Luận văn nghiên cứu xác lập các đặc trưng dị trường phân cực kích thích dòng xoay chiều trên các đối và thân quặng sulfur đa kim phục vụ công tác điều tra đánh giá khoáng sản sulfur đa kim ở việt nam

Luận văn nghiên cứu xác lập đặc trưng dị trường phân cực kích thích dòng xoay chiều trên quặng sulfur đa kim, hỗ trợ điều tra đánh giá khoáng sản tại Việt Nam.

Trường đại học

Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản

Chuyên ngành

Địa chất và Khoáng sản

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết đề tài nghiên cứu khoa học và công nghệ cấp bộ

2007

237
2
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Nghiên cứu đặc trưng dị trường

Phần này tập trung vào việc nghiên cứu đặc trưng dị trường trong bối cảnh địa vật lý và khoáng sản tại Việt Nam. Các phương pháp đo đạc và xử lý tài liệu được sử dụng để xác định các đặc trưng dị thường trên các đới và thân quặng sulfur đa kim. Kết quả nghiên cứu cho thấy sự liên hệ giữa các đặc trưng dị trường và thành phần vật chất của quặng, đặc biệt là quặng đồng và chì-kẽm. Phương pháp phân cực kích thích dòng xoay chiều được áp dụng để khắc phục các lớp phủ có điện trở suất cao hoặc thấp, giúp phát hiện các thân quặng dưới lớp phủ.

1.1. Phương pháp đo đạc

Các phương pháp đo đạc bao gồm việc sử dụng máy phát T3 và đầu thu V5 với 17 tần số khác nhau, từ 0.125Hz đến 8192Hz. Phương pháp này cho phép đo các tham số phân cực dòng xoay chiều, bao gồm hệ số phân cực FE, góc pha và phổ pha. Các kết quả đo được xử lý và phân tích để xác định các đặc trưng dị thường trên các đới quặng.

1.2. Xử lý tài liệu

Việc xử lý tài liệu bao gồm phân tích định lượng và định tính các kết quả đo. Các thành phần phức của giá trị điện trở và độ dẫn điện được tính toán để xác định các đặc trưng dị thường. Phương pháp này giúp xây dựng mô hình địa chất - địa vật lý của các vùng quặng, đặc biệt là tại vùng Tà Phời - Lào Cai.

II. Phân cực kích thích dòng xoay chiều

Phần này tập trung vào phân cực kích thích dòng xoay chiều (PCKT) và ứng dụng của nó trong việc thăm dò khoáng sản. Phương pháp PCKT dòng xoay chiều được so sánh với các phương pháp thăm dò điện một chiều, cho thấy ưu điểm vượt trội trong việc khắc phục các lớp phủ có điện trở suất cao hoặc thấp. Kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa các đặc trưng dị thường PCKT và hàm lượng quặng đồng, chì-kẽm trong các mẫu quặng.

2.1. Hiệu ứng phân cực

Hiệu ứng phân cực được nghiên cứu thông qua các phép đo trong miền thời gian và tần số. Hiệu ứng tần số (FE) được tính toán dựa trên sự giảm biên độ điện trở khi tần số tăng. Các kết quả đo cho thấy mối quan hệ giữa hiệu ứng phân cực và thành phần vật chất của quặng, đặc biệt là quặng đồng và chì-kẽm.

2.2. Phổ PCKT dòng xoay chiều

Phổ PCKT dòng xoay chiều được ghi lại trong một dải tần số rộng, cho phép phân tích sự khuếch tán tần số của độ dẫn điện biểu kiến. Các kết quả đo phổ pha và biên độ giúp xác định các đặc trưng dị thường trên các thân quặng, đặc biệt là tại vùng Tà Phời - Lào Cai và Nà Tùm - Bắc Kạn.

III. Quặng sulfur đa kim tại Việt Nam

Phần này tập trung vào việc nghiên cứu quặng sulfur đa kim tại Việt Nam, đặc biệt là quặng đồng và chì-kẽm. Các kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa các đặc trưng dị thường PCKT và hàm lượng quặng trong các mẫu quặng. Phương pháp PCKT dòng xoay chiều được áp dụng để đánh giá tiềm năng khoáng sản tại các vùng quặng, đặc biệt là tại Tà Phời - Lào Cai và Nà Tùm - Bắc Kạn.

3.1. Đặc điểm địa chất khoáng sản

Các đặc điểm địa chất - khoáng sản của các vùng quặng được nghiên cứu để xác định các tham số vật lý của đá và quặng. Các kết quả nghiên cứu cho thấy mối quan hệ giữa các đặc trưng dị thường PCKT và thành phần khoáng vật của quặng, đặc biệt là quặng đồng và chì-kẽm.

