Luận án tiến sĩ: Vai trò vốn con người đến quy mô kinh tế tỉnh, thành Việt Nam - Lê Trung Kiên, ĐH Kinh tế TP. HCM

Phân tích vai trò vốn con người trong kinh tế thông qua ứng dụng thống kê không gian. Tìm hiểu ảnh hưởng nhân lực đến phát triển kinh tế ở các quy mô khác nhau.

Chuyên ngành

Thống kê

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

227
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về vốn con người và quy mô kinh tế

Vốn con người là yếu tố then chốt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế bền vững. Khái niệm này bao gồm kiến thức, kỹ năng, sức khỏe và năng lực sáng tạo của lực lượng lao động. Nghiên cứu của Lê Trung Kiên (2021) tại Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh đã phân tích mối quan hệ giữa vốn con người và quy mô kinh tế các tỉnh, thành Việt Nam. Quy mô kinh tế được đo lường thông qua Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP). Các mô hình tăng trưởng kinh tế như Lucas (1988) và Mankiw – Romer – Weil (1992) đã khẳng định vai trò quan trọng của vốn con người. Tại Việt Nam, việc đo lường vốn con người được thực hiện qua nhiều góc độ khác nhau. Góc độ giáo dục sử dụng số năm học bình quân, tỷ lệ lao động qua đào tạo. Góc độ sức khỏe xem xét các chỉ số y tế cơ bản. Góc độ chi phí đầu tư tính toán chi tiêu công cho giáo dục và y tế. Mỗi cách tiếp cận đều có ưu nhược điểm riêng trong việc phản ánh chất lượng nguồn nhân lực địa phương.

1.1. Khái niệm vốn con người trong lý thuyết kinh tế

Vốn con người được định nghĩa là tổng hợp kiến thức, kỹ năng, sức khỏe và khả năng sáng tạo của con người. Khái niệm này được hình thành từ công trình của Schultz (1961) và Becker (1964). Theo lý thuyết tăng trưởng nội sinh, vốn con người là động lực chính thúc đẩy tiến bộ công nghệ và năng suất lao động. Mô hình Lucas (1988) đã tích hợp vốn con người vào hàm sản xuất, cho thấy hiệu ứng lan tỏa tích cực giữa các vùng. Đầu tư vào giáo dục và đào tạo tạo ra lợi nhuận kép cho cá nhân và xã hội. Tại Việt Nam, vốn con người được đo lường qua nhiều tiêu chí khác nhau tùy theo mục đích nghiên cứu cụ thể.

1.2. Đo lường quy mô kinh tế cấp tỉnh tại Việt Nam

Quy mô kinh tế cấp tỉnh được đo lường chủ yếu thông qua chỉ tiêu GRDP. Tổng cục Thống kê công bố dữ liệu GRDP hàng năm cho 63 tỉnh, thành phố. Chỉ tiêu này phản ánh tổng giá trị hàng hóa và dịch vụ sản xuất trên địa bàn. GRDP được tính theo giá hiện hành và giá so sánh để đánh giá tăng trưởng thực. Sự chênh lệch GRDP giữa các vùng miền phản ánh bất bình đẳng phát triển kinh tế. Đông Nam Bộ và đồng bằng sông Cửu Long có mức GRDP khác biệt rõ rệt. Việc phân tích mối quan hệ giữa vốn con người và GRDP giúp hiểu rõ hơn về động lực tăng trưởng địa phương. Dữ liệu từ Tổng cục Thống kê và Bộ Lao động Thương binh và Xã hội thường được sử dụng làm nguồn chính.

II. Phân tích vấn đề bất bình đẳng kinh tế vùng miền

Bất bình đẳng kinh tế giữa các tỉnh, thành Việt Nam là vấn đề cấp thiết cần giải quyết. Khoảng cách phát triển giữa vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Hồng với các vùng núi, Tây Nguyên vẫn rất lớn. GRDP bình quân đầu người tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội cao gấp nhiều lần so với các tỉnh miền núi phía Bắc. Nguyên nhân của sự chênh lệch này liên quan đến nhiều yếu tố cấu trúc. Hạ tầng giao thông, vị trí địa lý, chính sách đầu tư và đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng. Các nghiên cứu trước đây thường phân tích ảnh hưởng của vốn con người đến kinh tế từng vùng riêng biệt. Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng truyền thống bỏ qua mối liên kết không gian giữa các địa phương liền kề. Hiện tượng tương quan không gian khiến kết quả ước lượng có thể bị sai lệch nếu không được xử lý đúng cách. Đây chính là khoảng trống nghiên cứu mà luận án của Lê Trung Kiên (2021) muốn lấp đầy.

