Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý rừng cộng đồng bền vững. Chương 2: Thực trạng công tác quản lý rừng cộng đồng trên địa ban tỉnh Lang Sơn. Chương 3: Đề xuất giải pháp quản lý phát triển rừng cộng đồng bền vững tại tỉnh Lạng Sơn. CHUONG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THUC TIEN VE QUAN LY RUNG CONG DONG BEN VUNG 1.
Khái niệm quan ly rừng cộng đồng - Cộng đồng Thuật ngữ “cộng đồng” theo thực tế xã hội nước ta có thể được định nghĩa một cách chung nhất là: “Cộng đồng bao gồm toàn thé những người sống thành một xã hội có những điểm giống nhau và có các mối quan hệ gan bó chặt chẽ với nhau”. Như vậy, tính chất giống nhau về một điểm hoặc một số điểm nao đó là yếu tố hình thành nên những quan hệ cộng đồng trong xã hội. Có nhiều loại cộng đồng khác nhau: cộng đồng sắc tộc, cộng đồng làng, xã (thôn, ban), cộng đồng tôn giáo. Sự gắn bó của một cộng đồng thường thê hiện qua các lệ tục, các quy ước thành văn bản hoặc không thành văn bản nhiều hơn là thé hiện bằng một hình thức tô chức của một pháp nhân kinh tế (Nguyễn Hồng Quân và Tô Đình Mai, 2000) [15].
Về mặt pháp lý, “Cộng đồng dân cư bao gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản buôn, bon, phum, sóc, tô dân phó, điểm dân cư tương tự và có cùng phong tục tập quán” (Quốc hội Việt Nam, 2017) [20]. Theo khoản 3, Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 [19] thì “Cộng đồng dân cư gồm cộng đồng người Việt Nam sinh sống trên cùng địa bàn thôn, làng, ấp, bản, buôn, phum, sóc, tô dân phố và điểm dân cư tương tự có cùng phong tục, tập quán hoặc có chung dòng họ”. Như vậy về mặt pháp lý thì cộng đồng dân cư giữa Luật Đất đai năm 2013 và Luật lâm nghiệp năm 2017 (có hiệu lực từ ngày 01/01/2019) cơ bản cùng định nghĩa về khái niệm cộng đông dân cư. - Ring cộng dong: Rừng cộng đồng là rừng được cộng đồng quản lý, bảo vệ, phát triển và sử dụng ồn định, lâu dài vào mục đích lâm nghiệp.
Có 3 loại hình rừng cộng đồng: - Thứ nhất, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp được cơ quan Nhà nước có thâm quyên giao cho cộng đồng quản lý, sử dụng ôn định lâu dài (có quyết định hoặc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và rừng, sau đây gọi tắt là giao). - Thứ hai, rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời nhưng chưa được Nhà nước giao (chưa có bat kỳ một loại giấy tờ hợp pháp nào, gọi tắt là chưa giao). Gồm các khu rừng thiêng, rừng ma, rừng mó nước, những khu rừng cung cấp lâm sản truyền thống cho cộng đồng. - Thứ ba, rừng và đất rừng sử dụng vào mục đích lâm nghiệp của các tổ chức nhà nước (Lâm trường, Ban quản lý rừng đặc dụng và rừng phòng hộ.) được các cộng đồng nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng lâu năm, gọi tắt là nhận khoán.