3.2. Khảo sát địa chất

Việc khảo sát địa chất được thực hiện để xác định các đặc trưng dị thường trên các thân quặng. Các kết quả khảo sát cho thấy mối quan hệ giữa các đặc trưng dị thường PCKT và hàm lượng quặng trong các mẫu quặng, đặc biệt là tại vùng Tà Phời - Lào Cai và Nà Tùm - Bắc Kạn.

01/03/2025
Luận văn nghiên cứu xác lập các đặc trưng dị trường phân cực kích thích dòng xoay chiều trên các đối và thân quặng sulfur đa kim phục vụ công tác điều tra đánh giá khoáng sản sulfur đa kim ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ THUYẾT CỦA PHƯƠNG PHÁP PHÂN CỰC KÍCH THÍCH DÒNG XOAY CHIỀU I. Phương pháp PCKT dòng xoay chiều Hiện tượng PCKT có nguồn gốc hóa điện được gây nên bởi các hạt khoáng vật kim loại trong một khối đá có độ dẫn kém, hoặc bởi sự khác nhau về mật độ ion trong không gian lỗ rỗng, hoặc ở mặt tiếp xúc giữa khối đá và không gian rỗng (Sumner, 1976). Bất kỳ một dòng điện nào trong môi trường phân cực đều bị ngăn cản dòng bởi khả năng nạp m (chargeability m - đơn vị sơ cấp của độ phân cực theo thời gian, đó là đoạn dưới đường cong giữa hai lần ngừng phát dòng. Thường biểu diễn bằng tỉ số milivolt giây trên volt) của môi trường (Seigel, 1959).

Tuy nhiên độ dẫn điện của môi trường phân cực σ0 bị giảm xuống liên quan với độ dẫn σ của môi trường không có các hợp phần phân cực.1) Khi chạy theo một hướng, dòng điện “nạp" tất cả các nguyên tố phân cực và tạo nên một điện thế thứ cấp Vs. Sau một thời gian dài dòng điện chạy tất cả các nguyên tố đều bão hòa, và thu được điện thế sơ cấp Vp. Các giá trị của điện thế sơ cấp và thứ cấp được tính gần đúng trong đo PCKT miền thời gian bằng việc sử dụng phép đo điện thế (Vp) khi có dòng điện và thế (Vs) ngay sau khi dòng điện bão hòa bị ngắt. Vs Độ nạp m được tính theo công thức: m = (1.2) Vp Một lượng có thể so sánh được được xác định trong miền tần số.

Nói chung biên độ điện trở giảm khi tần số tăng. Nếu như điện trở được đo ở hai tần số với ω1 < ω2 (thường là lớn hơn nhau 10 lần) thì hiệu ứng tần số (FE) được ρ(ω1 ) − ρ(ω 2 ) tính toán theo biểu thức: FE = (1.3) giải thích sự giảm từng phần của biên độ điện trở khi tần số tăng, điện trở suất biểu kiến của tần số thấp ω1 được tính toán bởi giá trị dòng Vp một chiều: ρ(ω = 0 ) =. I Với I là cường độ dòng điện, K là hệ số thiết bị. Điện trở suất biểu kiến tại Vp − Vs tần số cao ω2 có thể được tính gần đúng: lim ρ(ω) = .5) ω→ ∞ I 3 Bằng việc sử dụng các giới hạn đó, các kết quả từ các số đo trong miền thời gian và miền tần số có khả năng chuyển đổi cho nhau được: m FE = (1.6) 1− m Hiệu ứng tần số và độ nạp không chỉ là các đại lượng đặc trưng cho hiệu ứng phân cực của đá.

Nói chung các số liệu PCKT chứa đựng nhiều thông tin liên quan đến đường cong suy giảm của các số đo miền thời gian trên một khoảng thời gian rộng hoặc các phép đo phổ PCKT ghi lại biên độ và góc pha trong một dải tần số. Biên độ thu được và các phổ pha biểu hiện sự khuếch tán tần số của độ dẫn biểu kiến. Độ dẫn điện σ của các đá bao gồm cả các hiệu ứng dẫn và phân cực nói chung có thể được biểu diễn như một đại lượng phức.7 ) Với ω là tần số góc và i là đại lượng ảo. Hợp phần trong pha tương ứng với độ dẫn bên trong và thành phần vuông góc với các hiệu ứng phân cực mà được tạo bởi một kiểu hợp phần độ dẫn điện dung trong đá.

