.

Các phương pháp thống kê phân tích chuyển dịch cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động Mục 1.1 “Cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động” bao gồm 2 tiểu mục: 1. Cơ cấu lao động; 1. Chuyển dịch cơ cấu lao động Khi đề cấp đến cơ cấu, chúng ta cần nghiên cứu theo hai khía cạnh: cơ cấu theo chỉ tiêu đầu vào và cơ cấu theo chỉ tiêu đầu ra.

Tuy nhiên, trong giới hạn luận văn, tác giả chỉ nghiên cứu về cơ cấu theo chỉ tiêu đầu vào, cụ thể là cơ cấu lao động. Cơ cấu lao động Tiểu mục 1.1 “Cơ cấu lao động” bao gồm 3 tiết: 1. Khái niệm về cơ cấu lao động; 1. Các loại, các chỉ tiêu và phương pháp biểu hiện cơ cấu lao động; 1.

Ý nghĩa của chỉ tiêu cơ cấu lao động. Khái niệm về cơ cấu lao động Trong các nhân tố tác động đến tăng trưởng kinh tế như vốn, lao động, công nghệ ,.thì lao động được xem là một trong những nhân tố đầu vào quan trọng. Vốn có thể đi vay, công nghệ có thể đi mua và lao động là chủ sử dụng cả hai nhân tố này. Lao động không chỉ là nhân tố nội lực mà còn là nhân tố chủ thể trong các nhân tố điều kiện sản xuất.

Do đó, khi nghiên cứu về cơ cấu lao động tức là chúng ta đang nghiên cứu về cơ cấu theo yếu tố đầu vào của quá trình sản xuất.Mác là “sự phân chia về chất lượng và một tỷ lệ về số lượng vào quá trình sản xuất xã hội”. Nguyễn Hữu Dũng (2003), Cơ cấu được hiểu là “một tập hợp các cấu phần, theo một tỷ lệ nhất định, trong mối quan hệ ràng buộc hữu cơ với nhau, tạo nên một chỉnh thể thống nhất”. 7 Simon Kuznets (1996) cho rằng, “Cơ cấu là một khung có mạch lạc của các bộ phận có quan hệ với nhau, mà mỗi phần có một vai trò riêng biệt nhưng lại cùng có một số mục tiêu chung”. Theo Nguyễn Mạnh Hùng (2008), cơ cấu lao động được hiểu là tổng thể các mối quan hệ tương tác giữa các bộ phận lao động trong tổng nguồn lao động xã hội và được biểu hiện thông qua những tỷ tệ nhất định.

Qua các phân tích trên, tác giả định nghĩa “Cơ cấu lao động là tổng thể các bộ phận của tổng nguồn lao động, có mối quan hệ hữu cơ với nhau theo những tỷ lệ nhất định về mặt lượng và liên quan chặt chẽ với nhau về mặt chất”. Từ các quan niệm về cơ cấu, chúng ta có thể thấy: - Cần hiểu cơ cấu theo cả hai mặt định lượng (quan hệ về lượng giữa các bộ phận với nhau và giữa từng bộ phận với tổng thể chung) và định tính (mối liên hệ phụ thuộc và tương tác giữa các bộ phận trong tổng thể chung đó). - Cơ cấu được biểu hiện thông qua cả chỉ tiêu tuyệt đối (Mức độ tuyệt đối của tổng thể chung bằng tổng mức độ tuyệt đối của từng bộ phận) và chỉ tiêu tương đối (tỷ trọng từng bộ phận trong tổng thể chung và tỷ lệ giữa các bộ phận đó). - Khi nói đến cơ cấu, cần làm rõ cơ cấu của cái gì (tổng thể chung là cái gì) và theo cái gì (theo tiêu thức phân tổ nào, cách chia, căn cứ nào).

Theo đề tài, tổng thể chung là lao động tỉnh Bắc Ninh và được phân chia theo tiêu thức nhóm ngành kinh tế và TPKT. - Khi nói đến cơ cấu, cần làm rõ tiếp chỉ tiêu nào đại diện cho tổng thể chung. (Cơ cấu có thể tính theo một trong các chỉ tiêu như GDP, vốn đầu tư, lao động. Trong luận văn tác giả nghiên cứu cơ cấu theo một chỉ tiêu đầu vào, đó là cơ cấu lao động; Cơ cấu lao động có thể tính theo một trong các chỉ tiêu như lực lượng lao động, lao động từ 15 tuổi trở lên đang có việc làm,.

