Đặc điểm kiến tạo khu vực Hòa An, Cao Bằng và mối liên quan với khoáng hóa niken-đồng - Vũ Mạnh Hào

Phân tích chi tiết đặc điểm kiến tạo khu vực Hoà An Cao Bằng. Tìm hiểu mối liên quan giữa các yếu tố kiến tạo và địa chất khu vực, ảnh hưởng đến cảnh quan.

Chuyên ngành

Địa chất học

Tác giả

Vũ Mạnh Hào

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2022

174
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về kiến tạo Hòa An Cao Bằng và khoáng hóa Ni Cu

Khu vực Hòa An, Cao Bằng nằm trong vùng Đông Bắc Việt Nam, thuộc phần rìa phía tây nam của khối Quảng Tây - Vân Nam. Đây là khu vực có lịch sử kiến tạo phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn biến dạng từ Paleozoi đến Kainozoi. Các thành tạo địa chất từ Cambri đến Đệ Tứ phân bố đa dạng, bị biến dạng mạnh mẽ và xuyên cắt bởi nhiều đới đứt gãy lớn. Đặc biệt, khu vực này chứa các phức hệ magma mafic và siêu mafic có liên quan mật thiết đến khoáng hóa niken - đồng. Các nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng vùng Đông Bắc nói chung và Hòa An nói riêng không phải là một rìa lục địa dạng nền bình ổn, mà là một rìa lục địa tích cực với nhiều thành tạo phức tạp. Khoáng hóa Ni-Cu trong khu vực chủ yếu thuộc loại sulfua magma dung ly, hình thành từ quá trình phân hóa magma trong các thể xâm nhập siêu mafic. Việc hiểu rõ đặc điểm kiến tạo là yếu tố then chốt để đánh giá tiềm năng khoáng sản và xây dựng mô hình tìm kiếm hiệu quả.

1.1. Vị trí và đặc điểm địa chất khu vực Hòa An

Khu vực Hòa An thuộc tỉnh Cao Bằng, nằm trong đới kiến tạo Đông Bắc Việt Nam. Địa tầng khu vực bao gồm các thành tạo từ Cambri đến Đệ Tứ, trong đó các đá Paleozoi bị biến dạng mạnh và bị chồng phủ bởi các thành tạo trẻ hơn. Các đới đứt gãy chính như Sông Hồng, Chợ Đồn và Ngân Sơn cắt ngang khu vực, tạo nên cấu trúc địa chất phức tạp. Các khối magma mafic và siêu mafic thuộc phức hệ Cao Bằng xâm nhập vào các thành tạo Paleozoi, mang theo tiềm năng khoáng hóa niken - đồng đáng kể. Môi trường kiến tạo liên quan đến rìa lục địa tích cực đã tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động magma và quá trình sinh khoáng.

1.2. Lịch sử nghiên cứu địa chất khu vực Cao Bằng

Nghiên cứu địa chất khu vực Cao Bằng được chia thành hai giai đoạn chính. Trước năm 1954, các nghiên cứu chủ yếu của nhà địa chất Pháp tập trung vào đo vẽ bản đồ và mô tả tổng quát. Sau năm 1954, với sự phát triển của ngành địa chất Việt Nam, nhiều đoàn đo vẽ và nghiên cứu chuyên đề đã triển khai. Các công trình của Trần Văn Trị, Phạm Đình Long, Nguyễn Công Thuận và nhiều tác giả khác đã làm sáng tỏ đặc điểm địa tầng, kiến tạo và magma. Tuy nhiên, vấn đề vị trí kiến tạo khu vực và mô hình tiến hóa địa chất vẫn chưa thống nhất, đòi hỏi nghiên cứu toàn diện hơn.

