Luận án về cấu trúc địa chất trũng sông Ba và vùng Đông Triều Quảng Ninh

Tài liệu nghiên cứu Luận án nghiên cứu một số đặc điểm cấu trúc địa chất trũng sông ba và vùng đông triều quảng ninh, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Trường đại học

Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản

Chuyên ngành

Địa chất học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2018

104
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN ĐẶC ĐIỂM ĐỊA CHẤT TRŨNG SÔNG BA VÀ VÙNG ĐÔNG TRIỀU – QUẢNG NINH

1.1. Tổng quan đặc điểm địa chất trũng Sông Ba

1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất trũng Sông Ba

1.3. Đặc điểm địa chất – kiến tạo

1.3.1. Địa tầng

1.3.1.1. Hệ tầng Mang Yang (T 2my)
1.3.1.2. Hệ tầng Đơn Dương (K 2đd)
1.3.1.3. Hệ tầng Sông Ba (N13sb)
1.3.1.4. Hệ tầng Kon Tum (N1kt)

1.3.2. Magma

1.3.2.1. Phức hệ Đèo Cả (γδ-γξ-γKđc)
1.3.2.2. Phức hệ Vân Canh (γδ-γξ-γT2νc)

Kết luận và kiến nghị

Danh mục công trình đã công bố của tác giả

Tài liệu tham khảo

Tóm tắt

I. Tổng quan đặc điểm địa chất trũng sông Ba và vùng Đông Triều Quảng Ninh

Trũng sông Ba là một khu vực địa chất quan trọng nằm trong hệ thống sông Ba, kéo dài qua nhiều tỉnh miền Trung Việt Nam. Khu vực này có diện tích lưu vực khoảng 13.000 km², bao gồm các thành tạo địa chất đa dạng. Đặc điểm địa chất của trũng sông Ba chủ yếu được hình thành từ các lớp trầm tích Neogen, với sự hiện diện của các loại đá như cuội kết, sạn kết và cát kết. Các nghiên cứu trước đây đã chỉ ra rằng trũng sông Ba có cấu trúc địa chất phức tạp, với nhiều đứt gãy và khối magma. Việc nghiên cứu cấu trúc địa chất tại đây không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử hình thành của khu vực mà còn có ý nghĩa quan trọng trong việc khai thác tài nguyên khoáng sản.

1.1 Vị trí địa lý và lịch sử nghiên cứu

Trũng sông Ba nằm trong hệ thống sông Ba, bắt nguồn từ các dãy núi ở phía đông tỉnh Kon Tum và Gia Lai. Khu vực này đã được nghiên cứu từ những năm cuối thế kỷ 18, với nhiều công trình nghiên cứu quan trọng được thực hiện. Các nghiên cứu này đã chỉ ra rằng trũng sông Ba có sự hiện diện của các thành tạo trầm tích Neogen, với các đặc điểm địa chất đa dạng. Tuy nhiên, việc nghiên cứu cấu trúc địa chất tại đây vẫn còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc xác định tuổi và thành phần của các thành tạo địa chất.

II. Phương pháp nghiên cứu địa chất

Phương pháp địa chấn phản xạ được áp dụng để nghiên cứu cấu trúc địa chất tại trũng sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh. Phương pháp này cho phép phát hiện các lớp địa chất khác nhau thông qua việc phân tích sóng phản xạ. Đặc biệt, nghiên cứu đã chỉ ra rằng phương pháp địa chấn phản xạ sâu và nông có thể được sử dụng hiệu quả trong việc khảo sát các cấu trúc địa chất phức tạp. Việc áp dụng công nghệ ghi số và xử lý dữ liệu địa chấn hiện đại đã giúp nâng cao độ chính xác trong việc xác định các đặc điểm cấu trúc địa chất.

2.1 Ứng dụng công nghệ địa chấn

Công nghệ địa chấn hiện đại đã được áp dụng để thu thập và xử lý dữ liệu địa chấn tại khu vực trũng sông Ba. Việc sử dụng các máy ghi số đa kênh đã giúp cải thiện đáng kể chất lượng dữ liệu thu thập được. Các phương pháp hiệu chỉnh tĩnh cũng đã được áp dụng để xử lý dữ liệu địa chấn phản xạ, giúp xác định chính xác các đặc điểm cấu trúc địa chất. Kết quả nghiên cứu cho thấy phương pháp địa chấn phản xạ là một công cụ hữu ích trong việc khảo sát địa chất, đặc biệt là trong các khu vực có địa hình phức tạp.

III. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã xác định được đáy trầm tích Neogen tại khu vực Krông Pa có chiều sâu lên đến 800m. Điều này không chỉ cung cấp thông tin quan trọng về cấu trúc địa chất của trũng sông Ba mà còn có ý nghĩa lớn trong việc đánh giá tiềm năng khoáng sản tại khu vực này. Phương pháp địa chấn phản xạ đã chứng minh được hiệu quả trong việc phát hiện các đứt gãy và khối magma, cũng như xác định các tầng chứa than và nước ngầm. Những kết quả này sẽ hỗ trợ cho các công tác khảo sát và thiết kế xây dựng công trình trong khu vực.

3.1 Đóng góp cho nghiên cứu địa chất

Nghiên cứu này đã đóng góp quan trọng vào việc hiểu biết về cấu trúc địa chất trũng sông Ba và vùng Đông Triều – Quảng Ninh. Kết quả nghiên cứu không chỉ giúp xác định các đặc điểm địa chất mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu tiếp theo. Việc áp dụng phương pháp địa chấn phản xạ trong nghiên cứu địa chất tại Việt Nam sẽ góp phần nâng cao hiệu quả trong việc điều tra và đánh giá tài nguyên khoáng sản, đặc biệt là trong các khu vực có địa hình phức tạp.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu cho giai đoạn này là công trình đo vẽ bản đồ địa chất miền Nam Việt Nam tỷ lệ 1:500.000 do kỹ sư địa chất Nguyễn Xuân Bao làm chủ biên (1976-1981). Cùng với bản đồ địa chất, các bản đồ khoáng sản, địa mạo, vỏ phong hóa, trọng sa tỷ lệ 1:500.000 cũng đã được thành lập. Đây là công trình nghiên cứu tổng hợp đầu tiên có quy mô lớn nhất Việt Nam do tập thể các Nhà Địa chất giàu kinh nghiệm của nước ta tiến hành một cách khoa học và đồng bộ. Về cấu trúc Địa chất và lịch sử phát triển của chúng đã được các tác giả xác lập với đầy đủ cơ sở khoa học-thực tiễn.

Trong công trình này các thành tạo trầm tích Neogen khu vực Tây Nguyên được mô tả với thành phần gồm: cuội kết, sỏi kết chuyển lên cát kết, cát bột kết sét kết chứa di tích thực vật: Laurus; Dipterocarpus; castanopis sp. có tuổi Miocen muộn. Trong công trình Đo vẽ bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000 nhóm tờ Bến Khế-Đồng Nai (Nguyễn Đức Thắng, 1988), nhóm tờ Kon Tum-Buôn Ma Thuột (Trần Tính, 1994), tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Đà Lạt (Nguyễn Văn Cường, 1995), 9 nhóm tờ Đắc Tô (Nguyễn Quang Lộc, 1998), nhóm tờ Kon Tum (Thân Đức Duyện, 2000), trong đó đã chính xác hóa vị trí, diện lộ và vị trí trong lỗ khoan của các thành tạo trầm tích Neogen Tây Nguyên và thể hiện các trầm tích Neogen trong vùng với thành phần: cuội kết, sỏi kết, cát kết, than nâu chuyển lên cát kết xen bột kết, sét kết chứa nhiều di tích thực vật có tuổi Neogen. Cũng trong giai đoạn này, đã có các công trình nghiên cứu chuyên đề và các xuất bản liên quan đến Neogen Tây Nguyên về cổ sinh-địa tầng.

(1978) xác định sự có mặt của các thành tạo Paleogen- Neogen vùng Di Linh. Nguyễn Địch Dỹ, Nguyễn Xuân Bao, Đỗ Công Dự (1980) từ các kết quả nghiên cứu các thành tạo Neogen Nam Trung bộ và tập hợp bào tử phấn hoa (BTPH) đã đề xuất thang địa tầng trong khu vực. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu các phức hệ cổ thực vật Trịnh Dánh đã xác lập các hệ tâng Sông Ba, hệ tầng Kon Tum. Các tác giả Atlas địa tầng Việt Nam (1982) đã đưa ra sơ đồ liên kết địa tầng các thành tạo Paleogen - Neogen dựa trên phân tích tướng - trầm tích.