Đại lượng phức còn có thể được đại diện bởi biên độ: σ(ω) = (σ' (ω)) + (σ' ' (ω)) (1. ⎝ σ' (ω) ⎠ Góc pha đo được là sự lệch pha giữa tín hiệu dòng vào và điện thế đo được bởi các hiệu ứng phân cực. Dưới dạng điện trở suất, góc pha là arctg của tỷ số giữa hợp phần ảo của Im ρ điện trở suất với hợp phần thực, hoặc: φ = tan −1. Re ρ Góc pha đo được là sự dịch chuyển pha giữa dòng điện tiêm nhập và điện thế đo được gây ra bởi các hiệu ứng phân cực.

Cần thấy rằng nếu dòng điện xoay chiều được sử dụng thì tín hiệu đo được cũng bị ảnh hưởng bởi các hiệu ứng cảm ứng mà nó được hình thành trong một sự dịch chuyển phụ của pha. Các quy trình phức tạp để chuyển đổi cặp điện từ từ các số liệu IP (Pelton và nnk, 1978) cũng có thể tránh được khi sử dụng một khoảng tần số và một thiết bị điện thế và dòng các điện cực sao cho các hiệu ứng đó có thể bị loại trừ (bỏ qua). Do 4 điện trở suất phức là đối nghịch với độ dẫn phức nên phép đo độ dẫn hay điện trở có thể được chuyển đổi cho nhau. So sánh các phép đo về thời gian, tần số và pha trong PCKT I.

Định nghĩa - hệ số phân cực miền thời gian. Đầu vào miền thời gian dòng xung - ổn định dạng sóng và sự phản hồi điện thế đặc trưng dạng sóng trên đất bị khoáng hóa hoặc bị phân cực được trình bày ở hình 1. Các phần dạng sóng được đánh dấu được dùng trong việc thiết lập các định nghĩa lý thuyết lẫn định nghĩa được áp dụng ở thực địa. IP O Vp V0 O VS Thời gian Hình 1.1: Dạng sóng hàm IP miền thời gian và phản hồi điện thế tới một môi trường có khả năng phân cực.

Hệ số thường được đo trong miền thời gian là diện tích dưới đường cong phóng điện được đánh dấu lt. Hệ số phát sinh là độ nạp điện M được định nghĩa I t (1.11) 2 (xác định) bởi công thức: M = ∫ Vt dt Vt 1 Ở đây t1 và t2 xác định một khoảng thời gian trong thời gian phóng điện, nó loại trừ điện thế chuyển tiếp chủ yếu do hiệu ứng điện từ kép. Trong việc sử dụng này, M được lấy phổ biến làm các đơn vị milivolt - giây trên volt. Trở lại hình 1.1, so sánh độ nạp điện này với hệ số m không có đơn vị đo do Seigel (1954) nêu ra và thường được gọi là độ nạp điện lý thuyết: Vs m= (1.12) Vp Trong đó: Vs - thế phát đo được khi chưa ngắt dòng.

Vp - thế đo được khi đã ngắt dòng. 5 Độ nạp điện lý thuyết này không thể đo một cách chính xác ngoài thực địa được do các hiệu ứng dẫn và các hiệu ứng điện dung làm mờ sự phản hồi thực của đá trong vùng lân cận của sự biến đổi bước trong điện thế hoặc dòng. Tuy nhiên nó sẽ được dùng ở đây để tạo lập sự so sánh giữa các hệ số.1 này Vs = Vp - V0, hoặc dưới dạng gradient thế điện Es = Ep - E0. Bây giờ chúng ta dùng sự liên quan này để có độ nạp điện khi dòng nạp (dòng vào) là một hàm bước [U(t)] và điện trở suất đo được là một hàm của tần số phức [ρ(s)].

Bằng sử dụng định nghĩa lý thuyết của Seigel, định lý chuyển đổi (biến đổi) Laplace trong giới hạn và giá trị đầu và cuối, mật độ dòng J và gradient điện thế phát sinh E được tính như sau: J(t ) = J.17 ) t →0 s →∞ s→∞ ω→ ∞ Ep − E0 E(t ) − E(t ) ρp − ρ0 Tuy nhiên: m = = t →∞ t →0 = (1.18) Ep E(t ) ρ ac t →∞ ρ dc − ρ ac Có thể nói một cách tương tự: m = (1.19) ρ ac Ở đây ρdc là giá trị của điện trở suất một chiều và ρac là giá trị hiệu ứng của điện trở suất tại t = 0 hoặc tần số vô hạn. Mặc dù mối liên quan này được hình thành cho chu kỳ nạp của miền thời gian dạng sóng, một luận cứ tương tự cũng được đề xuất cho chu kỳ xả. Nên nhớ rằng các đường cong nạp và xả là đường cong số mũ và hằng số thời gian tham gia là những hằng số thời gian sao cho đạt được ở trạng thái bền vững trên các chu kỳ nạp và xả. Khi đó độ nạp được xác định bởi phương trình (1.11) sẽ khác với phương trình (1.18) bằng sự không đổi này sẽ là một hàm của sự nạp thực và độ cong của sự xả sẽ biến đổi cùng với các thuộc tính phân cực.