II. Phân tích đặc điểm kiến tạo và môi trường hình thành khoáng hóa

Kiến tạo khu vực Hòa An được đặc trưng bởi nhiều pha biến dạng chồng chéo, liên quan đến các sự kiện kiến tạo từ Hercyni đến Himalaya. Các đới đứt gãy chính như Sông Hồng và Chợ Đồn kiểm soát sự phân bố của các khối magma và vùng khoáng hóa. Biến dạng kiến tạo tạo ra các cấu trúc thuận lợi cho magma xâm nhập và tích tụ sulfua. Mối liên quan giữa kiến tạo và khoáng hóa Ni-Cu thể hiện rõ qua vị trí các điểm khoáng hóa tập trung dọc theo các đới đứt gãy và trong các cấu trúc nếp lồi. Bối cảnh địa động lực Paleozoi muộn - Mesozoi sớm liên quan đến quá trình đóng và mở đại dương, tạo điều kiện cho magma mafic - siêu mafic xâm nhập. Quá trình sulfua hóa magma dung ly là cơ chế chính hình thành khoáng hóa Ni-Cu trong các thể xâm nhập siêu mafic. Mức độ bão hòa lưu huỳnh trong magma và sự phân hóa pha lỏng sulfua quyết định quy mô và chất lượng quặng.

2.1. Các dạng kiến tạo và biến dạng trong khu vực

Khu vực Hòa An ghi nhận nhiều pha biến dạng kiến tạo khác nhau. Pha biến dạng sớm tạo ra các nếp uốn trục tây bắc - đông nam, trong khi pha muộn hơn hình thành các nếp uốn trục bắc - nam. Hệ thống đứt gãy gồm ba hướng chính: tây bắc - đông nam, bắc - nam và đông bắc - tây nam. Các đứt gãy sâu như Sông Hồng và Điện Biên đóng vai trò dẫn magma từ manti lên. Biến dạng dẻo và giòn xảy ra đồng thời, tạo ra các vùng nứt nẻ thuận lợi cho sự xâm nhập của magma sulfua. Cấu trúc nếp lồi Tạ Khoa và đới Sông Hiến là hai ví dụ điển hình về kiểm soát kiến tạo đối với khoáng hóa.

2.2. Mối liên quan giữa kiến tạo và khoáng hóa Ni Cu

Khoáng hóa Ni-Cu khu vực Hòa An có mối liên quan chặt chẽ với hoạt động kiến tạo. Các thể xâm nhập siêu mafic chứa khoáng hóa sulfua thường nằm trong các đới đứt gãy hoặc vùng nứt kéo giãn liên quan đến kiến tạo rift. Quá trình sulfua hóa magma dung ly diễn ra khi magma mafic tiếp xúc với đá vỏ giàu lưu huỳnh. Sự phân hóa pha lỏng sulfua tạo thành hai kiểu quặng chính: sulfua đặc sít phân bố bên ngoài khối siêu mafic và sulfua xâm tán bên trong. Các mỏ như Bản Phúc, Suối Củn, Hà Trì minh chứng cho mối liên hệ này.

III. Phương pháp nghiên cứu và đánh giá tiềm năng khoáng sản Ni Cu

Nghiên cứu đặc điểm kiến tạo và khoáng hóa Ni-Cu khu vực Hòa An áp dụng cách tiếp cận hệ thống kết hợp truyền thống và hiện đại. Phương pháp địa chất bề mặt bao gồm đo vẽ địa chất, lập bản đồ cấu trúc và khảo sát hiện trường. Các phương pháp địa vật lý như từ, trọng lực và điện trở giúp xác định vị trí và hình thái các khối magma ẩn. Phương pháp địa hóa đá và địa hóa khoáng giúp đánh giá thành phần hóa học và nguồn gốc magma. Phân tích petrography, mineralogy và địa hóa học nguyên tố vi lượng, nguyên tố đất hiếm được thực hiện trong phòng thí nghiệm. Mô hình hóa nguồn magma và quá trình phân hóa giúp hiểu rõ cơ chế hình thành khoáng hóa. Cách tiếp cận tổng hợp cho phép xây dựng mô hình kiến tạo - sinh khoáng toàn diện, phục vụ đánh giá tiềm năng và định hướng tìm kiếm quặng Ni-Cu.

3.1. Hệ phương pháp tiếp cận nghiên cứu

Cách tiếp cận nghiên cứu bao gồm ba hướng chính. Tiếp cận hệ thống xem xét toàn bộ mối liên hệ giữa kiến tạo, magma và khoáng hóa trong một thể thống nhất. Tiếp cận truyền thống kết hợp hiện đại sử dụng phương pháp địa chất cổ điển cùng các kỹ thuật phân tích tiên tiến. Tiếp cận tổng hợp liên ngành kết hợp dữ liệu địa chất, địa vật lý, địa hóa và từ xa. Hệ phương pháp này cho phép xây dựng mô hình tiến hóa địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản một cách toàn diện và chính xác.

