Tổng quan luận án
Đề tài "Công cụ trồng lúa nước của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ" được nghiên cứu sinh Hoàng Thị Thêm thực hiện thuộc chuyên ngành Việt Nam học (mã số: 9310630.01) tại Viện Việt Nam học và Khoa học phát triển, Đại học Quốc gia Hà Nội, dưới sự hướng dẫn của GS. Phạm Hồng Tung và PGS. Lê Văn Tấn (bảo vệ năm 2024).
Tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ vị trí của đồng bằng Bắc Bộ như một trung tâm phát sinh nông nghiệp trồng lúa nước lâu đời của người Việt. Trải qua các thời kỳ lịch sử, từ văn hóa Phùng Nguyên đến văn hóa Đông Sơn và thời kỳ hiện đại, hệ thống công cụ sản xuất luôn giữ vai trò quyết định đối với năng suất và đời sống kinh tế - xã hội nông thôn. Từ năm 1954 khi miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội, qua các mốc 1975 và đặc biệt từ sau Đổi mới năm 1986 đến nay, các công cụ cơ giới đã từng bước thay thế công cụ thủ công. Khoảng trống nghiên cứu được tác giả xác định: các công trình trước đây thường tiếp cận công cụ một cách độc lập, thuần túy kỹ thuật hoặc tách rời nông cụ khỏi chủ thể sản xuất; chưa có công trình nào nghiên cứu toàn diện, hệ thống về bộ công cụ trồng lúa nước từ truyền thống đến hiện đại đặt trong mối liên hệ trực tiếp với người nông dân và quy trình canh tác. Bên cạnh đó, quá trình hiện đại hóa đang tạo nguy cơ mai một các giá trị di sản vật chất và ký ức nông nghiệp truyền thống.
Mục đích nghiên cứu của luận án là khảo sát, thống kê và mô tả hệ thống công cụ trồng lúa nước của cư dân đồng bằng Bắc Bộ từ truyền thống đến hiện đại; làm rõ vai trò, tác động của hệ thống này đối với hoạt động sản xuất lúa nước; trên cơ sở đó đề xuất một số gợi ý bảo tồn và phát huy giá trị của công cụ như một dạng di sản văn hóa.
Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Thứ nhất, thu thập và hệ thống hóa các nguồn tài liệu về công cụ trồng lúa nước của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ (tài liệu hiện vật, tài liệu thành văn, tài liệu dân gian).
- Thứ hai, hệ thống hóa theo quy trình trồng lúa nước, mô tả và phân tích bộ công cụ truyền thống cùng dấu ấn của chúng trong tâm thức cộng đồng.
- Thứ ba, hệ thống hóa theo quy trình trồng lúa nước bộ công cụ hiện đại và vai trò của chúng đối với quá trình sản xuất nông nghiệp.
- Thứ tư, đề xuất một số giải pháp bảo tồn, lưu giữ bộ công cụ như một hình thức bảo tồn di sản vật chất và ký ức nông nghiệp đối với cộng đồng (đây là nhiệm vụ bổ sung, ba nhiệm vụ đầu là trọng tâm).
Luận án đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu trọng tâm:
- Diện mạo, cấu trúc và quá trình phát triển của bộ công cụ lao động trong sản xuất lúa nước từ truyền thống đến hiện đại của nông dân đồng bằng Bắc Bộ như thế nào?
- Những đặc điểm, vai trò, giá trị cơ bản của bộ công cụ truyền thống và bộ công cụ hiện đại là gì; sự tiếp nối giữa truyền thống và hiện đại diễn ra ra sao?
- Vai trò và tác động của bộ công cụ trồng lúa nước trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp nông thôn hiện nay thể hiện như thế nào?