Nguyễn Địch Dỹ (1987) đã đưa ra sơ đồ phân chia và đối sánh các thành tạo Kainozoi trên toàn lãnh thổ Việt Nam. Về vi cổ sinh có các công trình nghiên cứu về bào tử phấn hoa của Nguyễn Địch Dỹ…; về Diatomeae của Đào Thị Miên, Đặng Đức Nga,… về Foraminifera của Nguyễn Ngọc,… Ngoài ra, Nguyễn Đức Thái (1988) cũng đã xác lập điệp Cheo Reo có tuổi Miocen (N1 cr) và liên hệ địa tầng trầm tích Neogen khu vực bắc Tây Nguyên. Hiện vẫn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về tuổi hình thành trầm tích Kainozoi đới đứt gãy Sông Ba. Hệ tầng Sông Ba được Trịnh Dánh, Trần Tính, Vũ Khúc, Tống Duy Thanh… xếp vào tuổi Miocen muộn (N13) dựa theo hóa đá thực vật và bào tử phấn hoa.

Năm 1982, các tác giả đề án Atlas địa tầng Việt Nam, phần thấp của hệ tầng Di Linh đã được xếp vào hệ tầng Phú Túc vào tuổi Miocen giữa (N12). Trong “Các phân vị địa tầng Việt Nam” do Tống Duy 10 Thanh, Vũ Khúc (2006) chủ biên, hệ tầng Sông Ba được xếp vào tuổi Oligocen (E3) còn hệ tầng Kon Tum được xếp vào Miocen (N1). Trong “Địa chất và Tài nguyên Việt Nam” năm 2009, Trần Văn Trị và Vũ Khúc đã xác nhận lại tuổi Miocen muộn của hệ tầng Sông Ba (N13 sb) và Pliocen của hệ tầng Kon Tum (N2 kt). Trong đo vẽ bản đồ địa chất, các phân vị địa tầng Đệ Tứ đã được các tác giả phân chia khá chi tiết và xác lập mối quan hệ giữa chúng với các bậc thềm sông trong khu vực.

Tuy nhiên, vẫn còn nhiều tồn tại trong việc phân chia giữa các nhóm tờ khác nhau về khối lượng, tuổi thành tạo. Các thành tạo Đệ Tứ khu vực Tuy Hoà còn được nghiên cứu qua các công trình của Nguyễn Địch Dỹ (1995), Trịnh Nguyên Tính và Vũ Văn Vĩnh (1998), Ngô Quang Toàn (2000),. Các phân vị địa tầng Đệ Tứ đã được phân chia trên cơ sở gắn liền với các chu kỳ trầm tích trong Đệ Tứ. Như vậy, mặc dù đã có nhiều công trình nghiên cứu về các thành tạo Neogen Tây Nguyên trong thời gian tương đối dài với nhiều mục đích khác nhau, mặc dù đã đạt được nhiều thành công, nhưng còn một số vấn đề tồn tại: Các phân vị địa tầng Kainozoi chưa có sự thống nhất về khối lượng, về tuổi; giữa các tác giả và giữa các nhóm tờ; nghiên cứu về thành phần vật chất, tướng trầm tích, chu kỳ tích tụ trầm tích,.

còn thiếu chi tiết.3 Đặc điểm địa chất – kiến tạo Bồn trũng Neogen Sông Ba phát triển dọc theo đới đứt gãy Sông Ba, được các nhà địa chất cho là thành tạo theo cơ chế kiểu rift [7]. Trong diện tích nghiên cứu có mặt các thành tạo địa chất sau: 1.1 Địa tầng Hệ tầng Mang Yang (T 2my) Hệ tầng Mang Yang lộ thành dải ở khu vực đèo Mang Yang, An Khê và tây Vân Canh [4,7]. Mặt cắt chuẩn ở đèo Mang Yang gồm 4 tập: 11 Tập 1: cuội sạn kết hỗn hợp. Mảnh cuội là vật liệu vụn từ đá móng kết tinh Arkei, Proterozoi và granitoiđ trước Mesozoi, xi măng gắn kết là cát, bột và vật liệu phun trào.

