Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYÉT, CÁCH TIẾP CẬN, PHƯƠNG PHÁP VÀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu 1. Một số công trình nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ, người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ Tính đến thời điểm hiện nay (đầu năm 2024), có thé khang định đã có kha nhiều công trình nghiên cứu, vừa hệ thống, bao quát vừa kết hợp chuyên sâu về đồng bằng Bắc Bộ cũng như về người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ. Tri thức về không gian vùng, từ những vấn đề về địa lý, lịch sử đến các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội nói chung giúp cho chúng tôi có hình dung rõ hơn, làm cơ sở mô tả và phân tích bộ công cụ trồng lúa của người Việt ở đồng bang Bắc Bộ.
Có thé ké tới một số công trình tiêu biểu sau đây: Trong công trình Les Paysans Du Delta Tonkinois - Etudes Delta Tonkinois (Người nông dân châu thổ Bắc Kỳ (Nghiên cứu địa lý nhân văn), Pierre Gourou. Sách được xuất bản vào năm 1936 [25]. Trong cuốn sách này, tác giả nghiên cứu chủ yếu về vùng châu thổ sông Hồng, một châu thổ vào loại đông dân nhất thế giới, cái nôi của nền văn minh Việt Nam. Cuốn sách này được xem là công trình nghiên cứu đầu tiên về nông dân học, về nông nghiệp gia đình và về hệ thống nông nghiệp.
Hơn nữa, trong cuốn sách này có nhắc đến một số kỹ thuật trong trồng lúa của nông dân vùng châu thé sông Hồng, song vẫn chưa đề cập cụ thé, còn sơ sài và chưa đầy du thông tin. Tác giả sách Văn hóa cu dân Đông bang sông Hong [58] đã giới thiệu khung cảnh môi trường tự nhiên của văn hóa và cư dan ĐBSH; phân tích các đặc điểm của cư dân với vai trò chủ thể sáng tạo ra văn hóa nơi đây; khái quát các đặc trưng văn hóa vùng; khang định những giá trị văn hóa truyền thống và yêu cầu xây dựng nền văn hóa mới dựa trên sự kế thừa và phát huy tinh hoa văn hóa truyền thống. Đề cập đến các nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ, chắc chắn không thể không nhắc đến Lang ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hong: vấn dé còn bỏ ngỏ do 18 Philippe Papin - Olivier Tessier chủ biên, Trung tâm Khoa học xã hội và Nhân văn quốc gia, là thành quả của chương trình nghiên cứu về làng xã Việt Nam vùng ĐBSH từ năm 1996 đến năm 1999 [74]. Công trình tập trung nghiên cứu những biến động của làng.
Công tác nghiên cứu được tiến hành trên thực địa, tại bốn làng tiêu biéu là: làng Hay (Thanh Ba, Phú Thọ) ở vùng trung du; làng Mộ Trạch (Bình Giang, Hải Dương); làng Tả Thanh Oai (Thanh Tri, Hà N6i) - làng chuyên canh lúa; làng Ninh hiệp (Gia Lâm, Hà Nội) - làng buôn bán sát cạnh thủ đô. Các nhà nghiên cứu đã chú trọng nghiên cứu các làng này trên những phương diện: không gian làng xã, quan hệ họ tộc, vấn dé di dân, tập tục thờ cúng, kinh tế nông thôn và van đề ruộng đất. Tất cả những chủ đề này đều xoay quanh một chủ đề lớn là những biến động ở nông thôn vùng đồng bằng châu thổ sông Hong. Đây là công trình được đầu tư nghiên cứu tỉ mi, công phu và chuyên nghiệp, là nguồn tư liệu quý giá khi nghiên cứu về kinh tế, văn hoá vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng nói chung và công cụ trồng lúa nước nói riêng.