2.1. Hạn chế của phương pháp phân tích truyền thống

Phương pháp hồi quy dữ liệu bảng truyền thống thường giả định các tỉnh hoạt động độc lập. Giả định này bỏ qua mối liên kết kinh tế giữa các địa phương liền kề. Thực tế, hoạt động kinh tế của một tỉnh chịu ảnh hưởng từ các tỉnh lân cận. Hiệu ứng lan tỏa xảy ra qua nhiều kênh như thương mại, lao động di cư, chuyển giao công nghệ. OLS và các phương pháp hồi quy thông thường không kiểm soát được hiện tượng tương quan không gian. Kết quả ước lượng có thể bị sai lệch nghiêm trọng khi bỏ qua phụ thuộc không gian. Hệ số hồi quy có thể bị đánh giá quá cao hoặc quá thấp. Điều này dẫn đến kết luận chính sách không chính xác và kém hiệu quả.

2.2. Thực trạng vốn con người tại các địa phương Việt Nam

Chất lượng vốn con người giữa các vùng miền Việt Nam có sự chênh lệch đáng kể. Số năm học bình quân của lao động tại thành thị cao hơn nông thôn rõ rệt. Tỷ lệ lao động qua đào tạo tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn như TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội. Các tỉnh miền núi phía Bắc và Tây Nguyên có nguồn nhân lực chất lượng thấp hơn. Chi tiêu công cho giáo dục và y tế cũng phân bố không đồng đều giữa các vùng. Nhiều địa phương thiếu cơ sở đào tạo nghề đạt chuẩn. Chất lượng giáo dục đại học và đào tạo nghề chưa đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Sự bất đồng bộ này tạo ra khoảng cách phát triển kinh tế ngày càng lớn giữa các vùng miền.

III. Phương pháp thống kê không gian trong phân tích kinh tế

Thống kê không gian là phương pháp phân tích hiện đại có khả năng xử lý dữ liệu có yếu tố địa lý. Phương pháp này xem xét mối quan hệ giữa các đơn vị quan sát dựa trên vị trí địa lý của chúng. Trong nghiên cứu về vốn con người và quy mô kinh tế, thống kê không gian giúp phát hiện các mẫu hình phân bố không gian. Ma trận trọng số không gian được xây dựng để định lượng mức độ liên kết giữa các tỉnh. Trọng số có thể dựa trên khoảng cách địa lý, đường biên giới chung hoặc mức độ kinh tế tương đồng. Kiểm định Moran's I toàn phần xác định liệu có tồn tại tương quan không gian tổng thể hay không. Moran's I địa phương phát hiện các cụm nóng và lạnh trong phân bố kinh tế. Mô hình hồi quy không gian SAR, SEM và SDM được sử dụng để ước lượng ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp. Phương pháp này giúp đánh giá chính xác hơn vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế địa phương.

3.1. Kiểm định tương quan không gian và mô hình hồi quy

Kiểm định Moran's I là bước đầu tiên trong phân tích dữ liệu không gian. Moran's I toàn phần kiểm tra giả thuyết không về sự ngẫu nhiên không gian. Giá trị Moran's I dương cho thấy xu hướng tập trung không gian của biến nghiên cứu. Moran's I âm chỉ ra sự phân tán giữa các vùng. Moran's I địa phương (LISA) giúp xác định cụm địa phương có tương quan cao. Mô hình SAR (Spatial Autoregressive) xem xét phụ thuộc không gian của biến phụ thuộc. Mô hình SEM (Spatial Error Model) xử lý tương quan không gian trong phần dư. Mô hình SDM (Spatial Durbin Model) kết hợp cả hai loại tương quan không gian. Việc lựa chọn mô hình phù hợp dựa trên các tiêu chí thông tin AIC, BIC và kiểm định LR.

