Đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện khí hậu tại vùng Nam Bộ Việt Nam

Tài liệu nghiên cứu Luận án đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch vùng nam, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Du Lịch

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Án Tiến Sĩ

2023

211
3
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN, PHƢƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH VÀ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN DU LỊCH

1.1. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung luận án

1.1.1. Trên thế giới

1.1.1.1. Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên cho phát triển du lịch
1.1.1.2. Các nghiên cứu đánh giá ĐKSKH cho phát triển du lịch

1.2. Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên cho phát triển du lịch

1.3. Các nghiên cứu đánh điều kiện SKH cho phát triển du lịch

2. CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM TÀI NGUYÊN VÀ ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU NAM BỘ

3. CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ TÀI NGUYÊN DU LỊCH, ĐIỀU KIỆN SINH KHÍ HẬU CHO CÁC LHDL NAM BỘ

MỞ ĐẦU

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Đánh giá tài nguyên du lịch vùng Nam Bộ

Vùng Nam Bộ Việt Nam sở hữu nhiều tài nguyên du lịch phong phú, bao gồm cả tài nguyên thiên nhiêntài nguyên nhân văn. Vị trí địa lý thuận lợi, nằm trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, cùng với sự hiện diện của các đô thị du lịch quốc gia như Vũng Tàu và Hà Tiên, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch Việt Nam. Đặc biệt, Nam Bộ có 338 di tích quốc gia, trong đó có 13 di tích quốc gia đặc biệt, và 1 di sản văn hóa phi vật thể được UNESCO công nhận. Những đặc điểm khí hậu Nam Bộ cũng rất thuận lợi cho hoạt động du lịch quanh năm, với biên độ nhiệt không quá chênh lệch và ít thiên tai. Tuy nhiên, hiệu quả của du lịch Nam Bộ hiện nay chưa tương xứng với tiềm năng, đặc biệt là sự phát triển không đồng đều giữa Tây Nam Bộ và Đông Nam Bộ.

1.1. Tiềm năng du lịch

Tiềm năng du lịch của Nam Bộ rất lớn, với nhiều địa điểm du lịch hấp dẫn như các bãi biển dài, hệ thống đảo và các khu dự trữ sinh quyển. Các hoạt động du lịch như du lịch sinh thái, du lịch văn hóadu lịch nghỉ dưỡng đang ngày càng phát triển. Tuy nhiên, sản phẩm du lịch còn thiếu tính đặc trưng và độc đáo, dẫn đến sự trùng lặp giữa các địa phương. Việc phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo và có tính liên kết vùng là cần thiết để nâng cao giá trị du lịch của Nam Bộ.

1.2. Đánh giá điều kiện sinh khí hậu

Điều kiện sinh khí hậu của Nam Bộ đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển du lịch. Khí hậu ổn định, ít thiên tai và có mùa mưa ngắn tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động ngoài trời. Việc áp dụng chỉ số TCI (chỉ số khí hậu du lịch) giúp đánh giá mức độ thuận lợi của khí hậu cho từng loại hình du lịch. Nghiên cứu về điều kiện sinh khí hậu sẽ giúp xác định thời gian và địa điểm thích hợp cho các hoạt động du lịch, từ đó nâng cao trải nghiệm của du khách.

II. Định hướng phát triển du lịch

Để phát triển du lịch bền vững tại Nam Bộ, cần có những định hướng rõ ràng dựa trên việc đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịchđiều kiện sinh khí hậu. Các loại hình du lịch như du lịch tham quan, du lịch nghỉ dưỡng, du lịch sinh tháidu lịch văn hóa cần được phát triển đồng bộ và có sự liên kết chặt chẽ giữa các địa phương. Việc xây dựng các sản phẩm du lịch độc đáo, gắn liền với văn hóa và thiên nhiên địa phương sẽ tạo ra sức hấp dẫn cho du khách. Đồng thời, cần chú trọng đến việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiêntài nguyên văn hóa để đảm bảo sự phát triển bền vững.

2.1. Phát triển sản phẩm du lịch

Phát triển các sản phẩm du lịch độc đáo và đặc trưng của từng địa phương là rất quan trọng. Các sản phẩm này không chỉ thu hút du khách mà còn góp phần bảo tồn văn hóa và thiên nhiên. Việc kết hợp giữa du lịch sinh tháidu lịch văn hóa sẽ tạo ra những trải nghiệm phong phú cho du khách, đồng thời nâng cao giá trị kinh tế cho cộng đồng địa phương.