Tác giả Diệp Đình Hoa với Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ đã giới thiệu tương đối toàn diện về người Việt ở vùng đồng bằng Bắc Bộ từ cách tiếp cận dân tộc học. Ở phần đầu, tác giả cung cấp những nhận thức về vùng đất lâu đời này của các nhà địa chất học, địa lý học, về địa - văn hoá, phân vùng kinh tế, hành chính; môi trường vật lý vùng (địa hình, đất, nước, khí hậu, động - thực vật, cơ sở hạ tầng. Phần trọng tâm của sách là các nội dung về cư dân vùng đồng bang Bac Bộ: tộc danh, các đặc điểm tộc người, biến động dân số, lao động, việc làm.; qua trình chiếm lĩnh vùng; quá trình hội nhập vùng đồng bang qua các tư liệu khảo cổ học; tính thống nhất trong đa dạng của tộc người Âu Việt và Lạc Việt; nhà nước; ý thức xây dựng cơ sở, cơ chế văn hiến; tính năng động chủ quan; phong tục - tập quán ăn, mặc, ở; đời sống tín ngưỡng - tâm linh; văn hoá ứng xử, văn hoá cơ cấu; môi trường nhân văn; văn hoá dân gian; nghệ thuật biểu diễn. Liên quan đến vấn đề công cụ trồng lúa nước của người Việt ở vùng đồng bằng Bắc bộ, Diệp Đình Hoa nhấn mạnh “những người Việt cổ đem nghề nông trong lúa nước tràn xuống chiếm lĩnh vùng đồng bằng Bắc Bộ.
Dé làm chủ được vùng dong bang này, họ phải phát triển nghề trong lúa nước. Điều đó đã tạo cho họ 19 một cơ chế tất yếu dựa trên bản vị gạo” [40]. Những cư dân này đã sử dụng những công cụ, vũ khí có vai cách đây 4000 - 5000 năm. Theo tác giả, ở vùng châu thé sông Hong, các nhà khảo cổ học đã tìm thấy nhiều di chỉ, di vật, khí cụ trồng, canh tác lúa gạo bằng đá, đồng, sắt,.
được chế tác ti mi và công phu,. Nguyễn Thị Phương Anh với Không gian văn hóa người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ [3] đã lựa chọn tiếp cận khu vực học, coi đồng bang Bắc Bộ như một không gian văn hóa, một phạm vi diễn ra quá trình sáng tạo của một cộng đồng cư dân. Trong đó, tác giả đã sử dụng các chất liệu bao gồm 12.487 câu ca dao, tục ngữ xếp thành các tô hợp phân vào bốn thành tố văn hóa: sản xuất ra của cải vật chất, đảm bảo đời sống, quy phạm và đời sống tâm linh bằng phương pháp định lượng, định lượng kết hợp với các phương pháp truyền thống như mô tả, tong hợp, diễn dịch, bình luận hay phân tích,. dé hoàn thành công trình chuyên khảo có giá tri này.
Những công trình nghiên cứu về văn hoá, nông nghiệp, nông thôn và nghề trong lúa nước Một số công trình nghiên cứu về văn hóa nông nghiệp, nông thôn và nghề trồng lúa nước. dé tìm hiểu bối cảnh kinh tế, chính trị, văn hóa, lịch sử. dẫn đến sự ra đời và biến đổi của các công cụ trồng lúa nước ở Việt Nam nói chung, có thé kể tới như các công trình tiêu biểu như: Cây lúa và kĩ thuật trong lúa (1957); Cây lúa miễn Bắc Việt Nam (1957) [27]; Lúa xuân miên Bắc Việt Nam (1972) [29] của tác gia Bùi Huy Đáp; Giáo trình Kỹ thuật trong lúa (dùng trong các trường THCN) của tác giả Dinh Thế Lộc (2006) [61],. Các tài liệu này đã tập trung phân tích đặc điểm sinh thái của cây lúa, tình hình sản xuất và triển vọng của nghề trồng lúa ở Việt Nam nói chung và ở miền Bắc nói riêng.