3.2. Xây dựng mô hình thực nghiệm cho nghiên cứu

Mô hình thực nghiệm dựa trên hàm sản xuất Cobb – Douglas mở rộng của Mankiw – Romer – Weil (1992). Biến phụ thuộc là GRDP bình quân đầu người theo giá so sánh. Biến giải thích bao gồm các yếu tố đo lường vốn con người như số năm học bình quân, tỷ lệ lao động qua đào tạo. Các biến kiểm soát gồm vốn vật chất, lao động, đầu tư công và mức độ đô thị hóa. Dữ liệu bảng từ 63 tỉnh, thành giai đoạn 2010-2019 được sử dụng. Ma trận trọng số không gian kiểu Queen được xây dựng dựa trên đường biên giới chung. Kiểm định đa cộng tuyến VIF được thực hiện trước khi ước lượng. Mô hình FEM và REM được so sánh bằng kiểm định Hausman. Ước lượng GMM được áp dụng để xử lý vấn đề nội sinh trong dữ liệu bảng.

IV. Kết luận và ứng dụng chính sách phát triển nguồn nhân lực

Nghiên cứu ứng dụng thống kê không gian đã chứng minh mối quan hệ tích cực giữa vốn con người và quy mô kinh tế. Kết quả ước lượng cho thấy số năm học bình quân và tỷ lệ lao động qua đào tạo có ảnh hưởng đáng kể đến GRDP. Hiện tượng tương quan không gian được phát hiện rõ ràng giữa các tỉnh liền kề. Hiệu ứng lan tỏa không gian cho thấy đầu tư vào vốn con người tại một tỉnh có lợi cho cả vùng lân cận. Phát hiện này có ý nghĩa quan trọng đối với hoạch định chính sách phát triển nguồn nhân lực. Chính sách liên kết vùng trong đào tạo và phát triển nhân lực cần được ưu tiên thực hiện. Chi tiêu công cho giáo dục và y tế cần được phân bổ hiệu quả hơn giữa các vùng miền. Chất lượng đào tạo nghề cần được nâng cao để đáp ứng nhu cầu thị trường lao động. Liên kết giữa cơ sở đào tạo và doanh nghiệp cần được tăng cường. Chính sách thu hút nhân lực chất lượng cao về các tỉnh khó khăn cần có cơ chế hỗ trợ phù hợp.

4.1. Hàm ý chính sách liên kết vùng phát triển nhân lực

Hiệu ứng lan tỏa không gian trong nghiên cứu cho thấy lợi ích của hợp tác liên tỉnh trong phát triển nhân lực. Các tỉnh cần xây dựng chương trình đào tạo nghề liên vùng để tối ưu hóa nguồn lực. Chia sẻ cơ sở vật chất đào tạo giữa các địa phương giúp giảm chi phí và nâng cao chất lượng. Chính sách luân chuyển giảng viên, chuyên gia giữa các vùng giúp cân bằng chất lượng đào tạo. Quỹ phát triển nhân lực liên vùng cần được thành lập để hỗ trợ các tỉnh khó khăn. Xây dựng hệ thống thông tin thị trường lao động liên tỉnh giúp người lao động tiếp cận cơ hội việc làm tốt hơn. Mô hình cụm đào tạo nghề theo ngành thế mạnh của từng vùng cần được phát triển.

4.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả chi tiêu công cho giáo dục và y tế

Chi tiêu công cho giáo dục và y tế cần được phân bổ dựa trên hiệu quả kinh tế-xã hội. Nghiên cứu cho thấy đầu tư vào giáo dục có tỷ suất lợi nhuận cao đối với tăng trưởng GRDP. Ngân sách giáo dục cần ưu tiên đào tạo nghề và nâng cao kỹ năng thực hành cho lao động. Hệ thống đánh giá hiệu quả chi tiêu giáo dục cần được hoàn thiện và áp dụng rộng rãi. Đầu tư vào y tế cơ sở giúp nâng cao sức khỏe lao động, giảm chi phí xã hội. Chính sách học bổng và hỗ trợ tài chính cần hướng đến vùng khó khăn nhiều hơn. Mô hình hợp tác công-tư trong đào tạo nghề giúp huy động nguồn lực xã hội. Số hóa giáo dục và đào tạo trực tuyến giúp mở rộng cơ hội tiếp cận tại vùng sâu vùng xa.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

