Chương 1 TỔNG QUAN VỀ VÙNG NGHIÊN CỨU 1.1 - VỊ TRÍ ĐỊA LÝ Kiên Giang là một tỉnh ven biển thuộc đồng bằng sông Cửu Long. Trung tâm tỉnh là thành phố Rạch Giá, cách thành phố Hồ Chí Minh 250 km về phía Tây. Phần đất liền giới hạn trong khung tọa tọa độ từ 9°23'50- 10°32'30 vĩ Bắc và từ 104°26'40 - 105°32'40 kinh Đông (Hình 1.1 - Sơ đồ vị trí vùng nghiên cứu Phía Bắc giáp Campuchia, đường biên giới dài 56,8 km, phía Nam giáp tỉnh Bạc Liêu và tỉnh Cà Mau, phía Tây giáp vịnh Thái Lan với đường bờ biển dài 200 km, phía Đông lần lượt tiếp giáp với các tỉnh là An Giang, thành phố Cần Thơ và tỉnh Hậu Giang.2 - ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN 1.1 - Địa hình Kiên Giang có đủ các dạng địa hình từ đồng bằng, núi rừng và biển đảo. Phần đất liền có địa hình tương đối bằng phẳng, thấp dần từ đông bắc xuống tây nam và có 2 dạng địa hình chính: đồng bằng thấp và đồi núi sót.1 - Dạng địa hình đồng bằng thấp Trong vùng có các kiểu đồng bằng phổ biến sau: Địa hình đồng bằng tích tụ - xâm thực: Dạng địa hình có diện phân bố nhỏ tạo thành các dải hẹp ven chân núi ở Kiên Giang.
Bề mặt địa hình phát triển trầm tích a,amQ13. Đất đá trên mặt chủ yếu sét, sét cát và sét các trầm nhiều nơi bị phong hóa laterit. Bề mặt địa hình dốc thoải, độ cao trung bình 5 - 10m, thường phát triển cây tạp và thân mộc. Hiên đang được sử dụng cho mục đích trồng cây ăn trái và lúa.
Quá trình ngoại sinh chủ yếu là rửa trôi bề mặt, xâm thực yếu tạo thành những mương rãnh hẹp. Địa hình tích tụ - đầm lầy: địa hình chiếm trên 90% diện tích vùng nghiên cứu. Bề mặt địa hình phát triển chủ yếu các trầm tích đa nguồn gốc tuổi Holocen a, am, b, bm Q2. Thành phần đất đá lộ trên mặt chủ yếu là sét, bùn sét, bùn cát màu xám, đen nhạt lẫn nhiều xác và mùn thực vật hoặc nâu vàng loang lổ (ven sông).
Bề mặt địa hình khá bằng phẳng, độ cao thay đổi từ 0,5 - 5m. Quá trình ngoại sinh chủ yếu là tích tụ và xâm thực ở ven các dòng chảy. Thực vật phát triển chủ yếu là cây bụi, năng, lác, bàng, bần, đước, tràm… phần lớn diện tích này được sử dụng trồng lúa và cây ăn trái (các cù lao giữa sông). Trong phạm vi phân bố địa hình này, bề mặt bị chia cắt bởi nhiều kênh rạch và sông ngòi chảy qua.
Bãi bồi ven biển: Địa hình này chỉ chiếm diện tích rất nhỏ ven biển Kiên Giang. Trên mặt phát triển trầm tích m, amQ2. Địa hình khá dốc, độ cao thay đổi <0,5m, quá trình ngoại sinh chủ yếu là tích tụ và xâm thực do sóng biển. Thành phấn đất đá chủ yếu là các mịn, cát bụi, cát lẫn bùn sét màu xám đen.
Thực vật ít phát triển chủ yếu là đước và các loại cây bụi nước lợ.2 - Dạng địa hình đồi núi sót Hệ thống núi sót ven biển ở Kiên Giang tập trung ở huyện Hòn Đất, huyện Kiên Lương và thị xã Hà Tiên, độ cao trung bình dưới 200m. Xét về cấu tạo địa chất, có thể chia thành ba loại: - Núi đá granit: núi Hòn Đất, núi Hòn Me, núi Hòn Sóc. - Núi đá vôi: núi Chùa Hang, núi Bình Trị, núi Hang Tiền, núi Khoe Lá, núi Ngang, núi Trà Đuốc, núi Mây, núi Mo So. - Núi đá phiến xen núi đá macma phun trào: núi Bãi Ớt, núi Ông Cọp, núi Xoa Ảo, núi Nhọn, núi Tô Châu, núi Bình San, núi Pháo Đài, núi Đá Dựng.