- Quản lý rừng: Bao gồm các khía cạnh sau + Chủ thé quản lý được giao quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý và hưởng lợi từ nguồn tài nguyên đất, rừng theo luật đất đai. + Tổ chức các giải pháp dé quản lý và sử dụng có hiệu quả tài nguyên rừng và đất rừng + Quan lý và sử dụng có kế hoạch, bảo đảm sự bền vững của nguồn tài nguyên rừng có thể tái tạo được - Quản lý rừng cộng đồng Thuật ngữ “Quan lý rừng cộng đồng” (QLRCĐ) đã được Tổ chức Nông Lương Thế giới (FAO) định nghĩa như sau: “QLRCĐ diễn tả hàng loạt các hoạt động gắn người dân với rừng, cây, các sản phẩm của rừng và việc phân chia lợi ích các sản phẩm này” (FAO, 1978). Theo Nguyễn Hồng Quân và Tô Đình Mai (2000) [15], QLRCD ở Việt Nam có hai nội dung phù hợp với định nghĩa trên, đó là: e Thứ nhất, rừng thuộc quyền sử dụng chung của cộng đồng, do các thành viên của cộng đồng cùng tham gia quản lý và kinh doanh. « Thứ hai, rừng không thuộc quyền sở hữu của cộng đồng, nhưng các thành viên của cộng đồng vẫn cùng tham gia quản lý các khu rừng đó.
Như vậy, các cộng đồng vẫn gan bó chặt chẽ với rừng trong các van dé: tạo việc làm, thu hoạch sản phẩm, thu nhập hoặc hưởng thụ những lợi ích không thê tính toán của rừng (như bảo VỆ nguôn nước, tín ngưỡng, di tích. Quản lý rừng cộng đồng là các hình thức quản lý trong đó người dân địa phương cùng nhau quan lý các nguồn tài nguyên rừng tự nhiên và chia sẻ lợi ích trong ranh giới cộng đồng của họ, mà ở đó quyền sử dụng đất và rừng lâu dài đã được chuyền giao sang cho những người dân quản lý rừng. Gần đây các thuật ngữ và rừng cộng đồng, quản lý rừng cộng đồng được bàn cãi nhiều trong giới khoa học cũng như trong các dự án. Cho đến nay chưa có có một thống nhất nào cho các thuật ngữ này ở Việt Nam mặc dù đã có những cuộc hội thảo quôc gia về rừng cộng đồng.
Theo Arnold 1992 [29], định nghĩa tổng quát về lâm nghiệp cộng đồng (LNCD), hiểu một cách chính xác và thiết thực nhất thì LNCD là một thuật ngữ bao trùm hàng loạt các hoạt động gắn kết người dân nông thôn với cây và rừng cũng như các sản phâm và lợi ich thu được từ cây rừng. Nói cách khác, Quản lý rừng cộng đồng là việc cộng đồng dân cư cùng nhau tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển khu rừng và đất rừng nhà nước giao và cộng đồng được quyền sử dụng rừng, hưởng lợi và chia sẻ lợi ích từ khu rừng mình quản lý theo quy định của pháp luật. Cộng đồng trong quản lý rừng là nhóm người có mối quan hệ gắn bó với nhau trong sản xuất và đời sống. Theo đó, cộng đồng không chỉ là cộng đồng dân cư toàn thôn mà còn bao gồm cả cộng đồng sắc tộc trong thôn; cộng đồng các dòng họ hoặc các nhóm hộ trong thôn (Bộ Nông Nghiệp &PTNT, 2006) [2].
- Cộng đồng quản lý rừng Hiện nay, cộng đồng quản lý rừng là một thực tiễn. Thực tiễn này đang chỉ ra nhiều hình thái và cách thức cộng đồng tham gia quản lý rừng, trong khi các khía cạnh về mặt pháp lý và chính sách về cơ chế hưởng lợi cho đối tượng cộng đồng dân cư thôn quản lý rừng đáng được từng bước cải thiện nhưng vẫn còn nhiều điểm chưa rõ ràng. Khuôn khổ luật pháp và chính sách của Chính phủ dan được hình thành và tạo ra cơ sở pháp lý quan trong cho việc phát triển (Nguyễn Bá Ngãi, 2009) [14]. Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 2004 [18], với tư cách là văn bản pháp lý quy định các quan hệ liên quan đến rừng (với tư cách là tài sản trên đất) quy định rõ, Nhà nước giao rừng phòng hộ, rừng sản xuất không thu tiền sử dụng rừng cho cộng đồng dân cư thôn quản lý, sử dụng 6n định, lâu dài với tư cách như một chủ rừng.