22/04/2026
Luận án tiến sĩ nghiên cứu ứng dụng thống kê không gian phân tích vai trò của vốn con người đối với quy mô kinh tế

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 đưa ra những lý do tác giả luận án lựa chọn vấn đề nghiên cứu. Từ mục tiêu nghiên cứu chung, tác giả luận án đưa ra từng mục tiêu cụ thể cần đạt được trong nghiên cứu. Chương này còn trình bày các nội dung gồm đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa khoa học và thực tiễn, những đóng góp nghiên cứu mang lại. Cấu trúc từng chương trong luận án được giới thiệu ở cuối chương này.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI Về mặt lý thuyết, lao động (L), công nghệ (A), vốn (K) là 3 yếu tố cơ bản trong mô hình tăng trưởng.

Trong các nguồn vốn, thì vốn con người (Human capital) cũng có vai trò quan trọng thúc đẩy tăng trưởng. Vốn con người được khái niệm là một nguồn vốn vô hình gắn với con người và thể hiện qua kết quả làm việc trong quá trình sản xuất (Bùi Quang Bình, 2009). Vốn con người được hình thành trên cơ sở đào tạo chính quy hay sức khỏe của một cá nhân. Vốn con người tác động lên tăng trưởng kinh tế hay quy mô kinh tế thông qua nâng cao năng suất và hoạt động đổi mới sáng tạo của con người.

Dựa trên lao động có tay nghề, vốn con người làm tăng hiệu quả sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ hoạt động đổi mới, sáng tạo, vốn con người làm thay đổi, phát triển công nghệ, nâng cao sản lượng và chất lượng sản phẩm. Vốn con người và tăng trưởng kinh tế từ lâu đã được nhiều nhà kinh tế học chứng minh có quan hệ chặt chẽ với nhau. Mô hình Solow – Swan (1956) đã chỉ ra, lao động là yếu tố quan trọng ảnh hưởng, làm cho kinh tế tăng trưởng.

Tiến bộ khoa học và kỹ thuật cũng được các tác giả xem là một yếu tố thúc đẩy tăng trưởng trong dài hạn ở mô hình này. Bởi lẻ, trong điều kiện lao động (L) không thay đổi, yếu tố công nghệ (A) sẽ càng làm tăng sản lượng đầu ra so với trước đó. Schultz (1961) đã nỗ lực đưa vốn con người vào mô hình tăng trưởng nhằm khắc phục những hạn chế của mô hình Solow – Swan (1956), đồng thời cũng chỉ ra, vốn con người càng cao sẽ làm cho năng suất lao động ở mỗi quốc gia càng được tăng lên. Lucas (1988) đưa ra bằng chứng về mối quan hệ thuận chiều giữa vốn con người và tăng trưởng, nghĩa là cải thiện vốn con người góp phần cải thiện kinh tế của quốc gia hay địa phương.

Khắc phục những hạn chế trong mô hình Solow – Swan (1956), trong lý thuyết tăng trưởng của mình, Romer (1990) đã chỉ ra giáo dục hình thành nên vốn con người và theo thời gian vốn con người càng được tích lũy. Chính từ những ưu điểm của vốn con người, Mankiw et al (1992) đã đề xuất đưa thêm biến vốn con người vào mô hình tăng trưởng Solow - Swan (1956) và chỉ ra tăng trưởng ở các quốc gia sẽ được phản ánh thực tế hơn nếu bổ sung thêm sự tác động của yếu tố này. Theo Nelson & Phelps (1996), tăng trưởng ở mỗi quốc gia sẽ chịu tác động của các công nghệ mới từ nước ngoài và mức độ tác động mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào sự tiếp nhận của quốc gia đó nhanh hay chậm. Nhiều tác giả trong và ngoài nước đã nhìn nhận được vai trò của vốn con người đối với tăng trưởng kinh tế hay quy mô kinh tế của một quốc gia hay khu vực.

