Tổng quan về luận án

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CCKT) nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững là chiến lược cốt lõi trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa của Việt Nam. Giai đoạn 2010–2020, ngành nông nghiệp duy trì tốc độ tăng trưởng bình quân 2,85%/năm, tăng trưởng giá trị sản xuất đạt 3,64%/năm và đóng góp 18,68% vào tổng sản phẩm quốc nội (GDP). Nằm ở hạ lưu đồng bằng sông Hồng với diện tích tự nhiên 158.630 ha đất đai màu mỡ "bờ xôi ruộng mật", tỉnh Thái Bình sở hữu tiềm năng vượt trội về sản xuất nông nghiệp, đạt tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản bình quân 4,05%/năm giai đoạn 2010–2020. Tuy nhiên, sự phát triển này bộc lộ những điểm nghẽn nghiêm trọng: mô hình tăng trưởng vẫn thiên về chiều rộng, quy mô sản xuất trang trại manh mún chỉ đạt bình quân 2,19 ha/trang trại (thấp hơn trung bình cả nước), 62,39% lao động nông nghiệp chưa qua đào tạo, và kim ngạch xuất khẩu (XK) nông sản năm 2020 chỉ đạt khiêm tốn 26,77 triệu USD (so với quy mô 41 tỷ USD của cả nước).

Khoảng trống nghiên cứu (Research Gap) lớn nhất hiện nay là sự thiếu vắng một khung lý luận và công cụ phân tích trực diện về hệ thống chính sách của chính quyền cấp tỉnh nhằm thúc đẩy chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng xuất khẩu tích hợp đồng thời ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường. Các công trình trước đây của Đào Thế Anh và cộng sự (2008), Nguyễn Văn Chử (2016), hay Bùi Thị Thanh Huyền (2019) chủ yếu tiếp cận tái cơ cấu nông nghiệp ở cấp độ vĩ mô quốc gia hoặc phân tích chuyển dịch cơ cấu thuần túy mà chưa đặt trọng tâm vào việc đánh giá định lượng chu trình chính sách cấp tỉnh gắn với các cam kết thương mại quốc tế thế hệ mới (CPTPP, EVFTA).

Luận án tiến sĩ kinh tế chuyên ngành Quản lý kinh tế của tác giả Hà Xuân Bình (Trường Đại học Thương mại, 2021) với đề tài "Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình" đã giải quyết triệt để khoảng trống này thông qua 5 câu hỏi nghiên cứu (Research Questions - RQ):

  • RQ1: Bản chất, nội hàm, nguyên tắc và các yếu tố ảnh hưởng đến chính sách chuyển dịch CCKT nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của một địa phương cấp tỉnh là gì?
  • RQ2: Thực trạng ban hành và tổ chức thực thi chính sách của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2010–2020 bộc lộ những hạn chế, điểm nghẽn gì dưới góc độ phát triển bền vững?
  • RQ3: Những nhân tố thể chế, kinh tế và nguồn lực nào đang chi phối trực tiếp đến hiệu lực của các chính sách nông nghiệp tại địa phương?
  • RQ4: Những quan điểm, mục tiêu và định hướng đột phá nào cần được xác lập cho nông nghiệp Thái Bình giai đoạn 2021–2025, tầm nhìn 2030?
  • RQ5: Hệ thống giải pháp chính sách và điều kiện thực thi nào cần được triển khai đồng bộ để tối ưu hóa lợi thế so sánh của tỉnh hướng tới xuất khẩu bền vững?

Khung lý thuyết của luận án tích hợp Lý thuyết Chuyển dịch cơ cấu (Chenery, 1988), Lý thuyết Các giai đoạn tăng trưởng kinh tế (Rostow, 1990), Lý thuyết Lợi thế so sánh và Chu trình chính sách kinh tế công (Ellis, 1995; Boothroyd, 2003; Đỗ Kim Chung, 2018). Nghiên cứu khảo sát trên tập mẫu quy chuẩn gồm 425 hộ nông dân và 35 doanh nghiệp/hợp tác xã (HTX) nông nghiệp tại 8 huyện, thành phố thuộc tỉnh Thái Bình, kết hợp chuỗi dữ liệu thứ cấp toàn diện giai đoạn 2010–2020 nhằm cung cấp các luận cứ khoa học chuẩn xác phục vụ hoạch định chính sách cấp địa phương.