Đây là những nghiên cứu có ý nghĩa đối với chúng tôi trong việc nhìn nhận bao quát về quy trình trồng lúa gắn với vòng đời cây lúa và gắn với tính mùa vụ của nền sản xuất lúa nước của Việt Nam từ truyền thống đến hiện đại. Trong sách Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long, các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường [11] đã đề cập đến một số nông cụ của người Việt và người Khmer như: bừa, chiéc phảng, noc cây, lưỡi hái, liêm, cộ, 20 cày xẻ, cày lật đất, cày máy. Những nông cụ này được trình bày một cách ngắn gọn, không đi sâu mô tả chỉ tiết về kiểu dáng cũng như cách thức sử dụng. Công trình Nông nghiệp Việt Nam (1945 - 1995) (Agriculture of Vietnam 1945 - 1995) [17] đã cung cấp nhiều nguồn thông tin phong phú, toàn diện về điều kiện sản xuất, quan hệ sản xuất, lực lượng sản xuất, kết quả và hiệu quả kinh tế của cả nước, từng vùng, từng địa phương từ 1945 đến 1995; các tri thức được hệ thống hóa theo thứ tự thời gian, từng giai đoạn lịch sử.
Công trình này có giá trị tham khảo lớn đối với những ai quan tâm đến nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam nói chung; Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn vùng ĐBSH [77] cung cấp một số van đề lý luận trong cơ cau kinh tế nông nghiệp và nông thôn, đánh giá hiện trạng cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn của Đồng bằng sông Hồng, từ đó đã đưa ra được các định hướng về cơ cấu kinh tế nông nghiệp nông thôn đến năm 2000 trong đó định hướng phát triển về các ngành nông nghiệp, công nghiệp, thủ công nghiệp và dịch vụ. Hơn nữa, sách đưa ra một hệ thống các giải pháp nhằm chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn của vùng với sự chuyển đổi từ một nền sản xuất tự cấp tự túc sang một nền sản xuất hàng hóa và có cơ cầu hop ly; Đổi mới tổ chức và quản lý các hợp tác xã trong nông nghiệp, nông thôn [79] đã khái quát toàn bộ quá trình phát triển của các hình thức tô chức, quản lý hợp tác xã ở nông thôn Việt Nam từ trước đây đến khi chuyền sang kinh tế thị trường. Qua đó, tác giả tập trung phân tích thực trạng, mô hình tô chức quản lý các hợp tác xã ở một số địa phương tiêu biểu, từ đó đã phác họa một SỐ phương hướng và giải pháp chủ yếu để xây dựng mô hình tổ chức quản lý có hiệu quả cho các loại hình hợp tác xã. Tác giả sách Văn minh vật chất người Việt [108] đã dành nhiều tâm huyết quan sát, miêu tả những đồ vật, công cụ.
được sử dụng trong cuộc sống hàng ngày của người Việt xưa. Trong công trình này, một số công cụ trồng lúa nước đã được tác giả giới thiệu công phu, kết hợp mô tả với dựng cảnh sinh hoạt của người nông dân gắn liền với công cụ đó, kết hợp với hình ảnh chụp hoặc hình vẽ minh họa. Còn trong Tim hiểu văn hóa nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam [122], nhà nghiên cứu trình bày rõ nét những điêu cân biết, đặc trưng của văn hóa nông nghiệp, 21 nông thôn và nông dân Việt Nam như các hệ sinh thái nông nghiệp, tình hình sản xuất nông nghiệp Việt Nam, vai trò của làng, xóm và những nhân tố tác động về tự nhiên và xã hội đến văn minh nông nghiệp, nông thôn và nông dân Việt Nam. Sách Một số van dé phát triển nông nghiệp, nông thôn [84], tác giả đã đánh giá một cách khái quát về tình hình và đặc điểm nông nghiệp, nông thôn Việt Nam sau 20 năm đổi mới và phát triển.