- Những giá trị văn hóa của công cụ trồng lúa nước trong đời sống, phong tục, tập quán, tâm thức người Việt biểu hiện thế nào và làm sao để bảo tồn, phát huy giá trị của chúng?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Hệ thống công cụ được sử dụng trong hoạt động trồng lúa nước, đặt trong bối cảnh điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội ở khu vực đồng bằng Bắc Bộ từ truyền thống đến hiện đại.
- Phạm vi nội dung: Luận án phân loại công cụ thành 02 nhóm chính: công cụ truyền thống (thô sơ, gắn với thủ công) và công cụ hiện đại (gắn với cơ giới hóa, cơ khí hóa), khảo sát xuyên suốt 5 bước trong quy trình canh tác gồm: (1) khâu làm đất, (2) khâu gieo cấy, (3) khâu chăm sóc, (4) khâu thu hoạch và vận chuyển, (5) khâu bảo quản.
- Phạm vi thời gian: Khảo sát tiến trình phát triển từ truyền thống đến hiện đại (giai đoạn 2023 - 2024), trong đó các mốc lịch sử 1954, 1975 và 1986 được sử dụng làm tham chiếu phân kỳ; luận án chủ yếu tiếp cận loại hình theo chiều đồng đại.
- Phạm vi không gian: Vùng châu thổ sông Hồng gồm 10 tỉnh, thành phố được bồi đắp bởi hai hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình (Hà Nội, Bắc Ninh, Hà Nam, Hải Dương, Hải Phòng, Hưng Yên, Nam Định, Thái Bình, Vĩnh Phúc, Ninh Bình). Tác giả loại trừ tỉnh Quảng Ninh do có sự khác biệt về địa hình, không thuộc phạm vi bồi tụ phù sa của hai con sông chính và có tập quán canh tác khác biệt. Địa bàn khảo sát thực địa chuyên sâu được chọn tại các điểm thuộc Hải Dương, Thái Bình và Hà Nội.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Tổng quan lịch sử nghiên cứu trong luận án được tác giả phân chia thành ba nhóm công trình chính:
Nhóm nghiên cứu về đồng bằng Bắc Bộ và cư dân người Việt: Công trình Les Paysans Du Delta Tonkinois (1936) của Pierre Gourou nghiên cứu địa lý nhân văn vùng châu thổ sông Hồng, ghi nhận một số kỹ thuật canh tác lúa nhưng còn khái quát. Công trình Làng ở vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng: vấn đề còn bỏ ngỏ (1996 - 1999) do Philippe Papin và Olivier Tessier chủ biên khảo sát tại bốn làng tiêu biểu (làng Hay ở Phú Thọ, làng Mộ Trạch ở Hải Dương, làng Tả Thanh Oai ở Hà Nội và làng Ninh Hiệp ở Gia Lâm), làm rõ các biến động kinh tế nông thôn và ruộng đất. Diệp Đình Hoa trong Người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ phân tích cơ chế sinh tồn "bản vị gạo" và chỉ ra dấu tích các công cụ đồ đá, đồng, sắt từ 4.000 - 5.000 năm trước. Nguyễn Thị Phương Anh trong chuyên khảo Không gian văn hóa người Việt đồng bằng Bắc Bộ qua ca dao, tục ngữ xử lý khối tư liệu 12.487 câu ca dao, tục ngữ để phân tích các thành tố sản xuất vật chất của cư dân.
Nhóm công trình về văn hóa, nông nghiệp, nông thôn và nghề trồng lúa nước: Các công trình nông học của Bùi Huy Đáp gồm Cây lúa và kĩ thuật trồng lúa (1957), Cây lúa miền Bắc Việt Nam (1957), Lúa xuân miền Bắc Việt Nam (1972) và giáo trình của Đinh Thế Lộc (2006) cung cấp kiến thức về chu trình sinh thái cây lúa và tính mùa vụ. Các tác giả Nguyễn Công Bình, Lê Xuân Diệm, Mạc Đường trong Văn hóa và cư dân đồng bằng sông Cửu Long điểm qua các nông cụ Nam Bộ (phảng, nọc cấy, cộ, cày lật đất...). Công trình Nông nghiệp Việt Nam (1945 - 1995) tổng kết lực lượng sản xuất và cơ cấu kinh tế qua từng thời kỳ; công trình của Nguyễn Trung Quế phân tích chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng. Phan Ngọc trong Văn minh vật chất người Việt mô tả công phu đời sống sinh hoạt gắn với các dụng cụ truyền thống.