Định nghĩa- hiệu ứng phân cực miền tần số Các phép đo miền tần số được thực hiện tại hai tần số khác nhau, thường là phần 10. Các dạng sóng được trình bày trên hình 1.2 và trong miền thời gian, hệ thống này sử dụng một dòng vào (nạp) được khống chế. Hệ số được đo là sự 6 phản hồi điện thế trạng thái bền vững sau khi lọc vì hệ số phát sinh là hiệu ứng V − V1 tần số như sau: FE = 2 (1.20) V1 Ở đây V1, V2 - các phản hồi tần số cao và thấp được lọc như được trình bày ở hình 1. f1 f2 I Đầu vào V1 V2 Đầu ra Hình 1.2: Dạng sóng IP miền tần số Do dòng được tại biên độ ổn định trong khi tần số biến thiên, (1.20) có thể ρ − ρ1 được viết thành: FE = 2 (1.

ρ1 Ở đây ρ1 và ρ2 là các độ lớn (cường độ) tương ứng với điện trở suất biểu kiến tại tần số 1 và 2.21) thường được biểu hiện dưới dạng một hiệu ứng tần số phần trăm (PFE) hoặc FE x100%. Áp dụng các giá trị đầu và cuối theo phương trình (1.21) sẽ dẫn đến mối liên quan tương tự như mối liên quan sinh ra trong miền thời gian, hoặc: ρ dc − ρ ac FE = (1. ρ ac Mặc dù điện thế hoặc điện trở suất đo được tại thực địa là phức, tức là hàm của tần số, chỉ có biên độ của các phản hồi được sử dụng để xác định giá trị ngoài trời của FE. Phương trình (1.21) đều là lý thuyết và các hệ số thực địa (ngoài trời), là đáng quan tâm.

Định nghĩa - hệ số góc pha Đo đạc pha trong PCKT (IP) được định nghĩa như sự khác nhau trong góc pha giữa tín hiệu điện thế thu được và dòng dạng sóng đầu vào, thừa nhận các dạng sóng hình sin cho cả hai. Nếu như dòng đầu vào là một sóng vuông thì đo pha được định nghĩa (xác định) như góc pha giữa họa ba cơ bản của các tín hiệu truyền và nhận. Sự dịch chuyển pha trong miền tần số tương tự như sự dịch chuyển thời gian (chậm trễ, cho IP) trong miền thời gian. Một cách chính xác hơn, sự chậm trễ thời gian bằng đạo hàm của pha liên quan với tần số.

Dưới dạng điện trở suất, góc pha là arctg của tỷ số giữa hợp phần ảo của Im ρ điện trở suất với hợp phần thực, hoặc φ = tan −1 (1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Nghiên cứu đặc trưng dị trường phân cực kích thích dòng xoay chiều trên quặng sulfur đa kim tại Việt Nam là một tài liệu chuyên sâu tập trung vào việc phân tích các đặc tính điện từ của quặng sulfur đa kim thông qua phương pháp kích thích dòng xoay chiều. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn chi tiết về cấu trúc và tính chất vật lý của quặng mà còn đề xuất các ứng dụng tiềm năng trong lĩnh vực khai thác và chế biến khoáng sản. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các nhà khoa học, kỹ sư và sinh viên quan tâm đến lĩnh vực địa vật lý và khoáng sản.

Để mở rộng kiến thức về các phương pháp nghiên cứu khoa học, bạn có thể tham khảo Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường một mô hình dấu hiệu học về bản chất và quan hệ giữa các phạm trù thông tin, nơi cung cấp góc nhìn sâu sắc về các mô hình lý thuyết. Nếu quan tâm đến các phương pháp phân tích vật lý, Luận văn thạc sĩ vật lý sử dụng phương pháp tương đồng lượng tử để đánh giá phổ điểm tốt nghiệp phổ thông của một trường trung học phổ thông sẽ là tài liệu hữu ích. Cuối cùng, để hiểu rõ hơn về cách trình bày và tóm tắt các nghiên cứu khoa học, hãy khám phá 2 tóm tắt luận án tiếng Việt. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn đào sâu hơn vào các chủ đề liên quan, nâng cao hiểu biết của mình.