3.2. Các phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm

Các phương pháp phân tích trong phòng bao gồm petrography quang học để xác định thành phần khoáng vật và cấu trúc đá. Phân tích địa hóa học nguyên tố chính, nguyên tố vi lượng và nguyên tố đất hiếm bằng phương pháp XRF và ICP-MS. Phân tích khoáng vật bằng kính hiển vi điện tử quét SEM kết hợp EDS. Phân tích đồng vị phóng xạ để xác định tuổi đá và nguồn gốc magma. Kết quả phân tích cho phép đánh giá mức độ bão hòa lưu huỳnh, quá trình phân hóa magma và cơ chế hình thành khoáng hóa Ni-Cu.

IV. Kết luận và ứng dụng trong thăm dò khoáng sản Ni Cu

Nghiên cứu đã khẳng định khu vực Hòa An, Cao Bằng có đặc điểm kiến tạo phức tạp, liên quan đến rìa lục địa tích cực với nhiều giai đoạn biến dạng. Các phức hệ magma mafic và siêu mafic thuộc Cao Bằng được hình thành trong bối cảnh địa động lực Paleozoi muộn - Mesozoi sớm, liên quan đến quá trình đóng mở đại dương. Khoáng hóa Ni-Cu kiểu sulfua magma dung ly được phát hiện trong nhiều điểm quặng như Suối Củn, Hà Trì, Phan Thanh, Khuổi Khoang. Kiểm soát kiến tạo đối với khoáng hóa thể hiện rõ qua vị trí các điểm quặng dọc đới đứt gãy và trong cấu trúc nếp lồi. Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học cho định hướng tìm kiếm, thăm dò khoáng sản Ni-Cu. Các đới rift Sông Đà và cấu trúc Sông Hiến được xác định là vùng triển vọng nhất. Mô hình kiến tạo - sinh khoáng xây dựng trên cơ sở dữ liệu mới giúp nâng cao hiệu quả thăm dò và giảm rủi ro đầu tư trong lĩnh vực khai thác khoáng sản.

4.1. Các kết quả chính đạt được

Nghiên cứu đã đạt được nhiều kết quả quan trọng. Xác định được đặc điểm kiến tạo khu vực Hòa An với nhiều pha biến dạng từ Hercyni đến Himalaya. Làm sáng tỏ bối cảnh địa động lực hình thành các đá magma Paleozoi muộn - Mesozoi sớm. Xác định mối liên quan giữa kiến tạo và khoáng hóa Ni-Cu trong các thể xâm nhập siêu mafic. Xây dựng mô hình tiến hóa địa chất và đánh giá tiềm năng khoáng sản. Phát hiện thêm các điểm khoáng hóa mới và mở rộng vùng triển vọng tìm kiếm quặng Ni-Cu.

4.2. Ứng dụng thực tiễn trong thăm dò và khai thác

Kết quả nghiên cứu có ứng dụng thực tiễn cao trong thăm dò khoáng sản. Mô hình kiến tạo - sinh khoáng giúp định hướng tìm kiếm quặng Ni-Cu tại các khu vực triển vọng. Kiểm soát kiến tạo được sử dụng để dự báo vị trí tích tụ quặng. Dữ liệu địa hóa và địa vật lý hỗ trợ phân vùng triển vọng khoáng hóa. Các đới rift Sông Đà và cấu trúc Sông Hiến được ưu tiên thăm dò. Mô hình này cũng áp dụng được cho các khu vực tương tự tại Đông Nam Á có bối cảnh kiến tạo và khoáng hóa giống nhau.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Đặc điểm kiến tạo khu vực hoà an cao bằng và mối liên quan

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN KHU VỰC NGHIÊN CỨU 1. Khái quát về vị trí và đặc điểm vùng nghiên cứu Khu vực nghiên cứu thuộc địa phận huyện Hoà An, tỉnh Cao Bằng, cách thành phố Cao Bằng khoảng 8,0km về phía tây bắc. Khu vực nghiên cứu có hình chữ nhật và được giới hạn bởi bốn điểm có toạ độ VN2000, kinh tuyến trục 1050, múi chiếu 60 thể hiện tại bảng 1. Toạ độ những điểm khép góc khu vực Hoà An, Cao Bằng STT X(m) Y(m) 1 2516100 623820 2 2516100 639760 3 2499150 639760 4 2499150 623820 Khu vực nghiên cứu có địa hình núi thấp, sườn thoải, có độ cao tuyệt đối 200-500m, hệ thống sông suối chủ yếu chảy theo hướng đông nam, vùng có giao thông thuận lợi cho việc điều tra, nghiên cứu địa chất.