Nhóm nghiên cứu trực tiếp về công cụ nông nghiệp:
- Về thư tịch cổ: Tác phẩm Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn ghi chép nhiều nông cụ như đụn chứa thóc, gầu tát nước, sái bàn, bình đầu cơ (nong), sàng, đòn mềm, đòn xóc, cược (cuốc). Bộ Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú và các bộ chính sử (Đại Việt sử ký toàn thư, Đại Việt sử ký tiền biên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục) ghi chép rải rác về nông cụ trong các phần Dư địa chí, Canh nông.
- Thời kỳ cận - hiện đại: Đào Duy Anh trong Việt Nam văn hóa sử cương (1938) mô tả công cụ nông nghiệp trong phần kinh tế sinh hoạt. Bộ tranh khảo cứu Technique du peuple Annamite (1908 - 1909) của Henri Oger gồm 4.577 bức tranh dân gian khắc họa chân thực kỹ thuật và nông cụ vùng đồng bằng Bắc Bộ. René Dumont trong La Culture du riz dans le delta du Tonkin (1935) trình bày 17 chương khảo cứu tỉ mỉ kỹ thuật canh tác, giống lúa, công cụ cày bừa, tưới tiêu, thu hoạch kèm 40 hình vẽ minh họa.
- Các nghiên cứu chuyên sâu về nông cụ: Ngô Đức Thịnh trong Tìm hiểu nông cụ cổ truyền Việt Nam (lịch sử và loại hình) và Nguyễn Quang Khải trong Nông cụ và đồ gia dụng của nông dân Đồng bằng Bắc Bộ phân loại công cụ theo tiến trình canh tác; Đặng Văn Thắng nghiên cứu nông cụ qua các địa bàn Nam Bộ (Vĩnh Long, Đồng Tháp Mười, Cần Đước); Bùi Thiết và Mai Khắc Ứng trong Bách khoa thư làng Việt cổ truyền thống kê 36 mục từ về công cụ và 12 mục từ về thao tác kỹ thuật nông nghiệp.
Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết: Luận án không nhìn nhận công cụ dưới dạng mô tả hiện vật tĩnh hay tách rời công cụ khỏi tiến trình kinh tế - xã hội như các nghiên cứu trước đây. Tác giả chọn khoảng trống liên kết công cụ với người nông dân trong toàn bộ chu trình canh tác 5 bước, kết hợp khảo sát cả công cụ truyền thống và công cụ hiện đại, đồng thời xem xét công cụ dưới góc độ di sản văn hóa vật chất cần bảo tồn.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Luận án vận dụng hai hệ thống lý thuyết nền tảng:
- Lý thuyết khu vực học (Area Studies): Luận án kế thừa quan niệm về khu vực học của John Canning, Fernand Braudel, Yumio Sakurai (cảnh quan khu vực là kết quả tương tác giữa môi trường tự nhiên và môi trường nhân tạo), Alan Tansman, Szandon và các học giả thuộc Viện GIGA (Cộng hòa Liên bang Đức). Tại Việt Nam, luận án vận dụng quan điểm của GS. Nguyễn Quang Ngọc, GS. Vũ Minh Giang và định hướng của GS. Phạm Hồng Tung về ba nhân tố của khu vực học (cung cấp đầu vào chính sách, hướng tới phát triển bền vững và tính mở liên ngành). Luận án dùng lý thuyết khu vực học để đánh giá tài nguyên, phân tích cơ cấu kinh tế nông nghiệp và khảo sát tương tác xã hội - văn hóa xung quanh việc sử dụng công cụ tại đồng bằng Bắc Bộ.
- Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội của chủ nghĩa Mác - Lênin: Luận án tiếp cận công cụ lao động như một bộ phận cấu thành mang tính quyết định của lực lượng sản xuất. Sự phát triển và cải tiến của công cụ lao động làm tăng năng suất, biến đổi phương thức sản xuất, từ đó thúc đẩy sự điều chỉnh quan hệ sản xuất và cơ cấu tổ chức nông thôn qua các thời kỳ lịch sử.
Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp luận: Sử học Marxist, giải thích sự biến đổi công cụ gắn liền với phương thức sản xuất và bối cảnh lịch sử cụ thể.
- Phương pháp điền dã, quan sát thực địa: Tác giả tiến hành 4 đợt khảo sát thực tế tại các địa phương:
- Đợt 1 (28 - 29/12/2019): xã Nam Thắng (huyện Tiền Hải) và xã Hòa An (huyện Thái Thụy), tỉnh Thái Bình.
- Đợt 2 (20 - 22/02/2020): xã Thái Học (huyện Bình Giang), tỉnh Hải Dương.
- Đợt 3 (17 - 19/02/2021): xã An Phú (huyện Mỹ Đức), thành phố Hà Nội.
- Đợt 4 (18 - 20/12/2021): xã Văn Tố (huyện Tứ Kỳ), tỉnh Hải Dương.
- Phương pháp phỏng vấn sâu: Thực hiện trên 28 đối tượng nhằm khai thác tri thức dân gian, ký ức chế tác và thực trạng cơ giới hóa.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Sử dụng 300 bảng hỏi đối với các hộ nông dân tại Hải Dương, Thái Bình và Hà Nội theo phương thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện.
| TT |
Khách thể nghiên cứu |
Hình thức thu thập |
Số lượng |
| 1 |
Nông dân |
Điều tra bằng bảng hỏi |
300 |
| 2 |
Nông dân |
Phỏng vấn sâu |
13 |
| 3 |
Cán bộ huyện |
Phỏng vấn sâu |
3 |
| 4 |
Cán bộ xã |
Phỏng vấn sâu |
3 |
| 5 |
Cán bộ dịch vụ nông nghiệp |
Phỏng vấn sâu |
5 |
| 6 |
Trưởng thôn / người có uy tín |
Phỏng vấn sâu |
4 |
Bên cạnh đó, luận án sử dụng phương pháp so sánh - đối chiếu (đồng đại và lịch đại giữa các vùng sinh thái), phương pháp phân tích, tổng hợp và phân loại hình học thuật.
Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: tư liệu thành văn (chính sử, địa chí, báo cáo hợp tác xã); tài liệu hiện vật lưu giữ tại các viện bảo tàng và trong các gia đình nông dân; tài liệu điền dã (ghi âm, sổ ghi chép, hình ảnh thực địa); tài liệu văn hóa dân gian (ca dao, tục ngữ, nghi lễ nông nghiệp) và tài liệu điện tử.