Điều 29 quy định cộng đồng được giao rừng là cộng đồng dân cư thôn có cùng phong tục, tập quán, có truyền thống gắn bó với rừng trong sản xuất, đời sống, văn hóa, tín ngưỡng; có khả năng quản lý rừng, có nhu câu và đơn xin giao rừng. Đến Luật Lâm nghiệp 2017 [20] tại Điều 86 có quy định: Cộng đồng dân cư được giao rừng tín ngưỡng, rừng phòng hộ và rừng sản xuất có quyền sau đây: Được Nhà nước bảo đảm kinh phí bảo vệ và phát triển rừng đặc dụng, rừng phòng hộ giao cho cộng đồng dân cư; Được hướng dẫn sản xuất lâm, nông, ngư nghiệp kết hợp, canh tác dưới tán rừng, chăn thả gia súc theo Quy chế quan lý rừng; được hỗ trợ phát triển kinh tế rừng, hỗ trợ phục hồi rừng bằng cây lâm nghiệp bản địa; Khai thác lâm sản trong rừng đặc dụng là rừng tín ngưỡng theo quy định tại Điều 52, rừng phòng hộ theo quy định tại Điều 55, rừng sản xuất là rừng tự nhiên theo quy định tại Điều 10 58, rừng sản xuất là rừng trồng theo quy định tại Điều 59 của Luật này; được chia sẻ lợi ích từ rừng theo chính sách của Nhà nước; được sở hữu cây trồng, vat nuôi và tài sản khác trên đất trồng rừng do chủ rừng đầu tư. Như vậy về mặt pháp lý, Từ những năm 2000 của thé ky 20, khuôn khô luật pháp về rừng cộng đồng và quan lý rừng cộng đồng dan được hình thành, ngày càng hoàn thiện đã tạo ra cơ sở pháp lý quan trọng cho phát triển rừng cộng đồng. Cộng đồng dân cư đã dần được thừa nhận là một trong những người sử dụng đất, sở hữu rừng qua các quy định trong Luật đất đai, Luật Bảo vệ và Phát triển rừng 2004 cho đến nay là Luật Lâm nghiệp 2017, và nhiều thông tư, nghị định, quy định về giao đất, giao rừng cho cộng đồng.
Tri thức bản địa trong quản lý rừng cộng đồng Quản lý rừng cộng đông luôn gan liên với tri thức ban địa, có nhiêu khái niệm về tri thức bản địa: Thuật ngữ “tri thức bản địa” được Robert Chambers dùng lần đầu tiên trong một ấn phẩm xuất bản năm 1979. Sau đó, được Brokensha và D.Warren sử dụng vào năm 1980 và tiếp tục được sử dụng, phát triển cho đến ngày nay [30]. - Theo Langil và Landon, 1998, tri thức ban địa (nói một cách rộng rãi), là tri thức được sử dụng bởi những người dân địa phương trong cuộc sống của một môi trường nhất định. Như vậy, tri thức bản địa có thé bao gồm môi trường truyền thống, tri thức sinh thai, tri thức nông thôn va tri thức địa phương.
Tri thức ban địa là những tri thức được rút ra từ môi trường địa phương, vì vậy nó gắn liền với nhu cầu của con người và điều kiện địa phương [3]. - Tri thức bản địa là tri thức của cộng đồng cư dân trong một cộng đồng nhất định phát triển vượt thời gian và liên tục phát triển (IIRR, 1999). Tri thức bản địa được hình thành dựa vào kinh nghiệm, thường xuyên kiểm nghiệm trong quá trình sử dụng, thích hợp với văn hoá và môi trường địa phương, năng động và biến đồi [20]. - Theo Nguyễn Xuân Quát (1996), Vấn đề trồng cây bản địa, Thông tin khoa học kỹ thuật và kinh tế lâm nghiệp, thuật ngữ tri thức truyền thống, tri thức địa phương, tri thức dân gian hay còn gọi là “tri thức ban dia”.