Chương 1: Một số vấn đề lý luận và bài học thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở tỉnh Hà Tây Chương 3: Phương hướng và những giải pháp chủ yếu để thúc đẩy sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở tỉnh Hà Tây từ nay đến năm 2010. 6 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ BÀI HỌC THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ THEO HƢỚNG CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ 1. Cơ cấu kinh tế và tính tất yếu khách quan của việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hƣớng công nghiệp hoá, hiện đại hoá 1.
Cơ cấu kinh tế Cơ cấu (hay kết cấu) theo quan niệm của Triết học duy vật biện chứng dùng để chỉ cách thức tổ chức bên trong của một hệ thống, biểu hiện sự thống nhất của các mối quan hệ qua lại vững chắc giữa các bộ phận của nó. Cơ cấu kinh tế - một phạm trù kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt trong quá trình xây dựng và thực hiện các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của từng quốc gia qua các thời kỳ. Trong nền kinh tế thị trường hiện đại, mỗi quốc gia, mỗi địa phương đều phải tìm cách lựa chọn cho mình một cơ cấu kinh tế thích hợp nhằm phát huy tối ưu lợi thế so sánh của mỗi quốc gia, của vùng mình. Thuật ngữ “Cơ cấu kinh tế”, xét về quan niệm có thể còn có sự khác nhau tuỳ theo khi xem xét ở phạm vi rộng hay hẹp của khái niệm; nhưng suy cho cùng đều có một quan điểm chung, đó là: Cơ cấu kinh tế của một nước là tổng thể các quan hệ kinh tế hay các bộ phận hợp thành nền kinh tế và mối quan hệ tương tác giữa chúng; gắn với điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội trong từng giai đoạn phát triển nhất định; nhằm thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định.
Sự hình thành cơ cấu kinh tế gắn liền với một trình độ phát triển lực lượng sản xuất nhất định và tương ứng với nó là một quan hệ sản xuất phù hợp. Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều yếu tố cấu thành nhưng nhìn chung nó đựơc biểu hiện ở hai mặt: Cơ cấu kinh tế xét về kinh tế - kỹ thuật và cơ cấu kinh tế xét về kinh tế - xã hội. 7 z Về mặt kinh tế - kỹ thuật bao gồm: cơ cấu ngành nghề, loại hình tổ chức kinh doanh, trình độ kỹ thuật, cơ cấu vùng lãnh thổ. Cơ cấu theo ngành nghề, lĩnh vực kinh tế phản ánh số lượng, vị trí, tỷ trọng các bộ phận cấu thành nền kinh tế.
Cơ cấu theo quy mô, trình độ kỹ thuật, công nghệ của các loại hình tổ chức sản xuất phản ánh chất lượng của các bộ phận cấu thành nền kinh tế. Cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ phản ánh khả năng kết hợp, khai thác tài nguyên, tiềm lực kinh tế- xã hội của các vùng phục vụ cho mục tiêu phát triển nền kinh tế quốc dân thống nhất. Về mặt kinh tế - xã hội bao gồm: Cơ cấu thành phần kinh tế, cơ cấu lao động, trình độ phát triển quan hệ hàng hoá- tiền tệ, thị trường. Cơ cấu thành phần kinh tế phản ánh khả năng khai thác năng lực tổ chức sản xuất - kinh doanh của mọi thành viên xã hội.
Cơ cấu kinh tế theo trình độ phát triển của quan hệ hàng hoá- tiền tệ phản ánh khả năng giải quyết mối quan hệ và sự tác động qua lại giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế quốc dân. Sự chuyển dịch từ mô hình cơ cấu kinh tế cũ sang mô hình cơ cấu kinh tế mới bao gồm các quá trình và bước đi cụ thể sau đây: + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, tức là chuyển dịch từ cơ cấu nông nghiệp- công nghiệp sang cơ cấu công nghiệp - nông nghiệp - dịch vụ. + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, với sự phát triển bình đẳng của sáu thành phần kinh tế; trong đó kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo. + Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ là phát triển theo hướng toàn diện và tập trung có trọng điểm, phát triển tổng hợp và chuyên môn hoá, trên cơ sở khai thác triệt để tiềm năng, thế mạnh của từng vùng và kết hợp với sự phân công lao động của các vùng lân cận… 8 z Ba bộ phận của cơ cấu kinh tế mới có tính độc lập tương đối, cùng nằm trong một chỉnh thể thống nhất và giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau.
Trong đó cơ cấu kinh tế ngành có vai trò quyết định; còn cơ cấu thành phần kinh tế là những lực lượng kinh tế quan trọng để thực hiện cơ cấu kinh tế ngành. Cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu thành phần kinh tế chỉ có thể được chuyển dịch đúng hướng khi gắn với từng vùng lãnh thổ; vì vậy, việc thực hiện cơ cấu kinh tế theo vùng lãnh thổ có ý nghĩa rất quan trọng. Như vậy, cơ cấu kinh tế là sự thể hiện tính thống nhất giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất. Cần phải cấu trúc lại cơ cấu kinh tế cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế.