Đặc điểm địa bàn đồng bằng Bắc Bộ: Diện tích tự nhiên toàn vùng khoảng 21.259,6 km² (số liệu năm 2016, chiếm 4,5% diện tích cả nước), dân số năm 2020 là 23,8 triệu người với mật độ 1.060 người/km² (trong đó người Kinh chiếm 22 triệu người, tương đương 97,9%). Địa hình nghiêng thoải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, mạng lưới sông ngòi có mật độ 0,5 - 1,0 km/km² thuộc hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình, lượng mưa trung bình năm đạt 1.740 mm (tập trung 80% từ tháng 5 đến tháng 10).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lý thuyết, cách tiếp cận, phương pháp và địa bàn nghiên cứu
Chương 1 hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu liên quan đến vùng đồng bằng Bắc Bộ, văn hóa trồng lúa nước và các công cụ nông nghiệp từ thời phong kiến, thời kỳ thuộc Pháp đến giai đoạn hiện đại. Tác giả xác lập khung lý thuyết với trọng tâm là lý thuyết khu vực học và lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội; định hình ba hướng tiếp cận (đồng đại - loại hình, lịch sử, văn hóa - xã hội). Chương này cũng trình bày kết quả xây dựng hệ thống phương pháp nghiên cứu, kế hoạch khảo sát thực địa qua 4 đợt tại Thái Bình, Hải Dương, Hà Nội, bảng cơ cấu mẫu điều tra xã hội học 300 hộ và 28 phỏng vấn sâu. Đồng thời, tác giả khái quát điều kiện tự nhiên, địa lý, thủy văn, khí hậu và kinh tế - xã hội của vùng đồng bằng Bắc Bộ với 10 tỉnh, thành phố được xác định làm phạm vi không gian nghiên cứu.
Chương 2: Bộ công cụ truyền thống trong quy trình trồng lúa nước
Chương 2 mô tả chi tiết nguồn gốc, cấu tạo, vật liệu chế tác và phương thức vận hành của hệ thống công cụ thủ công truyền thống qua 5 khâu canh tác:
- Khâu làm đất: Tập hợp các công cụ như cày chìa vôi, các loại bừa răng, cuốc, xẻng, mai, thuổng và phương pháp san phẳng ruộng thủ công bằng bao (tổng hợp tại Bảng 2.1 của luận án).
- Khâu gieo cấy: Hệ thống gồm ván mạ, nọc cấy mạ, dây cấy dùng định vị hàng lúa thẳng hàng.
- Khâu chăm sóc và thủy lợi: Hệ thống lấy nước thủ công gồm gầu sòng (dùng cho vùng nước nông hoặc mương cạn) và gầu giai/gầu dây (cần hai người phối hợp tát nước từ sông ngòi lên đồng cao); guồng nước cải tiến; nông cụ xới xáo gồm cào cỏ tay; công cụ phòng trừ dịch hại dân gian như đèn bắt bướm.
- Khâu thu hoạch và tuốt lúa: Các loại hái Bắc Bộ, liềm gặt với cấu tạo lưỡi cong có răng cưa nhỏ hoặc lưỡi trơn; dụng cụ tuốt đập lúa tại ruộng gồm néo lúa, đũa tuốt lúa, bát cào thóc và cối đá vò lúa.
- Khâu vận chuyển: Bao gồm đòn gánh, đòn xóc, đòn mềm phối hợp quang gánh tre; xe cút kít bằng gỗ, xe cải tiến bánh cao su; cáng tre kéo trượt trên ruộng nước và thuyền ba lá, thuyền nan chở thóc trên kênh rạch.
- Khâu bảo quản và làm sạch: Công cụ phơi sấy và làm sạch lúa gồm bàn trang cào thóc, gậy gảy rơm, nia, giần, sàng, xảo, chổi quét thóc; dụng cụ chứa đựng gồm thúng, mủng, bồ tre đan trát bùn/phân trâu, quẩy, hòm thóc bằng gỗ, chum vại sành, bao gai và các vanh quây thóc bằng tôn.
Chương 2 phân tích sự thích ứng của các vật liệu tự nhiên (tre, gỗ, mây, sắt rèn) với điều kiện thổ nhưỡng đồng bằng, phản ánh tri thức bản địa và các giá trị tinh thần được gửi gắm trong văn hóa làng xã.
Chương 3: Công cụ hiện đại trong quy trình trồng lúa
Chương 3 khảo sát thực trạng đưa máy móc cơ giới vào thay thế sức người và súc vật từ sau Đổi mới đến nay, theo chuỗi 5 khâu sản xuất:
- Khâu làm đất: Phổ biến các dòng máy cày xới lớn (như Kubota L5018VN), máy cày tay mini phù hợp đồng trũng, bừa máy cơ giới.