Lịch sử nghiên cứu địa chất 1. Giai đoạn trước năm 1954 Trong giai đoạn này công tác nghiên cứu địa chất chủ yếu do các nhà địa chất người Pháp thực hiện như R. Các công trình này đã mô tả về địa tầng, magma nhưng khá sơ lược. Về cấu trúc kiến tạo, các nghiên cứu này xếp vùng Hoà An thuộc "mảng” kiến trúc "Thượng Bắc Bộ" hay "Đông Nam Trung Quốc" có lịch sử phát triển lâu dài với nhiều pha và mang tính kế thừa.

Trong đó có pha tạo núi mãnh liệt trên toàn lãnh thổ xảy ra vào thời kỳ sát trước Nori và là pha uốn nếp chính ở Đông Dương. Sau cách mạng tháng tám đến năm 1954 do ảnh hưởng của chiến tranh nên công tác nghiên cứu địa chất không được tiến hành. Giai đoạn sau năm 1954 Về công tác nghiên cứu địa chất: Sau năm 1954 nhiều công trình nghiên cứu được thực hiện nhưng chủ yếu là tổng hợp, chỉnh lý, có bổ sung khảo sát các công trình do các nhà địa chất Pháp trước thực hiện trước đây như "Từ điển địa tầng Đông Dương" (Saurin E, 1956) hoặc kiến document 25 of 109. Tai lieu, luan van26 of 109.

8 tạo Miền Bắc Việt Nam (Kitovani S. Sau đây là một số công trình quan trọng trong khu vực nghiên cứu. Công trình đầu tiên là Bản đồ địa chất Miền Bắc Việt Nam, tỷ lệ 1:500. Đây là công trình có tính khoa học và thực tiễn cao trong khu vực, công trình đã phân chia được một số thành tạo khác nhau trong đó có điệp Sông Hiến (T2-3sh) và xác lập được các thành tạo magma của phức hệ Cao Bằng.

Về kiến tạo đã phân chia khu vực ra các đới tướng - cấu trúc, phân cách bởi các đứt gãy sâu. Công trình thứ hai là công trình Bản đồ địa chất tờ Chinh Si - Long Tân, tỷ lệ 1:200.000 (Phạm Đình Long và nnk, 1974), công trình đã giải quyết được một số vấn đề cơ bản như: Phân chia một số phân vị trên cơ sở phát hiện hoá thạch bọ Ba Thuỳ, xác lập điệp Tốc Tát với đặc trưng là đá vôi vân đỏ và phần cao chứa vỉa mangan và đã xác nhận loạt trầm tích liên tục từ Devon sớm tới Devon muộn. Hệ thống hoá và xác nhận lại các điểm khoáng hoá gồm mangan, bauxit, đồng - niken. Năm 1999, Nguyễn Thế Cương và nnk đã tiến hành đo vẽ và lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Cao Bằng - Đông Khê, báo cáo đã ghi nhận lại các khối mafic, siêu mafic chứa khoáng hoá niken - đồng, song chưa được quan tâm nghiên cứu do ít có tiềm năng.

Ngoài ra, báo cáo đã xác định ranh giới các thành tạo địa chất trên cơ sở thuyết địa mảng. Năm 2005, Nguyễn Công Thuận và nnk đã tiến hành đo vẽ và lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.000 nhóm tờ Trùng Khánh. Kết quả nghiên cứu đã phân chia, mô tả khá chi tiết sáu phân vị địa tầng liên tục từ Devon sớm đến Devon muộn và magma có mặt trong nhóm tờ. Báo cáo đã chỉ ra nhưng đới cấu trúc chờm nghịch trong khu vực, bước đầu phân các pha kiến tạo và sơ lược tiến hoá kiến tạo trong vùng nghiên cứu.