2.2. Tăng cường liên kết vùng

Tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng Nam Bộ là cần thiết để phát triển du lịch một cách đồng bộ. Việc xây dựng các tuyến du lịch liên hoàn, kết nối các điểm đến sẽ giúp du khách dễ dàng tiếp cận và trải nghiệm nhiều loại hình du lịch khác nhau. Đồng thời, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp để tạo ra môi trường thuận lợi cho phát triển du lịch.

III. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn

Nghiên cứu về tài nguyên du lịchđiều kiện sinh khí hậu không chỉ có ý nghĩa lý luận mà còn mang lại giá trị thực tiễn cao. Kết quả nghiên cứu sẽ cung cấp cơ sở dữ liệu quan trọng cho các nhà quản lý và doanh nghiệp trong việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch. Đồng thời, nghiên cứu cũng góp phần nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị của tài nguyên thiên nhiêntài nguyên văn hóa, từ đó thúc đẩy sự tham gia của cộng đồng trong việc bảo tồn và phát triển du lịch.

3.1. Đóng góp cho lý luận

Nghiên cứu này bổ sung vào cơ sở lý luận về tài nguyên du lịchđiều kiện sinh khí hậu, làm rõ vai trò của các yếu tố này trong việc phát triển du lịch. Các phương pháp nghiên cứu và đánh giá được áp dụng sẽ giúp nâng cao chất lượng các nghiên cứu tiếp theo trong lĩnh vực này.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu sẽ là tài liệu tham khảo quý giá cho các cấp chính quyền địa phương trong việc lập kế hoạch phát triển du lịch. Đồng thời, các doanh nghiệp du lịch có thể dựa vào những thông tin này để xây dựng các sản phẩm du lịch phù hợp với nhu cầu của thị trường, từ đó nâng cao hiệu quả kinh tế cho ngành du lịch tại Nam Bộ.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Mở đầu là các công trình nghiên cứu của Đocutsaev - đã tổng hợp nghiên cứu các điều kiện tự nhiên của địa phƣơng cụ thể. Thập kỉ 60 và 70, I. Misônhitrencô (1969) [210] đã đánh giá các tiêu chí tự nhiên làm tiền đề cho việc tổ chức các vùng DLND. Từ thập niên 80, những nghiên cứu về đánh giá tài nguyên, lãnh thổ cho phát triển DL càng chi tiết và chuyên sâu cho từng LHDL: I.G Ixatsenko (1985) đã đánh giá tổng hợp thành phần của hệ thống lãnh thổ DL.

Hiện nay, ở nhiều nƣớc, DL đƣợc coi là ngành kinh tế mũi nhọn nên có nhiều nghiên cứu, đánh giá TNDL phục vụ cho khai thác, PTDL đạt hiệu quả cao hơn. Trong đó, Trung Quốc - quốc gia đứng đầu thế giới số lƣợng khách và thu nhập từ DL năm 2010, nên có nhiều công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về TNDL, Hu và Rit Chie.J (1993) đánh giá mức độ hấp dẫn của các điểm DL [176], Daniel Leung và nnk (2013) [154], Jianwei Quian và nnk (2019) [180] nghiên cứu hiện trạng DL Trung Quốc, C.Min (2008) [151] mô hình hóa các lợi ích của DL ngắn ngày và dài ngày từ DK Nhật Bản,v. Các hoạt động DL đã đƣợc tiêu chuẩn hóa, quản lý giám sát chặt chẽ gắn với bảo tồn, đặc biệt ở các nƣớc phát triển, có những công trình nghiên cứu xây dựng các định mức, tiêu chuẩn lắp đặt thiết bị, xây dựng CSVCKT phù hợp với sức chứa của môi trƣờng nhƣ R.Sharley và Telfer (2002) [198], de Freitas (2003) [163]; Baruch Givoni (2002) [146] nghiên cứu độ thoải mái khi hoạt động ngoài trời, Daniel Scott (2001) [156] đánh giá độ nhạy cảm của DL trƣợt tuyết ở vùng núi Lakeland (Ontario). Các nghiên cứu đánh giá ĐKSKH cho phát triển du lịch Lịch sử nghiên cứu SKH đã có từ lâu đời, rất nhiều tác giả nghiên cứu về khí hậu làm nền tảng cơ sở cho phát triển phân ngành SKH nhƣ W.