- Khâu gieo cấy: Sử dụng máy gieo sạ gắn động cơ và máy cấy mạ khay tự động nhiều hàng.
- Khâu chăm sóc và bảo vệ thực vật: Máy bơm nước chạy điện/diesel công suất lớn, máy phun thuốc trừ sâu động cơ cá nhân và thiết bị bay không người lái (drone) phun thuốc bảo vệ thực vật.
- Khâu thu hoạch: Sự thống trị của máy gặt đập liên hoàn (tiêu biểu như Kubota DC35 và các dòng máy thi bình tuyển tại Hà Nội năm 2012).
- Khâu vận chuyển và bảo quản: Xe kéo cơ giới đầu máy Kubota, hệ thống lò sấy thóc công nghiệp và kho sấy nông sản hiện đại.
Tác giả tổng hợp các chỉ số cơ giới hóa qua hệ thống bảng thống kê từ tư liệu điền dã và thống kê ngành:
| Ký hiệu bảng |
Tên bảng thống kê trong Chương 3 của luận án |
| Bảng 3.1 |
Tỷ lệ hộ trồng lúa có sử dụng máy móc trong các khâu công việc |
| Bảng 3.2 |
Tỷ lệ hiện đại hoá thu hoạch lúa và số lượng máy thu hoạch lúa ở đồng bằng sông Hồng năm 2020 |
| Bảng 3.3 |
Kết quả thi bình tuyển máy thu hoạch lúa tại Hà Nội năm 2012 |
| Bảng 3.4 |
Kết quả điều tra về thực trạng thu hoạch lúa tại 3 tỉnh Thái Bình, Nam Định và Hưng Yên năm 2020 |
| Bảng 3.5 |
Thực trạng tỷ lệ % sản lượng sấy sau thu hoạch lúa năm 2015 và 2019 tại các tỉnh vùng đồng bằng sông Hồng |
| Bảng 3.6 |
Tỷ lệ thóc được sấy năm 2020 của các loại hình sản xuất tại Thái Bình, Nam Định và Hưng Yên |
| Bảng 3.7 |
Số lượng máy móc cơ giới vùng Đồng bằng Bắc Bộ năm 2014 |
| Bảng 3.8 |
Chuyển đổi dạng công cụ trong quy trình trồng lúa |
| Bảng 3.9 |
So sánh chi phí thuê máy móc và chi phí thuê lao động thủ công ở các khâu trồng lúa theo mùa vụ |
| Bảng 3.10 |
Tỷ lệ % số hộ trồng lúa đánh giá dịch vụ hiện đại hoá theo từng khâu công việc trong trồng lúa |
Chương này rút ra nhận xét: khâu làm đất và khâu gặt đập có tỷ lệ cơ giới hóa cao nhất nhờ dịch vụ tư nhân phát triển; khâu cấy và khâu sấy thóc có tốc độ hiện đại hóa chậm hơn do rào cản chi phí đầu tư. Các khó khăn được chỉ ra gồm ruộng đất manh mún, hạ tầng giao thông - thủy lợi nội đồng chưa đồng bộ, đồng thời đặt ra bài toán bảo tồn ký ức nông nghiệp khi công cụ cổ truyền bị đào thải khỏi đời sống.
Kết quả và những đóng góp mới
Luận án tự xác định các đóng góp mới về ba phương diện:
- Đóng góp về mặt tư liệu: Luận án là công trình tổng hợp hệ thống tư liệu tương đối toàn diện về công cụ trồng lúa nước của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ từ truyền thống đến hiện đại; bổ sung khối dữ liệu điền dã thực tế qua 4 đợt khảo sát tại các hộ nông dân, các hợp tác xã, bảo tàng địa phương cùng 300 phiếu điều tra xã hội học và 28 phỏng vấn sâu.