Tập 2: phun trào felsic gồm anđesitođacit, đacit, ryolit, felsit và tuf của chúng. Tập 3: cát kết sa khoáng xen kẽ cát - sạn kết, tufit, tufogen, đá phiến sét, sét vôi, đôi nới có vật liệu than. Trong đá phiến sét có nơi chứa các mảnh vỏ Bivalvia Entolium sp…, tảo vôi, hóa thạch thực vật thân đốt Podozamites, Cycadolepis, Yuccites, Baiera, Coniferales,… Dày 100 – 250m. Tập 4: cuội - sạn kết, tuf ryolit, ryolit porphyr phân dải dày hoặc không đều.

Chiều dày mặt cắt 285 – 880m. Hệ tầng Đơn Dương (K 2đd) Phân bố ở Ia R’sai (Đ. Cheo Reo) và ở Kỳ Lộ. Chiều dày: 250 – 400m và được phân chia ra thành 2 tập [4]: Tập 1: cuội kết, sạn kết tuf, cát kết tuf, tuf dung nham thành phần ryođacit, ryolit xen kẽ các lớp mỏng tuf vụn núi lửa.

Tập 2: tuf dung nham thành phần ryođacit, ryolit xen kẽ các lớp phun trào ryolit. Hệ tầng Sông Ba (N13sb) Phân bố trong các trũng nhỏ, dọc thung lũng sông Ba, chủ yếu ở các vùng Phú Túc và Cheo Reo [5], kéo dài từ Đắc Tô, qua Kon Tum (Kon Tum), Pleiku (Gia Lai) đến Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc) [4]. Mặt cắt đặc trưng của hệ tầng được mô tả dọc theo suối Ea Theo vùng Phú Túc, bao gồm (Vũ Khúc, Bùi Phú Mỹ, 1989): Tập 1: Chủ yếu gồm cuội kết, tảng kết cơ sở, thành phần hạt chủ yếu là đá granit và phun trào ryolit. 12 Tập 2: Sạn kết thạch anh feldspat xám trắng, phân lớp dày hoặc dạng khối, có xen các lớp kẹp hoặc thấu kính mỏng (5-10 cm) cát bột kết màu xám trắng.

Tập 3: Cuội kết, thành phần hạt gồm thạch anh, ryolit, ít đá biến chất, độ mài tròn tốt. Tập 4: Cát kết, sạn kết xám trắng, phân lớp dày 1-2 m, gắn kết yếu, phong hóa bở vụn. Bề dày chung của hệ tầng ở mặt cắt này khoảng 500 m. Phía đông bắc thị trấn Cheo Reo, mặt cắt hệ tầng Sông Ba lộ ra về cơ bản giống ở vùng Phú Túc, song phần trầm tích hạt thô ở phần dưới của mặt cắt giảm đi, ngược lại phần hạt mịn lại tăng lên.

Đá đôi chỗ bị biến vị nhẹ. Bề dày có nơi có thể đạt tới 800 m. Hệ tầng Kon Tum (N1kt) Phân bố ở vùng lân cận thị xã Kon Tum, Pleiku (Gia Lai), Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) và dọc thung lũng Sông Ba [6]. Mặt cắt ở suối Đắk Lắk, ngoại vi TP.

Kon Tum gồm 3 tập: Tập 1: Sạn kết đa khoáng chuyển lên cát kết thạch anh, trên cùng là cát – bột kết và sét kết diatomit xem nhiều lớp basalt lỗ hổng màu đen và tuf; dày 60-80m. Tập 2: Cát kết thạch anh chuyển lên bột kết xen các lớp basalt đặc sít và basalt lỗ hổng; dày 30-50m. Tập 3: Sạn sỏi kết, sét bột kết bở rời và diatomit xen các lớp basalt đang bị phong hóa; dày 20-35m. Bề dày chung của hệ tầng ở mặt cắt này là 110-116m.2 Magma Phức hệ Đèo Cả (γδ-γξ-γKđc) Lộ ở các khu vực núi Hành Sơn (108km2), núi Hiên (153km2), Chư Tun (86km2), Ba Nhông (102km2), gồm 3 pha xâm nhập và 3 pha đá mạch.