Koppen (Đức), Buđƣcô, Alixốp, S. Khrônốp, Yêu Ẩm Sinh,v. Nhiều nghiên cứu cho thấy SKH đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động DL, đặc biệt là DL ngoài trời. Hu & Ritchie (1992) [176]; de Freitas et al.

(2008) [162]; Asgary et al. (2011) [128] cho rằng khí hậu là chiếc chìa khóa để hình thành nhiều LHDL khác nhau, qua đó có thể đánh giá đƣợc vai trò của khí hậu đối với từng LHDL cụ thể. Becken (2013) [200] trong nghiên cứu của mình đã khẳng định SKH có tác động nhiều mặt đến hoạt động DL. Scott & Lemieux (2009) [159] và Gomez Martin (2005) [170] cho rằng điều kiện khí hậu tốt thì sẽ đem lại nhiều TL cho DL, dễ dàng thực hiện các hoạt động giải trí, nghỉ ngơi ngoài trời nhƣ lƣớt ván, đánh golf, leo núi, đi săn, câu cá.

Ngƣợc lại, thời tiết và khí hậu có thể tạo ra các yếu tố gây hại đến hoạt động DL nhƣ ô nhiễm không khí, nhiệt độ tăng cao, bão lũ. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của khí hậu tới hoạt động DL ngày càng nhiều hƣớng tiếp cận đánh giá khác nhau, theo đó, các yếu tố khí hậu ảnh hƣởng đến mùa vụ DL - một trong các nhân tố chính của hoạt động DL, và quyết định thời gian DL, ảnh hƣởng đến độ dài và chất lƣợng mùa DL cũng nhƣ môi trƣờng DL, tiêu biểu có Hamilton và Lau (2005) [179] hay A. Bigano và nnk (2006) [129], gần đây có C.Goh (2012) [150] nhấn mạnh vai trò của khí hậu tới lựa chọn điểm đến DL của DK, tác giả D. Maddison (2001) nghiên cứu tác động của biến đổi khí hậu (BĐKH) tới dòng khách du lịch [187]; Hadwen et al.

Trong đó, Mieczkowski (1985) [208] đã dựa trên các kết quả nghiên 8 cứu trƣớc về phân loại khí hậu cho DL, sự thoải mái của con ngƣời liên quan đến khí hậu và đặc điểm hoạt động DL để đƣa ra chỉ số khí hậu du lịch TCI dựa trên 7 yếu tố khí hậu, xây dựng tổ hợp các kiểu thời tiết đặc trƣng trong ngày với các mức độ ảnh hƣởng đến sức khỏe con ngƣời cũng nhƣ đến các hoạt động DL. Chỉ số TCI này đƣợc phát triển và ứng dụng trên nhiều nghiên cứu ở các vùng lãnh thổ khác nhau nhƣ thành phố Nir (Iran) [161], tỉnh Mazandaran (Iran) [134], bang Herzegovina - neretva (Bosnia) [174], Tbilisi (Georgia) [133], vùng Địa Trung Hải [153]. Không chỉ đƣợc áp dụng phổ biến ở các khu vực vĩ độ thấp, chỉ số này còn đƣợc sử dụng rộng rãi ở các khu vực khác trên thế giới. Amelung và Moreno (2009) [147] sử dụng chỉ số TCI này để đánh giá khí hậu hiện tại và dự đoán tƣơng lai cho toàn Châu Âu.

Ghislain Dubois (2016) [169] đã đƣa ra bức tranh hiện trạng ứng dụng chỉ số khí hậu này. Hiện nay, nhiều nghiên cứu còn kết hợp các chỉ số khí hậu khác với chỉ số TCI, trong đó có Elham Bubarak (2015) sử dụng đồng thời TCI với chỉ số nhiệt ẩm THI [165], Daniel Scott, Michelle Rutty (2016) [158] kết hợp đánh giá chỉ số khí hậu kỳ nghỉ (HCI) với TCI ở Châu Âu. Bên cạnh đó, từ chỉ số TCI đã phát triển thành nhiều hƣớng mới, theo hƣớng chuyên sâu hơn hoặc áp dụng các kỹ thuật thông tin hiện đại nhƣ chỉ số khí hậu nhiệt hiệu dụng toàn cầu (UTCI) của Krzysztof Blazejczyk và nnk (2013) [184], K.Pantovou (2013) [185], chỉ số thích nghi khí hậu du lịch (TTCI) [135], chỉ số khí hậu du lịch (CIT) – một chỉ số kết hợp ma trận các kiểu thời tiết để đánh giá mức độ thuận lợi của khí hậu tới DL theo 7 cấp khác nhau [189] của McBoyle, C. de Freitas và nnk (2008), Gongmei Yu [172] với chỉ số khí hậu bổ sung cho hoạt động DL (MCIT)– sử dụng các dữ liệu thời tiết đối lập nhau giữa hai bang Florida và Alaska.