Các nghiên cứu trước đây cũng cho rằng, một khi vốn con người được tích lũy sẽ làm gia tăng yếu tố đầu vào, nghĩa là tăng thêm nguồn vốn, từ đó làm quy mô kinh tế gia tăng. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau trong việc việc xem xét đưa biến số đo lường vốn con người vào mô hình nghiên cứu thực nghiệm. Điều này xuất phát từ việc xem xét tác động vốn con người lên quy mô kinh tế theo nhiều cách khác nhau. Mặt khác, do vốn con người được đo lường một cách gián tiếp và do hạn chế về mặt dữ liệu nên các tác giả sẽ xem xét lựa chọn yếu tố đo lường vốn con người nào phù hợp với mục tiêu nghiên cứu.

Trong những năm gần đây, nhiều nghiên cứu thực nghiệm đã chứng minh được vai trò của vốn con người đến tăng trưởng kinh tế hay quy mô kinh tế. Sử dụng hồi quy chuỗi thời gian, các tác giả Qadri & Waheed (2011), Kanayo (2013), Afridi (2016) đã chỉ ra được, các yếu tố đo lường vốn con người tác động tích cực đến GDP bình quân đầu người ở Pakistan hay tốc độ tăng trưởng GDP ở Nigeria. Ước lượng hồi quy dữ liệu bảng, các nghiên cứu của Ferda (2011), Ada & Acaroglu (2014), Pelinescu (2015) đã tìm thấy, tăng biến đo lường vốn con người sẽ làm tăng GDP bình quân đầu người của các quốc gia OECD, Trung Đông và Bắc Phi hay các quốc gia Châu Âu. Các nghiên cứu của Zhang & Zhuang (2011), Su & Liu (2016), Li và Wang (2016) chỉ ra, vốn con người ảnh hưởng cùng chiều với GDP bình quân đầu người của các tỉnh, thành Trung Quốc trong từng giai đoạn cụ thể.

Lima & Silveira Neto (2015) sử dụng hồi quy không gian dạng mô hình không gian Durbin (SDM) dữ liệu bảng, đã chứng tỏ số năm đi học của dân số từ 25 tuổi trở lên tác động lan tỏa không gian đến tăng trưởng thu nhập bình quân đầu người của 522 khu vực của Brazil giai đoạn 1970 – 2010. Sử dụng mô hình tự hồi quy không gian (SAR), Baudino (2016) đã cho thấy trung bình số năm đi học của lao động không những tác động tích cực đến GDP bình quân lao động của địa phương xem xét mà còn ảnh hưởng tích cực đến GDP bình quân trên lao động của địa phương tiếp giáp ở quốc gia Trung Quốc giai đoạn 1995 – 2013. Tại Việt Nam, nghiên cứu về các yếu tố vốn con người ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế hay quy mô kinh tế cũng được nhiều tác giả quan tâm. Ở cấp độ quốc gia, Nguyễn Thị Đông và Lê Thị Kim Huệ (2019) ước lượng hồi quy chuỗi thời gian đã chứng minh, tỷ lệ lao động qua đào tạo tác động tích cực đến GDP giai đoạn 1996 – 2017.

Ở cấp độ các tỉnh, thành trong khu vực, sử dụng hồi quy dữ liệu bảng, nhóm tác giả Hạ Thị Thiều Dao và Nguyễn Đăng Khoa (2014) đã chỉ ra, số năm đi học bình quân của lực lượng lao động ảnh hưởng tích cực đến GRDP các địa phương khu vực Duyên Hải Nam Trung Bộ. Điều này cũng được các tác giả Phạm Đình Long và Lương Thị Mai Nhân (2018) khẳng định trong các nghiên cứu của mình. Hơn nữa, Đinh Phi Hổ và Từ Đức Hoàng (2016) còn tìm thấy, chi tiêu công cho giáo dục và chi tiêu công cho y tế tác động cùng chiều đến GRDP các địa phương. Kết quả này cũng được khẳng định có ý nghĩa thống kê trong nghiên cứu của Phạm Đình Long và Lương Thị Mai Nhân (2018) khi nghiên cứu tại các địa phương khu vực Miền Trung.