13 Pha 1(γKđc): gồm granomonzonit, granođiorit biotit. Đá có màu xám hồng, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình, đôi nới gặp kiến trúc dạng porphyr, ban tinh felpat kali màu hồng. Pha 2 (γξKđc2): gồm granosyenit biotit có horblenđ, granit biotit có horblenđ. Đá màu xám hồng, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình.

Pha 3(γKđc3): gồm granit, granosyenit. Đá hạt nhỏ, màu hồng nâu xám, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình, đôi nơi dạng porphyr. Pha đá mạch: gồm các mạch rộng vài decimét đến hàng mét, kéo dài hàng chục mét, gồm granit aplit, pegmatit và granosyenit porphyr. Phức hệ Vân Canh (γδ-γξ-γT2νc) Lộ thành chỏm nhỏ ở Chư Gongol (112km2), Chư Prô (56km2),Thanh An(50km2), Chư Go (17km2), Chư Đơn (24km2),, Ia Toe (25km2), gồm 3 pha xâm nhậm và pha đá mạch: - Pha 1(γδT2νc1): gồm các đá granođiori biotit, garnomonzonit.

Đá màu xám đốm hồng nâu, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình hạt vừa, đôi nơi có kiến trúc dạng porphyry. - Pha 2(γδT2νc2): gồm granosyenit biotit, granit biotit. Đá hạt vừa đến thô, màu hồng nâu, cấu tạo khối, kiến trúc nửa tự hình, rất thường gặp kiến trúc dạng porphyr. - Pha 3 (γδT2νc3): gặp ở khối Chư Đơ Nam (16km2), gồm granit, granosyenit.

Đá hạt nhỏ, màu hồng nâu, cấu tạo khối kiến trúc nửa tự hình. - Pha đá mạch: gồm granit aplit, pegmatoiđ. Đá có màu hồng nâu, thành phần chủ yếu là thạch anh và felspat kali, it biotit, zircon, ilmenit.3 Cấu trúc - kiến tạo Vị trí kiến tạo Địa phận Pleiku nằm ở rìa phía tây nam địa khối Kom Tum. Địa khối này từng tồn tại giữa đại dương paleotethys như một vi lục địa cấu tạo bởi các đá kết tinh tiền Cambri và đã ghép nối với các địa khối khác để hình thành lục địa Đông Nam Á vào Trias.

Một phần hoặc phần lớn địa khối này sau đó đã bị 14 lôi kéo vào đai Pluton- Núi lửa rìa lục địa tích cực Đông Á trong Mesozoi muộn và tỉnh bazan cao nguyên Nam Đông Dương trong Kainozoi muộn [4,7].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án "Luận án về cấu trúc địa chất trũng sông Ba và vùng Đông Triều Quảng Ninh" được thực hiện bởi Nghiên Cứu Sinh dưới sự hướng dẫn của GS. TSKH Phạm Khoản và TS. Trịnh Hải Sơn tại Viện khoa học Địa chất và Khoáng sản vào năm 2018. Bài luận án này tập trung vào việc nghiên cứu cấu trúc địa chất của trũng sông Ba và khu vực Đông Triều, Quảng Ninh, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về địa chất học trong khu vực này. Những thông tin và phân tích trong luận án không chỉ giúp nâng cao hiểu biết về địa chất mà còn có thể hỗ trợ trong các hoạt động khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường.

Để mở rộng thêm kiến thức về các chủ đề liên quan, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Nghiên Cứu Mô Hình Địa Chất 3D Cho Tầng Đá Móng Nứt Nẻ Tại Mỏ X Bồn Trũng Cửu Long, nơi nghiên cứu mô hình địa chất có thể liên quan đến các cấu trúc địa chất tương tự. Bên cạnh đó, Nghiên cứu tổng hợp cấu trúc và tính chất hợp chất furoxan và quinolin từ eugenol trong tinh dầu hương nhu cũng có thể cung cấp thêm thông tin về các hợp chất hóa học trong địa chất. Cuối cùng, Luận án tiến sĩ về hoạt tính sinh học của hợp chất tử vi nấm biển tại miền Trung Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các hoạt chất tự nhiên trong môi trường địa chất. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các khía cạnh khác nhau của địa chất học và ứng dụng của nó.