Năm 2011, Vũ Quang Lân và nnk đá tiến hành đo vẽ và lập bản đồ địa chất khoáng sản tỷ lệ 1:50.0000 nhóm tờ Hà Quảng. Báo cáo đã mô tả tương đối chi tiết các thành tạo thuộc các hệ tầng Mia Lé, Nà Quản, Tốc Tát, Bắc Sơn, Đồng Đằng, Sông Hiến và Cao Bằng, phát hiện bazan cầu gối trong hệ tầng Bằng Giang. Đã ghi nhận và thể hiện phức hệ Cao Bằng có thành phần từ siêu mafic đến axit và các đai document 26 of 109. Tai lieu, luan van27 of 109.

9 mạch thành phần diabas không rõ tuổi, gồm các khối: Lũng Luông, Xuân Trường - Cần Yên, Bó Nình, Khau Mia, Cao Mia, Khắc Thiệu, Suối Củn và xếp chúng vào tuổi Permi muộn. Phát hiện quan hệ phủ không chỉnh hợp của đá bazan hệ tầng Bằng Giang trên đá vôi hệ tầng Bắc Sơn và phủ không chỉnh hợp của hệ tầng Sông Hiến trên hệ tầng Bằng Giang. Báo cáo tiếp tục ghi nhận khoáng hoá niken - đồng liên quan đến các thể siêu mafic trong vùng nghiên cứu ít có tiềm năng. Về công tác tìm kiếm thăm dò khoáng sản: Năm 1960, Đoàn địa chất 13 Tổng cục Địa chất cùng với các chuyên gia Liên Xô đã tiến hành tìm kiếm quặng niken từ Cao Bằng đến Thanh Hoá.

Kết quả của công tác tìm kiếm ghi nhận nhiều điểm khoáng hoá niken - đồng khu vực, trong đó hai khối suối Củn và Đông Chang (Phan Thanh) là có giá trị hơn cả. Tuy nhiên, tác giả cho rằng các khối siêu mafic có quy mô nhỏ, ít có tiềm năng và không đươc quan tâm nghiên cứu tiếp. Năm 2004, Nguyễn Duy Tiêu và nnk đã tiến hành kiểm tra chi tiết dải dị thường từ vùng Cao Bằng - Thất Khê. Tại công trình này, trên cơ sở tài liệu địa vật lý, tài liệu khoan 5 lỗ khoan kiểm tra dị thường.

Tác giả đã xác định được các hệ thống đứt gãy, phân định cấu trúc địa chất, khoanh định các khối các khối magma trong khu vực và tiếp tục khẳng định sự tồn tại của khoáng hoá niken - đồng trong vùng nghiên cứu và cho rằng ít triển vòng bởi hàm lượng niken - đồng thấp. Năm 2017, Trần Minh Quang và nnk đã tiền hành thăm dò các khối Hà Trì, Phan Thanh và một phần phía nam của khối Suối Củn. Báo cáo đã khoanh định và mô tả được các thành tạo địa chất, khoanh nối được các thân quặng niken - đồng theo kết quả phân tích hoá học. Phần phía bắc khối Suối Củn Củn đã được cấp phép khai thác từ năm 2008 và chưa có công trình khoan sâu để đánh giá.

Về công tác nghiên cứu chuyên đề: Khu vực Hoà An nằm trong đới cấu trúc Sông Hiến, Hạ Lang thuộc vùng Đông Bắc Việt Nam. Đây là vùng có cấu trúc địa chất phức tạp, sự chồng lấn của các yếu tố kiến tạo và được nhiều nhà địa chất quan tâm nghiên cứu, trong đó phải kế đến các công trình nghiên cứu của các tác giả như: Trần Trọng Hoà và nnk. Tai lieu, luan van28 of 109. 10 Polyakov và nnk., 2009; Lepvrier và nnk., 2011; Trần Thanh Hải và nnk., 2009, 2009; Nguyễn Hoàng và nnk., Qin và nnk., 2011; 2012; Trần Thanh Hải và nnk., 2011; Ngô Xuân Thành và nnk.Halpin, Trần Thanh Hải, Chun-KitLai, Sebastien Meffre, Anthony.