- Đóng góp về cách tiếp cận và phương pháp: Vận dụng cách tiếp cận liên ngành khu vực học, kết hợp giữa lịch sử, dân tộc học và xã hội học; đặt công cụ trong mối liên hệ trực tiếp với người nông dân và chu trình sinh trưởng của cây lúa thay vì xem xét công cụ như một hiện vật kỹ thuật biệt lập. Luận án làm rõ công cụ vừa là cánh tay nối dài giải phóng sức lao động, vừa là đối tượng chuyển tải tâm thức, triết lý sống của cư dân nông nghiệp châu thổ.
- Đóng góp về mặt nội dung và thực tiễn: Hệ thống hóa toàn bộ công cụ theo quy trình 5 bước canh tác xuyên suốt hai hệ thống truyền thống và hiện đại; tái hiện bức tranh cơ giới hóa nông nghiệp đồng bằng sông Hồng từ sau năm 1954 đến nay; nhận diện công cụ trồng lúa truyền thống như một dạng di sản văn hóa vật chất cần được bảo tồn và đề xuất các giải pháp bảo lưu ký ức nông nghiệp phục vụ phát triển bền vững.
Kiến nghị, giải pháp đề xuất:
- Quy hoạch và thành lập các không gian trưng bày, bảo tàng nông nghiệp chuyên đề hoặc nhà truyền thống nông thôn tại các làng xã tiêu biểu để lưu giữ các hiện vật công cụ thủ công đang bị tiêu hủy hoặc bán phế liệu.
- Xây dựng chương trình số hóa di sản nông cụ: lập hồ sơ khoa học, chụp ảnh 3D, quay video tư liệu ghi chép lại kỹ thuật chế tác và thao tác sử dụng của các nghệ nhân, nông dân cao tuổi.
- Đẩy mạnh hoàn thiện cơ sở hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng và dồn điền đổi thửa để tạo điều kiện tối ưu cho công cụ hiện đại vận hành hiệu quả.
- Tích hợp trải nghiệm di sản nông cụ truyền thống vào các tour du lịch sinh thái nông nghiệp nông thôn để tạo nguồn thu duy trì việc bảo tồn.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của luận án:
- Phạm vi không gian khảo sát thực tế mới tập trung chủ yếu vào 3 địa bàn đại diện (Thái Bình, Hải Dương và ngoại thành Hà Nội), chưa thể phủ kín toàn diện cả 10 tỉnh, thành phố của vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.
- Phương pháp điều tra xã hội học sử dụng hình thức chọn mẫu ngẫu nhiên thuận tiện với quy mô 300 phiếu, do đó tính đại diện về mặt thống kê đối với một số tiểu vùng sinh thái đặc thù (như vùng trũng ngập sâu ở Hà Nam, Ninh Bình hay vùng chua mặn ven biển Nam Định, Hải Phòng) chưa thật đồng đều.
Hướng nghiên cứu tiếp:
- Mở rộng phạm vi điền dã so sánh công cụ trồng lúa giữa đồng bằng Bắc Bộ với các vùng châu thổ khác như đồng bằng sông Cửu Long và dải đồng bằng duyên hải miền Trung.
- Đi sâu nghiên cứu các giải pháp ứng dụng công nghệ số trong bảo tồn sống di sản nông cụ truyền thống gắn với du lịch giáo dục di sản và sự chuyển đổi sang mô hình nông nghiệp thông minh 4.0.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên, giảng viên chuyên ngành Việt Nam học, Lịch sử Việt Nam, Dân tộc học/Nhân học, Văn hóa học và Nông học: có thể khai thác hệ thống dữ liệu chi tiết về tên gọi, kích thước, công năng của từng loại nông cụ cổ truyền, cũng như khung phân tích liên ngành khu vực học.
- Cán bộ làm công tác bảo tàng, di sản văn hóa: tham khảo bảng phân loại 5 bước canh tác để xây dựng đề cương trưng bày, chú thích hiện vật và sưu tầm di sản văn hóa nông thôn.