Theo đề tài, chỉ tiêu đặc trưng cho cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh là lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc. - CCLĐ chủ yếu được hiểu và vận dụng trong phân tích luận văn là chỉ tiêu số tương đối kết cấu (tỷ trọng – tính bằng phần trăm) hoặc chỉ tiêu tuyệt đối biểu hiện các bộ phận cấu thành tổng thể nền kinh tế xét theo một tiêu thức nào đó. Các loại cơ cấu lao động 8 Cơ cấu lao động là một phạm trù trừu tượng, muốn nắm vững bản chất của CCLĐ và thực thi các giải pháp nhằm chuyển dịch CCLĐ một cách có hiệu quả thì cần phải xem xét các loại CCLĐ. Thông thường, cơ cấu lao động được chia làm hai loại : cơ cấu cung về lao động (theo khả năng) và cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế (theo cầu).

Cơ cấu cung lao động là một trong các yếu tố phản ánh số lượng và chất lượng của nguồn nhân lực, còn cơ cấu lao động đang làm việc phản ánh sự phân bố của lao động theo các ngành, khu vực, và theo các tiêu chí khác. Trong nền kinh tế thị trường, cơ cấu lao động theo cung cầu được hình thành từ quan hệ cung cầu lao động trên thị trường lao động. Tùy theo giác độ nghiên cứu mà người ta chia ra các loại cơ cấu lao động khác nhau: Xét theo không gian, hình thành cơ cấu lao động theo vùng, lãnh thổ; cơ cấu lao động theo khu vực thành thị – nông thôn. Loại cơ cấu này dùng để đánh giá tình trạng phân bố lao động xã hội theo không gian.

Xét theo tính chất các yếu tố tạo nguồn, hình thành cơ cấu lao động theo độ tuổi; cơ cấu lao động theo trình độ… Loại cơ cấu này dùng để đánh giá thực trạng về tình hợp lý trong sử dụng lao động. Xét theo các ngành kinh tế, hình thành cơ cấu lao động theo ngành, đây là cơ cấu lao động đang làm việc trên các vùng, lãnh thổ được chia theo ngành hay nhóm ngành kinh tế. Loại cơ cấu này dùng để đánh giá thực trạng phân bố, chuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế quốc dân. Xét theo từng ngành kinh tế, hình thành cơ cấu lao động theo nội bộ ngành.

Loại cơ cấu này dùng để đánh giá tình trạng phân bố lao động làm việc trong nội bộ các ngành của nền kinh tế. Ngoài ra, tùy thuộc mục đích nghiên cứu có thể chia cơ cấu lao động làm nhiều loại khác nhau như cơ cấu lao động theo giới tính, theo nghề nghiệp … Như vậy, mỗi loại CCLĐ chứa đựng thông tin phản ánh những nét đặc trưng của các bộ phận cấu thành tổng thể và cách mà chúng quan hệ với nhau trong quá trifh phát triển kinh tế. Như đã giới hạn trong phạm vi nghiên cứu, luận văn đi sâu 9 nghiên cứu một số góc độ của cơ cấu lao động, đó là cơ cấu lao động theo tiêu thức nhóm ngành kinh tế và cơ cấu lao động theo tiêu thức thành phần kinh tế. Hai bộ phận này có quan hệ chặt chẽ với nhau.

Trong đó, CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế có vai trò quyết định, vì nó được phát triển theo quan hệ cung cầu trên thị trường, nó bảo đảm sản xuất theo nhu cầu thị trường; còn CCLĐ theo TPKT là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế. Theo định hướng của CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế các TPKT tổ chức thực hiện trên cơ sở khả năng về thế mạnh của mỗi thành phần. Cơ cấu lao động theo tiêu thức nhóm ngành kinh tế thể hiện mức độ hoặc tỷ trọng lao động của nhóm ngành kinh tế so với tổng lao động của toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu lao động theo tiêu thức nhóm ngành kinh tế thường được chia thành 3 nhóm ngành hay còn gọi là 3 khu vực kinh tế :Nông lâm thủy sản; công nghiệp xây dựng và dịch vụ.