Literature Review và Positioning

Tổng quan y văn quốc tế và trong nước cho thấy ba luồng nghiên cứu (research streams) chính định hình lĩnh vực này:

Luồng thứ nhất - Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp: Khởi nguồn từ mô hình chuyển dịch cơ cấu của Chenery H. (1988), các nhà kinh tế khẳng định mọi nền kinh tế phải tái phân bổ nguồn lực từ khu vực năng suất thấp sang khu vực có lợi thế so sánh cao hơn. Julian M. Alston và Philip G. Pardey (2014) trong "Agriculture in the Global Economy" nhấn mạnh chuyển dịch nông nghiệp là tất yếu nhằm dung hòa tăng trưởng kinh tế với an ninh sinh thái. Rostow (1990) định vị chuyển dịch cơ cấu qua 5 nấc thang phát triển, trong đó chuyên môn hóa nông nghiệp là tiền đề tích lũy tư bản. Tại Việt Nam, Lê Quốc Doanh (2006) và Đào Thế Anh (2008) đã hệ thống hóa các tiêu chí đánh giá chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp nông thôn theo hướng hiện đại hóa.

Luồng thứ hai - Chính sách xuất khẩu nông sản và thương mại quốc tế: Zhang Hongzhou (2012) nghiên cứu kinh nghiệm tái cấu trúc nông nghiệp Trung Quốc, khẳng định vai trò sống còn của quy mô trang trại và chuyên môn hóa vùng. Lê Tố Hoa (2003) phân tích bài học Thái Lan trong việc dùng chính sách công để định hướng sản xuất phục vụ thị trường quốc tế. Bùi Khắc Bằng (2017) và Ngô Thị Mỹ (2016) chỉ ra các công cụ tài chính, tỷ giá và hàng rào kiểm dịch là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh nông sản xuất khẩu của các địa phương.

Luồng thứ ba - Phát triển nông nghiệp bền vững và đo lường chính sách: John Lynch và cộng sự (2019) nghiên cứu hệ thống chỉ số bền vững nông nghiệp tại Ireland, đo lường tác động của chính sách lên phát thải khí nhà kính, chất lượng nước và đa dạng sinh học. Jaqueline Marcis và cộng sự (2019) xây dựng mô hình SAAC đánh giá hiệu quả bền vững của hợp tác xã nông nghiệp tại Brazil. Hashemi Niloofar và Gholamreza Ghaffary (2017) đề xuất chỉ số phát triển nông thôn bền vững SRDI tại Iran dựa trên thang đo Likert 5 mức độ. Ở trong nước, Lê Bá Tâm (2016) và Nguyễn Thị Phương Lan (2019) đã tiếp cận chính sách chuyển dịch nông nghiệp bền vững tại Nghệ An và Ninh Bình, đánh giá dựa trên các tiêu chí phù hợp, hiệu lực và hiệu quả.

                                  KHUNG ĐỊNH VỊ Y VĂN (LITERATURE POSITIONING)

Tranh luận học thuật cốt lõi tồn tại giữa hai trường phái: một bên ưu tiên thâm canh tối đa hóa sản lượng để tăng kim ngạch xuất khẩu nhanh (quan điểm sản xuất truyền thống), đối lập với trường phái kinh tế sinh thái đòi hỏi giảm phát thải, hạn chế hóa chất nông nghiệp và bảo tồn nguồn nước (Lynch et al., 2019). Luận án của Hà Xuân Bình định vị chính xác vào điểm giao thoa: tích hợp xuất khẩu giá trị cao với tiêu chuẩn sinh thái tại một địa bàn cụ thể cấp tỉnh. So sánh với nghiên cứu của Qian Zhang và cộng sự (2016) sử dụng mô hình TERM tại Sơn Đông và Hà Nam (Trung Quốc) - vốn chỉ ra năng suất lao động tác động mạnh hơn tích tụ vốn, luận án chứng minh rằng tại vùng đất chật người đông như Thái Bình, chính sách thể chế về tích tụ ruộng đất và chuyển giao kỹ thuật thực hành nông nghiệp tốt (VietGAP, GAHP, hữu cơ) mới là động lực quyết định.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mang lại những bước tiến lý luận quan trọng cho phân ngành Quản lý kinh tế:

  1. Mở rộng Lý thuyết Chuyển dịch Cơ cấu (Structural Transformation): Bổ sung nội hàm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp cấp tiểu vùng trong bối cảnh hội nhập FTA thế hệ mới. Luận án chỉ rõ chuyển dịch cơ cấu không chỉ dừng lại ở thay đổi tỷ trọng giá trị sản xuất giữa trồng trọt, chăn nuôi, thủy sản, mà bản chất là chuyển đổi phương thức sản xuất từ "nông nghiệp hóa học quy mô nhỏ" sang "chuỗi giá trị nông nghiệp hữu cơ xuất khẩu".
  2. Hoàn thiện Lý thuyết Chu trình Chính sách Công trong Nông nghiệp: Kế thừa quan điểm của Ellis (1995), Peter Boothroyd (2003) và Đỗ Kim Chung (2018), luận án định hình 4 giai đoạn khép kín của chính sách nông nghiệp địa phương: (1) Xác định vấn đề chính sách từ lợi thế so sánh; (2) Hoạch định chính sách đa mục tiêu; (3) Thực thi chính sách có sự tham gia của chuỗi liên kết 5 nhà (Nhà nước, Nhà nông, Doanh nghiệp, Nhà khoa học, Ngân hàng); (4) Đánh giá chính sách theo chuẩn phát triển bền vững.
  3. Xác lập Mô hình Tiến trình Chuyển dịch 3 Giai đoạn:
    • Giai đoạn 1: Từ sản xuất tự cấp, độc canh lúa nước sang canh tác đa dạng, đa canh (kết hợp hoa màu, thủy sản thô sơ).
    • Giai đoạn 2: Từ đa canh sang sản xuất chuyên môn hóa vùng, hình thành các cánh đồng mẫu lớn và trang trại tập trung.
    • Giai đoạn 3: Từ chuyên môn hóa thông thường sang nền nông nghiệp hàng hóa công nghệ cao hướng tới xuất khẩu bền vững, đáp ứng hàng rào kỹ thuật quốc tế.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp chặt chẽ ba chiều kích: Tam giác Phát triển Bền vững (Kinh tế - Xã hội - Môi trường), Khung Đánh giá Hiệu lực Chính sách (Phù hợp, Đồng bộ/Hệ thống, Khả thi, Hiệu quả) và Ma trận Đối tượng Thụ hưởng (Hộ nông dân, HTX, Doanh nghiệp).

                                      KHUNG PHÂN TÍCH CHÍNH SÁCH CỦA LUẬN ÁN
  • Nhóm chính sách kinh tế (17 biến quan sát): Tác động đến tích tụ ruộng đất, xúc tiến xuất khẩu, đầu tư công nghệ chế biến và hạ tầng thủy lợi nội đồng.
  • Nhóm chính sách xã hội (13 biến quan sát): Tác động đến chuyển đổi nghề, đào tạo lao động kỹ thuật, nâng cao thu nhập thực tế và củng cố liên kết hợp tác xã.
  • Nhóm chính sách môi trường (13 biến quan sát): Tác động đến kiểm soát phân bón hóa học, thuốc bảo vệ thực vật, xử lý chất thải chăn nuôi quy mô lớn và hỗ trợ chứng nhận nông nghiệp sinh thái.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan Thực tế phê phán (Critical Realism) kết hợp Chủ nghĩa thực chứng (Positivism), sử dụng thiết kế nghiên cứu hỗn hợp kết hợp đồng thời phân tích định tính chuyên sâu và định lượng thống kê suy luận (Mixed-methods Sequential Explanatory Design).

                                        QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU RIGOROUS

Quy trình nghiên cứu rigorous

Chiến lược chọn mẫu định mức ngẫu nhiên đơn giản được xây dựng dựa trên chỉ tiêu diện tích đất nông nghiệp phân bổ tại 8 huyện, thành phố của tỉnh Thái Bình theo Quyết định số 1255/QĐ-UBND ngày 25/05/2018 của UBND tỉnh Thái Bình (ví dụ: huyện Thái Thụy có diện tích đất nông nghiệp 16.928 ha được phân bổ số lượng mẫu tương ứng).

Tổng số phiếu khảo sát phát ra là 500 phiếu, thu về 425 phiếu hợp lệ từ các hộ nông dân trực tiếp sản xuất và 35 phiếu hợp lệ từ đại diện các doanh nghiệp, hợp tác xã nông nghiệp. Phương pháp phỏng vấn sâu được thực hiện song song với 2 nhóm bảng hỏi định tính dành cho cán bộ quản lý nhà nước tại Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Sở Kế hoạch và Đầu tư, UBND các huyện và đại diện lãnh đạo các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu chủ lực. Phương pháp tam giác đạc (Triangulation) kết hợp dữ liệu thống kê lịch sử 10 năm (2010–2020), kết quả điều tra xã hội học và phỏng vấn sâu giúp triệt tiêu các sai số chủ quan.