Hội nghị Địa lý Quốc tế tại Kraków, Hà Lan (2014) đã có một số công trình nghiên cứu đáng chú ý nhƣ “Đánh giá ngưỡng nhiệt và tiềm năng du lịch dựa vào ĐKSKH ở một số thành phố của Hà Lan”[182]. Trong hội nghị toàn cầu lần II/2014 về thƣơng mại, kinh tế, quản lý và DL tại Praha (Tiệp Khắc), chỉ số TCI cũng đƣợc sử dụng để đánh giá cho phát triển DL của một vùng cụ thể (Amir Gandomkar [134]). Hội 9 nghị quốc tế lần thứ IV/2015 về môi trƣờng, năng lƣợng và công nghệ sinh học tại Madrid (Tây Ban Nha) [165] cũng có một số nghiên cứu đánh giá các chỉ số khí hậu TCI và THI. 10 năm gần đây, càng có nhiều nghiên cứu cụ thể, chi tiết về SKH ứng dụng, trong đó xu hƣớng chung là những đánh giá thích nghi của con ngƣời với BĐKH, Tổ chức du lịch thế giới (UNWTO) kết hợp với các tổ chức quốc tế khác đã nghiên cứu mối quan hệ giữa BĐKH và DL [205], các chính sách giảm thiểu và biện pháp thích ứng với BĐKH trong hoạt động DL [206].

Madhumathi và MC Sundarraja [132] sử dụng hệ thống thông tin địa lý (GIS) về các dữ liệu khí tƣợng nhƣ bức xạ mặt trời, gió, độ che phủ mây ở khu vực Talminadu (Ấn Độ) để đánh giá mức độ thích nghi của cơ thể con ngƣời sống trong vùng nhiệt đới ẩm.Mc Boyle (2004) [157] đánh giá tác động của BĐKH tới TNDL khu vực Bắc Mĩ, B, Jones, D.Scott thì nghiên cứu ở khu vực Canada [148]. Các nghiên cứu về ảnh hƣởng của BĐKH tới hoạt động DL ngày càng cụ thể và phổ biến, John Wash (2009)[180], Jacqueline M. Hamilton (2005) [178] , Gongmei yu, John Wash (2009) [172], Francesco Musco (2016) [165], Tervo-Kankare, Kaarina (2016) [202] với nhiều cách tiếp cận khác nhau về ảnh hƣởng của BĐKH và thách thức tới ngành DL. Các nhà nghiên cứu cũng đánh giá ảnh hƣởng của BĐKH trên nhiều mặt nhƣ dự đoán đến dòng khách DL đến Anh của Maddison (2001) [187], dự đoán luồng khách du lịch của Andrea Bigano (2006) [136], Agnew (2006) đánh giá ảnh hƣởng của yếu tố khí hậu trong thời gian ngắn ở Anh đáp ứng nhu cầu của du khách [128], hoặc cung cấp thông tin SKH DL cần thiết nhƣ A.