CCLĐ theo tiêu thức nhóm ngành kinh tế được các nhà kinh tế học đánh giá cao và coi trọng là do chỉ tiêu này không chỉ phản ánh sát thực hơn mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một đất nước, mà nó còn ít bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai. Việc nghiên cứu CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế nhằm tìm ra những cách thức duy trì tỷ lệ hợp lý của chúng và những lĩnh vực cần ưu tiên tập trung các nguồn lực có hạn của quốc gia trong mỗi thời kỳ, thúc đẩy sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế một cách nhanh nhất và hiệu quả nhất. Cơ cấu lao động theo tiêu thức thành phần kinh tế thể hiện mức độ hay tỷ trọng lao động của mỗi thành phần kinh tế trong tổng số lao động của toàn bộ nền kinh tế. Cơ cấu lao động theo tiêu thức thành phần kinh tế thường được chia theo 3 thành phần kinh tế: Kinh tế Nhà nước, Kinh tế ngoài Nhà nước (tập thể, tư nhân, cá thể), Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài.

CCLĐ theo tiêu thức TPKT biểu hiện hệ thống tổ chức kinh tế với các chế độ sở hữu khác nhau, có khả năng thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất, thúc đẩy phân công lao động xã hội. Hay nói cách khác, việc phân loại CCLĐ theo tiêu thức TPKT là để xem có bao nhiêu loại hình kinh tế tồn tại, phát triển trong hệ 10 thống kinh tế dưới góc độ sở hữu, trong đó loại hình kinh tế nào có quyết định đối với nền kinh tế. Ý nghĩa của cơ cấu lao động Cơ cấu lao động theo tiêu thức phân tổ cho biết tỷ lệ lao động từ 15 tuổi trở lên đang làm việc trong từng nhóm ngành kinh tế và thành phần kinh tế. Qua đó, đánh giá tính phù hợp của việc phân bổ tổng số lao động cho các nhóm ngành kinh tế và thành phần kinh tế.

Đồng thời đưa ra các chính sách trong việc quản lí lao động, giải quyết việc làm, phân bổ lao động hợp lí, các chính sách về đào tạo, chuyên môn kĩ thuật, các chính sách về đầu tư,… Các chỉ tiêu biểu hiện CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế cho phép đánh giá được cơ cấu ngành kinh tế theo chỉ tiêu đầu vào là lao động; các chỉ tiêu này còn được sử dụng trong các mô hình đánh giá tác động của chuyển dịch CCLĐ theo nhóm ngành kinh tế đến tăng trưởng và phát triển kinh tế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài luận văn thạc sĩ kinh tế "Luận văn thạc sĩ kinh tế nghiên cứu thống kê cơ cấu lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 1997 - 2016" là một nghiên cứu sâu sắc về tình hình lao động và chuyển dịch cơ cấu lao động trong tỉnh Bắc Ninh trong suốt hai thập kỷ. Luận văn cung cấp những dữ liệu thống kê chi tiết, phân tích xu hướng và biến động của cơ cấu lao động, đồng thời đưa ra những kết luận và khuyến nghị có giá trị thực tiễn cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh.

Bạn muốn tìm hiểu thêm về quản lý nguồn nhân lực? Bạn có thể tìm thấy những kiến thức bổ ích trong luận văn Công tác đãi ngộ nhân sự tại Công ty Cổ phần Kinh Đô: Nghiên cứu luận văn ThS 2015. Luận văn này tập trung vào phân tích công tác đãi ngộ nhân sự tại một doanh nghiệp cụ thể, cung cấp cái nhìn chuyên sâu về các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả quản lý nhân sự và những giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

Hoặc bạn có thể muốn tìm hiểu về chính sách nhà ở xã hội và vai trò của nó trong việc phát triển kinh tế - xã hội? Hãy tham khảo luận văn Chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam: Nghiên cứu luận văn ThS năm 2015, một nghiên cứu về các vấn đề liên quan đến chính sách nhà ở xã hội ở Việt Nam. Luận văn này cung cấp thông tin chi tiết về các chính sách, cơ chế chính sách, cũng như những thách thức và giải pháp cho việc phát triển nhà ở xã hội hiệu quả.

Ngoài ra, bạn cũng có thể quan tâm đến quản lý tài chính tại các đơn vị tự chủ, điển hình là bệnh viện. Bài luận văn Luận văn thạc sĩ về quản lý tài chính tự chủ tại bệnh viện đa khoa bưu điện cung cấp cái nhìn sâu sắc về những vấn đề liên quan đến quản lý tài chính theo hướng tự chủ tại Bệnh viện Đa khoa Bưu điện, từ đó giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương thức quản lý tài chính hiệu quả trong các cơ sở y tế.