Data và phân tích

Dữ liệu sơ cấp được mã hóa và xử lý trên phần mềm SPSS phiên bản 20.0. Thang đo 43 biến quan sát được kiểm định độ tin cậy nội tại qua hệ số Cronbach’s Alpha và hệ số tương quan biến - tổng (Corrected Item-Total Correlation) theo các tiêu chuẩn học thuật của Nunnally & Bernstein (1994) và Hoàng Trọng, Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008):

  • Thang đo nhóm chính sách kinh tế (17 biến): Cronbach's Alpha đạt độ tin cậy cao dao động từ 0,72 đến 0,84; tất cả hệ số tương quan biến - tổng đều > 0,35.
  • Thang đo nhóm chính sách xã hội (13 biến): Cronbach's Alpha đạt từ 0,68 đến 0,81; không có biến rác bị loại.
  • Thang đo nhóm chính sách môi trường (13 biến): Cronbach's Alpha đạt từ 0,65 đến 0,79; độ giá trị hội tụ bảo đảm yêu cầu thống kê.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

Phân tích định lượng và đối chiếu thực nghiệm giai đoạn 2010–2020 mang lại 4 phát hiện thực chứng có tính đột phá:

  1. Nghịch lý giữa tăng trưởng sản lượng và giá trị xuất khẩu: Mặc dù giá trị sản xuất nông nghiệp của Thái Bình tăng trưởng đều đặn 4,05%/năm trong 10 năm, nhưng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2020 chỉ đạt 26,77 triệu USD, chiếm tỷ trọng vô cùng nhỏ bé so với tổng kim ngạch xuất khẩu nông nghiệp cả nước (41 tỷ USD). Nguyên nhân trực tiếp là 90% sản lượng nông sản của tỉnh tiêu thụ dạng thô tại thị trường nội địa hoặc xuất khẩu tiểu ngạch không có thương hiệu.
  2. Rào cản thể chế đất đai và quy mô hữu hạn: Đất đai canh tác bình quân trang trại chỉ đạt 2,19 ha/trang trại, thấp hơn nhiều so với mức bình quân cả nước. Chính sách tích tụ, tập trung ruộng đất của tỉnh còn vướng mắc về thủ tục chuyển nhượng quyền sử dụng và cơ chế cho thuê đất dài hạn, khiến doanh nghiệp chế biến sâu không thể xây dựng vùng nguyên liệu tập trung đạt chuẩn quốc tế.
  3. Nghịch lý cơ cấu thu nhập và chất lượng nguồn nhân lực: Mặc dù tỷ lệ hộ sản xuất nông nghiệp chiếm tới 49,5% tổng số hộ toàn tỉnh, nhưng tỷ lệ hộ có nguồn thu nhập chính lớn nhất từ nông nghiệp chỉ chiếm 29,00% (thấp hơn nhiều so với mức 49% của cả nước). Đồng thời, 62,39% lao động nông thôn chưa qua đào tạo nghề, tạo thành lực cản lớn nhất khi chuyển đổi sang quy trình canh tác công nghệ cao và nông nghiệp thông minh.
  4. Sự thiếu hụt chính sách môi trường có tính cưỡng chế và khuyến khích: Điểm đánh giá của các hộ và doanh nghiệp đối với nhóm chính sách môi trường chỉ đạt mức trung bình thấp. Tỉnh thiếu các gói tín dụng xanh và cơ chế hỗ trợ chi phí kiểm nghiệm tồn dư hóa chất cho nông dân chuyển đổi sang canh tác hữu cơ.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Chứng minh tính tất yếu của việc lồng ghép tiêu chí môi trường vào hàm mục tiêu tối ưu hóa chính sách kinh tế địa phương; cung cấp khung phân tích đa chiều cho kinh tế học phát triển cấp tỉnh.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp bộ công cụ 43 biến quan sát đã được chuẩn hóa, có khả năng tái lặp và ứng dụng trực tiếp để đo lường hiệu lực chính sách nông nghiệp tại các tỉnh có điều kiện tự nhiên tương đồng ở vùng đồng bằng sông Hồng như Nam Định, Hà Nam, Hải Dương, Hưng Yên.
  • Về mặt thực thi chính sách:
    • Chính sách kinh tế: Ban hành cơ chế quỹ đất linh hoạt, cho phép tích tụ ruộng đất thông qua hình thức góp vốn bằng quyền sử dụng đất; hỗ trợ thuế suất ưu đãi và bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp xây dựng nhà máy chiếu xạ, bảo quản sau thu hoạch đạt chuẩn GlobalGAP, HACCP.
    • Chính sách xã hội: Chuyển trọng tâm đào tạo nghề từ dạy kỹ thuật canh tác truyền thống sang đào tạo kỹ năng quản trị nông trại số, an toàn sinh học và truy xuất nguồn gốc xuất xứ qua mã QR code.
    • Chính sách môi trường: Xây dựng mô hình chuỗi giá trị nông nghiệp tuần hoàn ISAC (Trồng trọt - Chăn nuôi - Thủy sản - Phân bón hữu cơ), áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với thuốc bảo vệ thực vật hóa học kết hợp trợ giá phân bón vi sinh.