- Cơ quan quản lý nông nghiệp và cán bộ hoạch định chính sách nông thôn: sử dụng các số liệu thực trạng ở Chương 3 (Bảng 3.1 đến Bảng 3.10) về tương quan chi phí máy móc - lao động thủ công, các điểm nghẽn hạ tầng để xây dựng đề án cơ giới hóa đồng bộ phù hợp với địa hình đồng bằng Bắc Bộ.
Câu hỏi thường gặp
Luận án phân chia quy trình trồng lúa nước thành những bước cụ thể nào để khảo sát công cụ?
Luận án khảo sát cả công cụ truyền thống và công cụ hiện đại xuyên suốt 5 bước trong chu trình canh tác: (1) Khâu làm đất; (2) Khâu gieo trồng (cấy); (3) Khâu chăm sóc; (4) Khâu thu hoạch và vận chuyển; (5) Khâu bảo quản.
Vì sao luận án loại trừ tỉnh Quảng Ninh ra khỏi địa bàn thống kê của vùng đồng bằng Bắc Bộ?
Tác giả xác định vùng đồng bằng Bắc Bộ trong luận án dựa trên phạm vi bồi tụ phù sa của hai hệ thống sông chính là sông Hồng và sông Thái Bình. Tỉnh Quảng Ninh có đặc điểm tự nhiên phần lớn là đồi núi và hải đảo, không nhận sự bồi tụ chính từ hai hệ thống sông này, điều kiện thổ nhưỡng, nguồn nước và tập quán canh tác nông nghiệp có nhiều điểm khác biệt so với 10 tỉnh, thành phố châu thổ còn lại.
Quy mô mẫu và địa bàn tác giả thực hiện khảo sát điền dã xã hội học như thế nào?
Tác giả đã phát 300 bảng hỏi điều tra xã hội học ngẫu nhiên thuận tiện cho các hộ nông dân tại Hải Dương, Thái Bình và Hà Nội; đồng thời thực hiện 28 cuộc phỏng vấn sâu (gồm 13 nông dân, 3 cán bộ huyện, 3 cán bộ xã, 5 cán bộ dịch vụ nông nghiệp và 4 trưởng thôn/người có uy tín) qua 4 đợt điền dã từ cuối năm 2019 đến cuối năm 2021.
Những loại máy móc cơ giới cụ thể nào được phân tích trong quy trình canh tác hiện đại ở Chương 3?
Luận án ghi nhận và phân tích các máy móc hiện đại gồm: máy cày Kubota L5018VN, máy cày tay mini, bừa cơ giới (làm đất); máy gieo sạ gắn động cơ, máy cấy mạ khay tự động (gieo cấy); máy bơm nước công suất lớn, máy phun thuốc sâu động cơ, thiết bị bay không người lái drone (chăm sóc); máy gặt đập liên hoàn Kubota DC35 (thu hoạch); xe kéo gắn đầu máy Kubota và hệ thống kho sấy, lò sấy thóc công nghiệp (vận chuyển, bảo quản).
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Công cụ trồng lúa nước của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ" của nghiên cứu sinh Hoàng Thị Thêm là công trình chuyên khảo hệ thống hóa toàn diện hệ thống công cụ lao động nông nghiệp từ cổ truyền đến hiện đại tại vùng châu thổ sông Hồng. Bằng cách vận dụng lý thuyết khu vực học và phương pháp luận Marxist, tác giả đã làm rõ quy luật phát triển của lực lượng sản xuất gắn liền với sự giải phóng sức lao động của người nông dân qua 5 khâu canh tác lúa nước. Công trình không chỉ cung cấp nguồn tư liệu điền dã phong phú về kỹ thuật nông nghiệp truyền thống và thực trạng cơ giới hóa hiện nay, mà còn khẳng định giá trị của bộ nông cụ cổ truyền như một bộ phận di sản văn hóa vật chất cần được bảo tồn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông thôn.