Các nghiên cứu đánh giá tổng hợp tài nguyên cho phát triển du lịch Đa số các công trình nghiên cứu đánh giá tổng hợp chủ yếu dựa trên nền tảng lý luận cảnh quan học với các công trình về phân vùng ĐLTN, nghiên cứu đánh giá cảnh quan và đánh giá tổng hợp ĐKTN, TNTN. Đánh giá tổng hợp các ĐKTN và TNTN phuc vụ phát triển KTXH nói chung đã có rất nhiều công trình nghiên cứu vừa có ý nghĩa phƣơng pháp luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn cao. Việc nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên phục vụ PTDL có những bƣớc tiến quan trọng cả về 10 số lƣợng lẫn chất lƣợng các công trình. Một số công trình tiêu biểu nhƣ: Nguyễn Đức Chính – Vũ Tự Lập [16]; Phạm Hoàng Hải, Nguyễn Thƣợng Hùng, Nguyễn Ngọc Khánh [28]; Nguyễn Văn Nhƣng, Nguyễn Văn Vinh [64]; Lê Đức An và nnk [1], Vũ Tuấn Cảnh (chủ biên) [13], Lê Thông [89], Phạm Trung Lƣơng, Đặng Duy Lợi [49], Nguyễn Minh Tuệ và nnk (2003) [100] đã hệ thống hóa các khái niệm cơ bản về DL, TNDL và định hƣớng khai thác tiềm năng DL ở các vùng DL của Việt Nam.

Tổng cục Du lịch Việt Nam (2012)[9] cũng đã đánh giá tổng hợp các tài nguyên và định hƣớng chiến lƣợc trong khai thác các dạng tài nguyên này thông qua “Chiến lược phát triển phát triển DL Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030”[12] và “Quy hoạch tổng thể phát triển DL Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” ‫ ٭‬Hƣớng đánh giá tài nguyên phát triển ngành kinh tế chủ yếu ở một số lãnh thổ, địa phƣơng cụ thể ở nƣớc ta đã đƣợc đầu tƣ nghiên cứu từ rất sớm, đã có nhiều công trình, đơn cử nhƣ: Phạm Hoàng Hải và nnk [27]; Đỗ Trọng Dũng (2009) [21]; Nguyễn Hữu Xuân (2009) [123]. Các công trình này đã đƣa ra các khái niệm về DL, TNDL, cơ sở lý luận và thực tiễn trong đánh giá TNDL và đã đánh giá tiềm năng phục vụ quy hoạch PTDL trên quy mô toàn quốc hoặc từng lãnh thổ với những giá trị lý luận và thực tiễn rất cao. Các nghiên cứu đánh điều kiện SKH cho phát triển du lịch Đầu tiêu phải điểm đến các công trình khí hậu cơ bản của các nhà nghiên cứu: Phạm Ngọc Toàn, Phan Tất Đắc (1975) [95]; Nguyễn Đức Ngữ, Nguyễn Trọng Hiệu (2004) [60]; Mai Trọng Thông, Hoàng Xuân Cơ (2002) [91]; Trần Công Minh (2007)[52]; Đi tiên phong là các nhà y học nhƣ Đào Ngọc Phong, Trịnh Bỉnh Di với các công trình: “Thiên nhiên và sức khỏe” (1987) [70], phân tích mối quan hệ giữa khí hậu và sức khỏe, sự rèn luyện cơ thể để thích ứng với điều kiện môi trƣờng.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Đánh giá tài nguyên du lịch và điều kiện khí hậu tại vùng Nam Bộ Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về tiềm năng du lịch của khu vực Nam Bộ, với sự phân tích chi tiết về tài nguyên tự nhiên và điều kiện khí hậu. Tác giả không chỉ đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch mà còn đề xuất các giải pháp nhằm tối ưu hóa việc khai thác tài nguyên du lịch trong bối cảnh biến đổi khí hậu. Độc giả sẽ tìm thấy thông tin hữu ích để hiểu rõ hơn về cách thức phát triển bền vững trong ngành du lịch, từ đó có thể áp dụng vào các dự án hoặc nghiên cứu liên quan.

Nếu bạn quan tâm đến các khía cạnh khác của du lịch tại Việt Nam, hãy khám phá thêm các bài viết liên quan như "Nghiên cứu phát triển du lịch làng nghề truyền thống tại Làng Chuông, Thanh Oai, Hà Nội", nơi phân tích điều kiện phát triển du lịch làng nghề, hay "Luận án Tiến sĩ Kinh tế về Phát triển Bền vững Du lịch tại Thanh Hóa", cung cấp cái nhìn về phát triển bền vững trong ngành du lịch. Ngoài ra, bạn cũng có thể tham khảo "Luận án tiến sĩ: Các yếu tố ảnh hưởng tới sự phát triển du lịch xanh ở Việt Nam", để hiểu rõ hơn về xu hướng du lịch xanh đang ngày càng được ưa chuộng. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và có cái nhìn đa chiều về ngành du lịch tại Việt Nam.