Đặc biệt dọc bờ biển từ Hà Tiên đến Hòn Chông có các chỏm núi đá vôi với nhiều hang động karst có nhiều cảnh quan kỳ thú.1 - Thủy văn Mạng lưới sông, rạch, kênh, mương phát triển rất mạnh. Sông Giang Thành bắt nguồn từ Campuchia chảy qua Hà Tiên và đổ ra biển. Hệ thống kênh rạch nhỏ khác như Mây Còn, Khoe Lá… chảy uốn lượn quanh chân núi hoặc trong các đồng bằng, thoát ra sông lớn và đổ ra biển. 5 Một số kênh rạch thuộc tỉnh Kiên Giang lớn đáng chú ý trong vùng: Kênh Thoại Hà do ông Nguyễn Văn Thoại được vua Gia Long giáng chỉ cho đào vào mùa Xuân năm Mậu Dần (1818).
Kênh đào theo lạch nước cũ, nối rạch Long Xuyên tại Vĩnh Trạch kéo dài theo hướng Tây Nam, ngang qua chân núi Sập, tiếp với sông Kiên Giang, đổ nước ra biển Tây tại cửa Rạch Giá.410 tầm, rộng 20 tầm, ghe xuồng qua lại thuận lợi. Sau hơn 1 tháng đào xong, vua Gia Long khen và đặt tên kênh là Thoại Hà và ban tên núi Sập là Thoại Sơn, để biểu dương công trạng của quan trấn thủ Nguyễn Văn Thoại. Kênh Vĩnh Tế bắt đầu đào vào ngày rằm tháng Chạp năm Kỹ Mão (1819) cũng do Nguyễn Văn Thoại chỉ huy. Kênh đào song song với đường biên giới Việt Nam- Campuchia, bắt đầu từ bờ Tây sông Châu Đốc thẳng nối giáp với sông Giang Thành (Hà Tiên - Kiên Giang).
Kênh đào trong 5 năm với hơn 80.000 dân binh, đào đắp với hàng triệu mét khối đất. Tổng chiều dài của kênh là 205 dặm rưỡi (91km), rộng 7 trượng 5 thước (25m) và sâu 6 thước (3m). Nói về lợi ích của kênh Vĩnh Tế, Đại Nam nhất thống chí viết: “Từ đấy đường sông thông, việc biên phòng và việc buôn bán đều được hưởng mối lợi vô cùng”. Ngoài ra còn có 3 con sông chảy qua: Sông Cái Lớn (60 km), sông Cái Bé (70 km) và sông Giang Thành (27,5 km) và hệ thống kênh rạch chủ yếu để tiêu nước về mùa lũ và giao thông đi lại, đồng thời có tác dụng tưới nước vào mùa khô.
Tóm lại, Kiên Giang có nguồn nước mặt khá dồi dào, nhưng đến mùa mưa (từ tháng 5 đến tháng 10) phần lớn nước mặt ở Tứ giác Long Xuyên đều bị nhiễm phèn mặn, do vị trí ở cuối nguồn nước ngọt của nhánh sông Hậu, nhưng lại ở đầu nguồn nước mặn của vịnh Rạch Giá.2 - Địa hình và hệ thống sông ngòi 6 1.2 - Khí hậu Đây là vùng có khí hậu ôn hòa, nóng ẩm quanh năm. Có 2 mùa rõ rệt: mùa mưa kéo dài từ tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô kéo dài từ tháng 12 đến tháng 4 năm sau. Một số đặc điểm yếu tố khí hậu như sau: Mây: Lượng mây toàn vùng tương đối ít. Trong mùa khô, có khi trời có mây nhưng vẫn nắng.
Trong mùa mưa, lượng mây thường nhiều hơn. Nắng: toàn vùng có mùa nắng chói chang, trở thành địa phương có số giờ nắng trong năm lớn kỷ lục của cả nước. Bình quân mùa khô có tới 10 giờ nắng/ngày ; mùa mưa tuy ít hơn nhưng cũng còn tới gần 7 giờ nắng/ngày. Tổng tích ôn cả năm lên trên 2.
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình toàn vùng không những cao mà còn rất ổn định. Chênh lệch nhiệt độ giữa các tháng trong mùa khô chỉ hơn kém nhau khoảng 1,5° đến 3° ; còn trong các tháng mùa mưa chỉ vào khoảng trên dưới 1°. Nhiệt độ cao nhất năm thường xuất hiện vào tháng 4, dao động trong khoảng 36°- 38° ; nhiệt độ thấp nhất năm thường xuất hiện vào tháng 10 dưới 18° (năm 1976 và 1998). Gió: mùa khô gió thịnh hành là Đông Bắc, còn mùa mưa là gió Tây Nam - gió Tây Nam là gió có tần suất xuất hiện lớn nhất.