Limitations và Future Research

  • Hạn chế về phạm vi không gian và thuộc tính mẫu: Nghiên cứu thực hiện giới hạn trong địa giới hành chính tỉnh Thái Bình với cỡ mẫu 425 hộ nông dân và 35 doanh nghiệp/HTX. Kết quả có thể chịu tác động bởi đặc thù văn hóa canh tác vùng đồng bằng sông Hồng, đòi hỏi sự thận trọng khi suy rộng cho các vùng sinh thái đồi núi hoặc Tây Nguyên.
  • Hạn chế về phương pháp định lượng: Nghiên cứu dừng lại ở mức phân tích thống kê mô tả, kiểm định độ tin cậy Cronbach’s Alpha và phân tích bảng chéo; chưa xây dựng mô hình phương trình cấu trúc (SEM) hoặc hồi quy đa biến phân cấp (HLM) để đo lường mức độ tác động định lượng chính xác của từng chính sách lên kim ngạch xuất khẩu.
  • Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Research Agenda):
    1. Ứng dụng mô hình SEM nhằm lượng hóa hệ số tác động của từng chính sách (đất đai, vốn, công nghệ) đến quyết định chuyển đổi phương thức sản xuất bền vững của hộ nông dân.
    2. Mở rộng không gian nghiên cứu so sánh liên tỉnh (Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình) để nhận diện tính kinh tế theo quy mô vùng kinh tế ven biển.
    3. Đánh giá tác động của các cam kết bảo vệ môi trường trong EVFTA và thuế carbon biên giới (CBAM) đối với chuỗi cung ứng nông sản xuất khẩu cấp tỉnh.

Tác động và ảnh hưởng

  • Đóng góp học thuật: Cung cấp tài liệu tham khảo chuẩn mực về phương pháp luận đánh giá chính sách công trong nông nghiệp cấp địa phương, dự kiến tạo nguồn trích dẫn quan trọng cho các luận án tiến sĩ và công trình nghiên cứu kinh tế nông nghiệp tại Việt Nam.
  • Chuyển đổi thực tiễn ngành: Định hình lại chiến lược cơ cấu cây trồng, vật nuôi của tỉnh Thái Bình giai đoạn 2021–2025: giảm diện tích lúa đại trà năng suất thấp, mở rộng diện tích lúa chất lượng cao (lúa đặc sản xuất khẩu), thủy sản nước lợ (tôm công nghệ cao) và cây dược liệu có giá trị kinh tế vượt trội.
  • Ảnh hưởng chính sách cấp tỉnh: Các đề xuất của luận án là luận cứ trực tiếp giúp HĐND và UBND tỉnh Thái Bình rà soát, điều chỉnh Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp, cụ thể hóa các nghị quyết về tích tụ ruộng đất và thu hút đầu tư tư nhân vào nông nghiệp công nghệ cao.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận khung phân tích chuẩn tắc và hệ thống dữ liệu điều tra thực địa 425 hộ sản xuất nông nghiệp và 35 doanh nghiệp/HTX cùng quy trình kiểm định thang đo bài bản.
  • Cơ quan hoạch định chính sách (UBND, Sở Nông nghiệp & PTNT, Sở Kế hoạch & Đầu tư): Sử dụng các phát hiện thực chứng để thiết kế các văn bản quy phạm pháp luật sát với nhu cầu thực tế của nông dân và doanh nghiệp xuất khẩu.
  • Doanh nghiệp chế biến, Hợp tác xã và Hộ nông dân: Nắm bắt lộ trình chính sách, định hướng tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế (VietGAP, GAHP, hữu cơ) để chủ động chuyển đổi mô hình kinh doanh, tiếp cận các nguồn lực hỗ trợ từ ngân sách nhà nước.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?
Đóng góp độc đáo nhất là việc tích hợp thành công Lý thuyết Chuyển dịch Cơ cấu kinh tế của Chenery (1988) với Khung Phát triển Bền vững (kinh tế - xã hội - môi trường) vào cấp độ quản lý nhà nước của chính quyền địa phương cấp tỉnh, xây dựng thành công mô hình chuyển dịch CCKT nông nghiệp 3 giai đoạn tiến tới xuất khẩu bền vững.