Ở cấp độ các tỉnh, thành quy mô cả nước, nghiên cứu của Trần Thọ Đạt (2011) đã chỉ ra, tỷ lệ lao động theo các trình độ, số năm học bình quân ảnh hưởng cùng chiều đến GRDP của 61 tỉnh, thành phố Việt Nam trong khoảng thời gian 2000 – 2007. Phan Thị Bích Nguyệt và cộng sự (2018) cũng chứng tỏ, tăng tỷ lệ lao động đang làm việc đã qua đào tạo ở cấp độ cao đẳng (CĐ), đại học (ĐH) sẽ làm tăng GRDP bình quân đầu người của các tỉnh, thành Việt Nam. Rõ ràng, quan hệ cùng chiều giữa vốn con người và quy mô kinh tế đã được chỉ ra ở các nghiên cứu trước đây. Mặc dù có sự khác nhau về kết quả ước lượng, nhưng phần lớn các tác giả đều khẳng định vai trò quan trọng của vốn con người đối với quy mô kinh tế.

Do vốn con người được đo lường gián tiếp, nên các thước đo vốn con người được xem xét đo lường thông qua giáo dục chính quy, chi phí và sức khỏe. Qua lượt khảo các nghiên cứu liên quan cho thấy, tại Việt Nam có rất ít các nghiên cứu tiếp cận vốn con người theo góc độ sức khỏe. Ngoài ra, cũng tìm thấy một số ít tài liệu ngoài nước sử dụng thống kê không gian để nghiên cứu vấn đề này. Thời gian gần đây, tại Việt Nam, ứng dụng kinh tế lượng không gian được tìm thấy trong các nghiên cứu của các tác giả như Nguyễn Khắc Minh và Phạm Minh Tuấn (2015), Đào Thị Bích Thủy (2016), Trần Thị Tuấn Anh (2017), Nguyễn Lưu Bảo Đoan và Lê Văn Thắng (2017), Trần Thị Tuấn Anh và Nguyễn Văn Thắng (2019), Võ Xuân Vinh và cộng sự (2020).

Kết quả của các nghiên cứu đã chỉ ra được tương quan không gian cùng chiều của GRDP hay FDI giữa các địa phương với nhau. Trong điều kiện phù hợp, việc không đưa tác động không gian vào trong nghiên cứu sẽ khiến cho kết quả nghiên cứu bị lệch và không phù hợp. Do đó, phân tích tương quan không gian và lan tỏa không gian của các yếu tố đo lường vốn con người đến GRDP các địa phương Việt Nam là cần thiết. Kinh tế Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực khi tăng trưởng dần phục hồi, kinh tế vĩ mô cơ bản ổn định, niềm tin của nhà đầu tư được củng cố.

Theo Tổng cục Thống kê 2018, GDP năm 2017 cao hơn nhiều so với các năm từ 2011-2016. Trong đó, 3 năm 2012-2014, GDP đều dưới 6% (5,25%; 5,42% và 5,9%) và 3 năm còn lại, 2011 (6,24%), 2015 (6,68%), 2016 (6,21%) đều dưới 6,7%. Việt Nam là nước có quy mô dân số lớn, tính đến hết năm 2017, dân số nước ta đạt 96,02 triệu người, trong đó nữ chiếm khoảng 48,94%. Chính phủ luôn quan tâm và tăng cường các nguồn lực để đầu tư vào vốn con người, trong đó lĩnh vực như y tế, giáo dục được quan tâm đầu tư nhằm nâng cao sức khỏe, trình độ tay nghề cho người lao động.

Tỷ trọng chi tiêu công trong hai lĩnh vực này hằng năm đều tăng (Báo cáo Tổng cục Thống kê, 2018). Tuy nhiên, tỷ lệ chi tiêu công cho y tế trong tổng chi tiêu công giữa các tỉnh, thành phố vẫn còn chênh lệch, đầu tư trong lĩnh vực y tế của một số tỉnh, thành thiếu đồng bộ, chưa quan tâm đúng mức cho đầu tư tuyến cơ sở, dẫn đến tình trạng quá tải ở bệnh viện tuyến trên. Chi tiêu công cho giáo dục cũng còn nhiều hạn chế, tỷ lệ chi tiêu công cho từng cấp học còn bất cập, việc phân bổ đầu tư còn bất hợp lý theo vùng, địa phương.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