Số liệu nghiên cứu của các công trình này có ý nghĩa rất quan trọng trong việc luận giải và lập lại lịch sử tiến hoá kiến tạo của vùng, định hướng cho công tác điều tra, tìm kiếm các khoáng sản nội sinh. Vị trí vùng nghiên cứu trong bình đồ cấu trúc kiến tạo khu vực Theo Đovjikov A., 1965, Trần Văn Trị và nnk., 1977, vùng nghiên cứu được xếp vào đới cấu trúc Sông Hiến và Hạ Lang, thuộc “miền chuẩn uốn nếp Đông Việt Nam”. Trên quan điểm của kiến tạo mảng, các nghiên cứu đã đưa phần Bắc và Đông Bắc Việt Nam (trong đó có vùng nghiên cứu) là phần rìa phía nam của mảng lục địa cổ Nam Trung Hoa, trong Mesozoi sớm khu vực nghiên cứu thuộc đai tạo núi do sự va chạm của mảng này với mảng Đông Dương và Nam Trung Hoa (Hutchison C., 1989; Nguyễn Xuân Tùng và Trần Văn Trị. Theo Trần Trọng Hòa và nnk., 2008 và Trần Văn Trị và nnk., 2009, 2015, khu vực nghiên cứu được đưa vào hệ rift nội lục Permi - Mesozoi Sông Hiến nằm chồng lên đai tạo núi đa kỳ Neoproterozoi - Paleozoi sớm Đông Bắc Bộ, kéo dài tương đồng sang Vân Nam - Quảng Tây (Trung Quốc, Hình 1.

Tai lieu, luan van29 of 109. Vị trí kiến tạo khu vực nghiên cứu trên sơ đồ cấu trúc khu vực (Theo Trần Văn Trị và nnk., 2015) Các nghiên cứu của Trần Thanh Hải và nnk., 2006, 2011 và Halpin và nnk., 2015 dẫn tới kết luận rằng khu vực Cao Bằng - Thất Khê là một phần của một đới khâu kiến tạo (Dian - Qiong - Sông Hiến), bao gồm cả sự tồn tại các tổ hợp mellange và ophiolit được hình thành do sự phá huỷ một bồn trũng đại dương, có thể liên quan tới document 29 of 109. Tai lieu, luan van30 of 109. 12 một nhánh của Paeotethys và sau đó là sự kiện tạo núi diễn ra trong Paleozoi muộn và Mesozoi sớm.

Theo mô hình này, đới khâu Ailao Shan - Sông Mã và Dian Qiong - Sông Hiến là một thực thể thống nhất và toàn bộ khu vực phía tây nam đới khâu Dian - Qiong Sông Hiến thuộc khu vực Đông Bắc Bộ thuộc rìa lục địa tích cực và tiến hóa thành một đai tạo núi trong Paleozoi muộn - Mesozoi và là một phần của địa khối Đông Dương (Hình 1. Nghiên cứu này cũng cho rằng vùng Sông Hiến nói chung và khu vực nghiên cứu nói riêng không thuôc tỉnh magma lớn Emeishan như một số nghiên cứu trước đó đề cập (Trần Trọng Hòa và nnk., 2008; Faure et al. Mô hình khôi phục cấu hình kiến tạo khu vực Đông Dương và Nam Trung Hoa trước khi có sự dịch chuyển dọc theo các đới đứt gãy lớn gồm Sông Hồng, Điện Biên Phủ và Hepu-Hetai trong Kainozoi, thể hiện quan hệ giữa đới khâu Dian Qiong - Sông Hiến với đới khâu Ailao Shan - Sông Mã trong Permi muộn (Ghi chú: DBPF: Đứt gãy Điện Biên; HHF: Đứt gãy Hepu – Hetai; NB: Bồn trũng Nanpanjiang; ELIP: Tỉnh magma lớn Emeishan (Large Igneous Province, bao gồm magma Sông Đà); RRF: Đứt gãy Sông Hồng. Theo mô hình này, đới khâu Dian Qiong - Sông Hiến và Ailao Shan Sông Mã có thể là một cấu trúc duy nhất phân tách giữa mảng Đông Dương và Nam Trung Hoa, bị chia cắt như hiện tại do hoạt động dịch bằng trái của đứt gãy Sông Hồng và Điện Biên trong Kainozoi (Theo Halpin và nnk.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