Cơ cấu kinh tế phản ánh tổng thể các mối quan hệ chủ yếu về chất lượng và số lượng tương đối ổn định của các yếu tố kinh tế, các bộ phận của lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất trong một hệ thống tái sản xuất xã hội, trong những điều kiện kinh tế- xã hội nhất định, vào một khoảng thời gian nhất định. Cơ cấu kinh tế phản ánh trình độ, tính chất của nền kinh tế. Tính chất của cơ cấu kinh tế: để nhận thức đúng đắn xu hướng biến đổi khách quan của cơ cấu kinh tế và vận dụng vào điều kiện lịch sử cụ thể của từng quốc gia, qua từng giai đoạn phát triển của quốc gia đó; vì vậy, có một số tính chất của cơ cấu kinh tế cần được coi trọng; đó là tính khách quan khoa học và tính lịch sử xã hội. Tính khách quan khoa học: nền kinh tế có sự phân công lao động xã hội, bao gồm các ngành, các lĩnh vực kinh tế, sự phát triển của lực lượng sản xuất và cùng với nó là quan hệ sản xuất phù hợp, thích ứng; nhất định sẽ hình thành một cơ cấu kinh tế với tỉ lệ cân đối tương ứng giữa các bộ phận, tỉ lệ đó được thay đổi thường xuyên, tự giác theo quá trình diễn biến khách quan của nhu cầu xã hội và khả năng đáp ứng yêu cầu đó.
9 z Tính lịch sử xã hội: sự biến đổi cơ cấu kinh tế luôn gắn liền với sự thay đổi không ngừng của lực lượng sản xuất và nhu cầu chính trị- xã hội. Cơ cấu kinh tế đựơc hình thành khi quan hệ giữa các bộ phận được xác lập một cách cân đối và sự phân công lao động xã hội được diễn ra một cách hợp lý. Lực lượng sản xuất luôn vận động, biến đổi, phát triển, đó là xu hướng phổ biến, tất yếu. Song mối quan hệ giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên trong quá trình tái sản xuất xã hội, ở mỗi giai đoạn lịch sử, ở mỗi quốc gia lại có sự khác nhau; những khác nhau đó bị chi phối bởi quan hệ sản xuất, bởi các đặc trưng văn hoá, xã hội, bởi các yếu tố lịch sử của từng dân tộc.
Qua sự phân tích trên cho thấy, sự hình thành cơ cấu kinh tế chẳng những mang tính chất khách quan khoa học mà còn mang tính chất lịch sử xã hội. Để thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, ổn định tình hình chính trị, xã hội ở mỗi quốc gia, mỗi địa phương thì việc xác định được cơ cấu kinh tế hợp lý có ý nghĩa hết sức quan trọng. Một cơ cấu kinh tế hợp lý về cơ bản phải thoả mãn được các yêu cầu sau đây: - Phải phù hợp với các quy luật khách quan mà trước hết mà là các quy luật kinh tế. - Khai thác hợp lý và phát huy được các nguồn lực của đất nước, của các vùng kinh tế, tạo năng xuất lao động cao, phù hợp với sự tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ.
- Tạo nên sự phát triển cân đối, nhịp nhàng giữa các vùng, các ngành, phát huy được lợi thế so sánh của các vùng, các ngành đó. - Tạo nên sự gắn kết giữa các loại thị trường trong và ngoài nước, sự phân công hợp tác quốc tế ngày càng chặt chẽ, sâu rộng. - Tạo đựơc tích luỹ nhiều nhất cho nền kinh tế quốc dân, tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế- xã hội, an ninh quốc phòng vững chắc. Một số vấn đề lý luận liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế.
Khi chuyển dịch cơ cấu kinh tế, các lý thuyết kinh tế sau đây không thể không được tính đến; có thể chia thành ba nhóm lý thuyết với những nét khái quát sau đây: Một là, lý luận phân công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội của C. Các lý thuyết này liên quan đến việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế vì nó gắn liền với sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân và mối quan hệ giữa chúng trên không gian lãnh thổ nhất định. Mác, sự hình thành các ngành kinh tế quốc dân với tư cách là những ngành độc lập gắn liền với phân công lao động xã hội. Sản xuất hàng hoá càng phát triển thì các ngành kinh tế, các chủ thể kinh tế trên lãnh thổ càng mở rộng và ngược lại.
Một trong những cơ sở quan trọng nhất của sự phân công lao động xã hội là sự gia tăng năng xuất lao động trong nông nghiệp; sự xuất hiện sở hữu tư nhân và theo đó là các chủ thể tư nhân độc lập tương đối với nhau; mọi quan hệ giữa các ngành, các vùng là mối quan hệ trao đổi cả về hai mặt hiện vật lẫn giá trị, tuân theo quy luật của tái sản xuất xã hội, trong đó khu vực sản xuất tư liệu sản xuất tăng nhanh hơn khu vực sản xuất tư liệu tiêu dùng. Hai là, lý thuyết kinh tế trong “Kinh tế học thuộc trào lưu chính”. Mặc dù lý thuyết này ít đề cập trực tiếp về cơ cấu và mối quan hệ giữa các ngành, các vùng trong cơ cấu kinh tế như C.