Tốc độ gió ở đây tương đối mạnh, trung bình đạt tới trên 3m/giây. Trong năm, tốc độ gió mùa hè lớn hơn mùa Đông. Ngoài vùng ven biển Kiên Giang, phần lớn diện tích còn lại nằm sâu trong đất liền Nam Bộ nên ít chịu ảnh hưởng gió bão. Mưa: mùa mưa thường bắt đầu vào tháng 5 và kết thúc vào tháng 11.
Tổng lượng mưa mùa mưa chiếm 90% tổng lượng mưa năm. Lượng mưa mùa mưa lớn lại trùng vào mùa nước lũ của sông Mê Kông dồn về hạ lưu nên đã gây ra tình trạng úng tổ hợp với ngập lụt, chi phối đến nhiều hoạt động sản xuất và đời sống. Bốc hơi: trong mùa khô do nắng nhiều, độ ẩm không khí thấp nên lượng bốc hơi lớn, bình quân 110mm/tháng (vào tháng 3 có tới 160mm). Trong mùa mưa , lượng bốc hơi thấp hơn, bình quân 85mm/tháng , nhỏ nhất khoảng 52mm/tháng xuất hiện vào tháng 9 hoặc tháng 10, là thời kỳ có mưa nhiều, độ ẩm cao.
Độ ẩm: mùa có độ ẩm thấp (nhỏ hơn 80%) thường bắt đầu từ tháng 12 và kéo dài đến tháng 4 năm sau. Nghĩa là mùa có độ ẩm thấp trùng với mùa khô. Mùa khô độ ẩm ở thời kì đầu là 82%, giữa 78%, và cuối còn 72%. Mùa mưa ở đây thật sự là một mùa ẩm ướt.
Độ ẩm trung bình trong những tháng mùa mưa đều 84%, cá biệt có tháng đạt xấp xỉ 90%. Ngoài các yếu tố khí tượng nói trên, trong vùng còn có các hiện tượng thời tiết cần lưu ý như: lốc xoáy, vòi rồng, mưa đá, hạn Bà Chằn, ảnh hưởng của Elnino và Lanina.3 - Đặc điểm thổ nhưỡng Đất đai ở Kiên Giang phù hợp cho việc phát triển nông lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, với tổng diện tích đất tự nhiên là 634.627,21ha, trong đó: nhóm đất 7 nông nghiệp: 575.697,49ha, chiếm 90,71% đất tự nhiên (riêng đất lúa 354.011,93ha, chiếm 61,49% đất nông nghiệp); nhóm đất phi nông nghiệp: 53.238,38ha, chiếm 8,39% diện tích tự nhiên; nhóm đất chưa sử dụng: 5.691,34ha, chiếm 0,90% diện tích tự nhiên; đất có mặt nước ven biển: 13.4 - Đặc điểm rừng Kiên Giang là một trong hai tỉnh có diện tích rừng lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long. Tổng diện tích đất lâm nghiệp năm 2011 là 91.288,87 ha, trong đó rừng sản xuất: 22.675,07 ha, rừng phòng hộ: 28.886,42 ha và rừng đặc dụng 39. Rừng Kiên Giang có trên 140 loại động vật rừng quý hiếm, có giá trị bảo tồn và tham quan du lịch… 1.3 - ĐẶC ĐIỂM KINH TẾ - XÃ HỘI VÀ GIAO THÔNG 1.1 - Dân cư Tính đến năm 2011, dân số toàn tỉnh Kiên Giang đạt gần 1.100 người, mật độ dân số đạt 270 người/km².
Trong đó tại thành thị đạt gần 466.100 người, tại nông thôn đạt 1. Kiên Giang là địa bàn cư trú của hơn 15 dân tộc khác nhau. Trong đó, dân tộc Kinh chiếm khoảng 85,5%, dân tộc Khmer chiếm khoảng 12,2%, dân tộc Hoa chiếm khoảng 2,2%, còn lại là một số dân tộc khác như: Chăm, Tày, Mường, Nùng.2 - Kinh tế Tốc độ phát triển kinh tế của tỉnh Kiên Giang được xếp vào hàng thứ 3 trong các tỉnh thuộc đồng bằng sông Cửu Long (sau Hậu Giang và Bạc Liêu). Ngành công nghiệp chủ yếu là khai thác đá vôi và sản xuất xi măng.