2. Đổi mới phương pháp luận so với các nghiên cứu trước đây được thể hiện như thế nào?
So với các nghiên cứu thuần túy định tính trước đây như Bùi Quang Bình (2012) hay Lê Bá Tâm (2016), luận án đã thiết lập quy trình nghiên cứu hỗn hợp chuẩn tắc: sử dụng mẫu định mức theo chỉ tiêu phân bổ đất đai (Quyết định 1255/QĐ-UBND), thu thập 460 mẫu sơ cấp và kiểm định tính nhất quán nội tại của 43 biến quan sát qua hệ số Cronbach's Alpha trên phần mềm SPSS 20.

3. Phát hiện thực nghiệm nào gây bất ngờ nhất trong nghiên cứu?
Đó là hiện tượng "Nghịch lý kép trong cơ cấu kinh tế nông nghiệp Thái Bình": Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất nông nghiệp đạt mức ấn tượng 4,05%/năm (vượt mức bình quân cả nước 2,85%), nhưng kim ngạch xuất khẩu nông sản năm 2020 chỉ đạt 26,77 triệu USD; đồng thời 49,5% hộ làm nông nghiệp nhưng chỉ có 29,0% hộ có thu nhập chính từ nông nghiệp do năng suất lao động thấp và 62,39% lao động chưa qua đào tạo.

4. Luận án có cung cấp quy trình tái lập nghiên cứu (Replication Protocol) hay không?
Luận án cung cấp chi tiết toàn bộ phiếu điều tra khảo sát, bảng mã hóa 43 biến quan sát, tiêu chí phân bổ mẫu theo địa bàn huyện và kết quả kiểm định Cronbach's Alpha tại các phụ lục, cho phép các nhà nghiên cứu độc lập tái lặp quy trình đo lường tại các địa phương khác.

5. Lộ trình nghiên cứu 10 năm tiếp theo được định hình ra sao?
Lộ trình nghiên cứu hướng tới: (1) Mô hình hóa tác động của số hóa nông nghiệp và thương mại điện tử xuyên biên giới đối với xuất khẩu nông sản; (2) Đo lường định lượng dòng chi phí - lợi ích sinh thái trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp thích ứng biến đổi khí hậu vùng ven biển đồng bằng sông Hồng.

Kết luận

Luận án "Chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng xuất khẩu bền vững của tỉnh Thái Bình" của NCS. Hà Xuân Bình đã hoàn thành xuất sắc các mục tiêu nghiên cứu với 5 đóng góp học thuật và thực tiễn cốt lõi:

  1. Xác lập hệ thống lý luận hoàn chỉnh về chính sách chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp cấp tỉnh hướng tới xuất khẩu bền vững trên cả 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường.
  2. Xây dựng và kiểm định thành công bộ thang đo thực nghiệm gồm 43 biến quan sát đo lường 3 nhóm chính sách kinh tế, xã hội, môi trường với hệ số Cronbach's Alpha đạt độ tin cậy từ 0,6 đến 0,8.
  3. Nhận diện sâu sắc 4 điểm nghẽn thực tiễn của nông nghiệp Thái Bình giai đoạn 2010–2020: quy mô đất đai manh mún (2,19 ha/trang trại), lao động thiếu kỹ năng (62,39% chưa đào tạo), tỷ lệ thu nhập nông nghiệp thấp (29,0%) và kim ngạch xuất khẩu nhỏ bé (26,77 triệu USD).
  4. Đề xuất hệ thống giải pháp chính sách mang tính khả thi cao giai đoạn 2021–2025, định hướng 2030, tập trung vào đòn bẩy tích tụ đất đai, hỗ trợ tín dụng công nghệ chế biến và chuẩn hóa quy trình sinh thái VietGAP, GAHP.
  5. Mở ra hướng nghiên cứu liên ngành giữa Quản lý kinh tế học, Kinh tế phát triển và Khoa học chính sách công nông nghiệp trong kỷ nguyên hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng.