Chương 1: Giới thiệu - Chương 2: Tổng quan - Chương 3: Cơ sở lý thuyết - Chương 4: Phương hướng và giải pháp - Chương 5: Tiń h toán thiế t kế các cơ cấ u - Chương 6: Chế tạo, thử nghiệm và đánh giá - Chương 7: Kết luận và kiến nghị do an 4 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI 2.1 Tổng quan về chuối 2.1 Tên khoa học Họ chuối : Musa troglodytarum Phân loại khoa học Giới : Plantae Ngành : Magnoliophyta Lớp : Liliopsida Phân lớp : Zingiberiadae Bộ : Zingiberales Họ : Musaceae Chi : Musa 2.2 Nguồn gốc Theo truyền thuyết, cây chuối được cho là xuất phát từ vườn của Enden (thiên đường) do đó tên của nó là Musa paradise có nghĩa là trái của thiên đường. Tên này được gọi đầu tiên cho đến khi được thay bằng từ “banana” bởi những người thuộc bộ tộc African Congo. Từ “banana” dùng để chỉ chuối dùng ăn tươi còn từ “plantain” dùng để chỉ chuối nấu chín để ăn. Tuy nhiên hiện nay việc phân biệt các từ này không còn khác biệt rõ.
Chuối là loại cây nhiệt đới được trồng ở Ấn Độ, Nam Trung Quốc, Maylaysia, Việt Nam các nước Đông Phi, Tây Phi, Mỹ Latinh … Các loài chuối hoang dại được tìm thấy rất nhiều ở Đông Nam Á, do đó có thể cho rằng Đông Nam Á là quê hương của chuối.3 Các giống chuối ở Việt Nam Chuối được trồng ở khắp các miền trên đất nước ta, tuy nhiên chất lượng và sản lượng chuối ở miền Nam có phần nào cao hơn so với miền Trung và miền Bắc, do điều kiện khí hậu miền Nam nóng và ẩm phù hợp cho sự phát triển của chuối. Có nhiều giống chuối, chúng thường được phân biệt dựa vào hình dạng của cây chuối.1 Chuối tiêu Chuối tiêu được trồng nhiều ở các vùng đồng bằng sông Hồng, sông Cửu Long. Có ba giống chuối tiêu phân loại theo độ cao của thân. Chuối tiêu lùn: thân cao 1,5÷2m.
Lá mọc sít nhau, cuống ngắn lá màu xanh đậm. Trái hơi cong, dài 14÷16cm, đường kính trái 2,5÷3cm. Mỗi buồng chuối tiêu lùn nặng trung bình 14÷18kg, có buồng nặng trên 20kg. Thịt chắc, thơm ngọt.
Cây sinh trưởng khỏe, chịu gió khá tốt. Chuối tiêu nhỡ: thân cao 2÷3m. Lá dài hơn giống trên. Trái ít cong hơn trái chuối tiêu lùn, dài 15÷18cm, đường kính trái 2,5÷3cm.
Buồng chuối tiêu nhỡ nặng trung bình 15÷20kg, có buồng nặng 25÷30kg. Thịt có màu nhạt hơn mềm hơn chuối tiêu lùn. Mùi vị cũng không thơm ngon bằng chuối tiêu lùn. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao.
Chuối tiêu cao: thân cao 3,5÷ 4m. Lá dài, to, mọc thưa. Trái to, hơi thẳng, dài 16÷ 20cm, đường kính 3,5÷4cm. Buồng chuối tiêu cao nặng trung bình 20÷25kg, có buồng nặng 35÷40kg.
Thịt hơi nhão, mùi vị kém nhất trong ba giống chuối tiêu. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất cao nhưng chống gió bão kém. Buồng trái nặng dễ gãy đổ.2 Chuối sứ (chuối tây, chuối xiêm) Chuối sứ được trồng phổ biến ở nhiều nơi, cây mọc khỏe, cao to, lá dài rộng, cuống lá có phấn trắng. Trái to, ngắn, mập, vỏ mỏng, khi chín vàng tươi, vị ngọt, kém thơm.
Buồng nặng 15÷20kg. Chuối sứ không kén đất, chịu được hạn, úng, đất xấu và chịu rét khá hơn chuối tiêu. Do đó, chuối sứ thường được trồng ở các vùng trung du, miền núi. Khả năng bảo quản, vận chuyến kém.
do an 6 Hình 2.3 Chuối ngự: Dọc bờ sông Châu Hà Nam, nhiều nơi nổi tiếng về trồng chuối ngự. Nhưng ngon nhất vẫn là chuối ngự làng chiêm trũng Đại Hoàng (Huyện Lý Nhân Tỉnh Hà Nam). Cây chuối ngự cao khoảng 2,5÷3m, lá xanh mát. Khác với chuối ngự trâu, quả to, ăn nhạt, chuối ngự thóc (hay còn gọi là chuối ngự mít) là loại được tiến vua.
Cây chuối ngự mít thấp, trái nhỏ, cuống thanh, vỏ mỏng màu vàng óng, thịt trái mịn, bên ngoài màu vàng nhạt, trong ruột màu vàng sậm, mùi vị thơm và ngọt hơn cả chuối tiêu lùn.4 Chuối mật (chuối lá): Chuối mật được trồng rải rác khắp nơi, cây cao lớn 3,5÷4 m. Trái lớn có ba cạnh, vỏ dày hơi khó bóc. Thịt trái khi chín màu vàng nhạt, nhão, không thơm, hàm lượng đường thấp, vị ngọt pha chua. Cây sinh trưởng khỏe, năng suất thấp thường được dùng để sản xuất chuối khô.5 Chuối cau (chuối cơm) Thân cây chuối cau nhỏ, trái ngắn, buồng nhỏ không sai, vỏ dày.
Trái chín ăn không ngọt lắm hơi chua.6 Chuối hột Cây chuối hột cao lớn 4÷5m, mọc khỏe. Trái có cạnh rõ rệt, vỏ dày nhiều hột. Khi chín vỏ không vàng như các loại chuối khác. Cây sinh trưởng khỏe, chịu được hạn, rét, ít sâu bệnh.
Vì có nhiều hột nên chuối hột thường chỉ được dùng để làm rau trong các món ăn hay dùng làm thuốc chữa bệnh. Đặc điểm một số giống chuối phổ biến [2] Loại chuối Chuối tiêu Chuối sứ Chuối bom Khối lượng quả (g) 110 120 64 Độ dài quả (cm) 13 13 10.6 Đường kính quả (cm) 3.0 Tỷ lệ ruột (%) 65 72 73 Khối lượng buồng (kg) 13 15 7 Số nải trong 1 buồng 10 12 7 Số quả trong 1 nải 16 14 14 2.4 Tìm hiểu về chuối sứ 2.1 Đặc điểm Chuối sứ là loài thực vật thân mềm, dễ sinh trưởng, hiếm sâu bệnh. Nhân giống chủ yếu bằng cách cấy cây con. Giống chuối rất dễ trồng, không kén đất.
Cây khi trưởng thành cao tối đa 5m. Chuối sẽ ra trái sau 6-8 tháng từ cây giống. - Chuối sứ là loại chuối quả vừa và mập, khi chín màu vàng, thịt ngọt, thơm. - Giống chuối hầu hết rất phù hợp những nơi có nguồn nước đầy đủ và những khu vực nắng tốt.2 Phân loại Chuối sứ có 2 loại, sứ trắng và sứ xanh, về thân thì cũng có 2 giống cao và giống lùn.
Chuối sứ được gọi chuối xiêm 2.3 Điều kiện gieo trồng và phân bố Chuối sứ thường được trồng trong đất trồng chuối tốt nhất là đất tơi xốp, nhiều mùn, nhất là đất phù sa, bùn ao phơi ải, nơi không bị ngập úng và dễ tưới tiêu nước. Độ pH thích hợp trồng chuối là từ 5-7 Chuối sứ khác với giống chuối khác, về đất trồng chuối sứ chịu đất sét và sét pha. Chuối này được trồng ven theo bờ kinh, nương, sông rạch… Chuối sứ trồng từ 8 tháng đến 1 năm mới cho trái do an 8 Chuối sứ phân bố khắp nơi, nhưng được trồng nhiều nhất là ở đồng bằng sông cửu long và đông nam bộ 2.4 Thành phần dinh dưỡng của quả chuối sứ Chuối sứ có chứa nhiều thành phần dinh dưỡng như các loại vitamin, chất bột, tinh bột, protein, các chất khoáng như magie, natri, canxi, lưu huỳnh, kẽm, sắt, kalium, lipid, protid, glucid, phosphat. Nếu so sánh chuối với với khoai tây, thịt, thì chuối có giá trị về dinh dưỡng hơn và giúp cơ thể dễ tiêu hóa hơn.
Trong chuối sứ còn chứa 2 hợp chất quan trọng là serotinin và nore- pinephrin, cùng với dopamin và một catecholamin chưa xác định có tác dụng quan trọng trong ngành y học.5 Kích thước cơ bản của quả Chuối sứ Quả chuối sứ có kích thước cỡ khoảng 35 mm,quả lớn nhất khoảng 40 mm còn quả nhỏ nhất khoảng 30 mm.Kích thước của quả chuối sứ phụ thuộc vào thời tiết từng mùa trong năm. Bề dày vỏ của quả chuối là 1.5 mm Khả năng tạo trái mỗi năm ra trái nhiều lần nhưng nếu thời tiết thuận lợi mưa nhiều và đường kích trung bình của nó cỡ khoảng 38 mm.Thời tiết nắng nhiều thì số lượng quả vừa ít lại vừa nhỏ,cỡ khoảng 30 mm.Dựa trên cơ sở đó để để làm máy bóc vỏ chuối tôi lấy quả có đường kính 35 mm làm chuẩn để chế tạo máy bóc vỏ chuối.6 Diện tích và sản lượng của chuối sứ Diện tích và sản lượng chuối sứ ở Việt Nam Ở nước ta chuối sứ là loại trái cây có diện tích và sản lượng cao. Tuy nhiên, diện tích trồng chuối lại không tập trung. Do đặc điểm là loại cây ngắn ngày, nhiều công dụng và ít tốn diện tích nên chuối được trồng ở rất nhiều nơi trong các vườn cây ăn trái và hộ gia đình.
Một số tỉnh miền Trung và miền Nam có diện tích trồng chuối khá lớn (Thanh Hóa, Nghệ An, Khánh Hòa, Đồng Nai, Sóc Trăng, Cà Mau có diện tích từ 3.000 ha đến gần 8. Trong khi đó các tỉnh miền Bắc có diện tích trồng chuối lớn nhất như: Hải Phòng, Nam Định, Phú Thọ…chưa đạt đến 3. Theo thông tin mới đây, một số tỉnh miền Bắc như Hưng Yên, Nam Đinh đang rất quan tâm vấn đề khôi phục lại các giống chuối quý của địa phương là chuối tiêu hồng, chuối ngự. do an 9 Bảng 2.
Diện tích trồng chuối sứ theo các vùng (Đơn vị: ha) Vùng Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Đồng Bằng Sông Hồng 17 900 18 100 17 546 17 407 16 400 Đông Bắc Bộ 8 900 6 300 9 021 8 849 8 700 Tây Bắc Bộ 2 300 2 200 2 376 2 668 2 600 Bắc Trung Bộ 15 400 15 500 15 867 16 029 16 400 Duyên Hải Nam Trung Bộ 10 200 10 500 10 642 10 713 11 400 Tây Nguyên 2 900 3 400 3 493 3 630 3 700 Đông Nam Bộ 12 100 12 300 12 689 12 653 12 800 Đồng Bằng Sông Cửu Long 31 600 27 700 27 706 30 142 31 300 Bảng 2. Sản lượng trồng chuối sứ theo vùng (Đơn vị: tấn) Vùng Năm 2001 2002 2003 2004 2005 Đồng Bằng Sông Hồng 359 500 342 700 426 161 352 181 403500 Đông Bắc Bộ 95 900 65 200 100 575 98 517 96,600 Tây Bắc Bộ 19 300 25 400 27 285 30 691 30,600 Bắc Trung Bộ 80 800 98 300 102 966 205 666 110800 Duyên Hải Nam Trung Bộ 66 000 103 500 99 636 99 504 111800 Tây Nguyên 33 900 41 400 44 262 53 027 58300 Đông Nam Bộ 114 800 146 400 150 717 162 596 175800 Đồng Bằng Sông Cửu Long 310 200 274 800 330 203 351 629 366900 2.5 Các sản phẩm của chuối Ngoài ăn tươi là chủ yếu, quả chuối còn được dùng làm nguyên liệu chế biến các sản phẩm khác như: bột chuối, mứt chuối, rượu chuối, tương chuối, kẹo chuối… Nhiều nước ở Châu Á dùng bột chuối ăn thay một phần lương thực. Quả chuối xanh, hoa chuối, thân chuối non dùng làm rau ăn. Thân cây chuối còn dùng làm thức ăn cho lợn.
Lá chuối dùng để bao gói. Bẹ chuối lấy sợi làm giấy, bện thừng, pha trộn với sợi khác dùng để dệt bao tải. Tro thân chuối có chất kiềm, được dùng làm thuốc giữ màu sắc vải nhuộm. do an 10 Bột chuối Kẹo chuối Chuối sấy Rượu chuối Mứt chuối Nước chuối dâu Hình 2.
Các sản phẩm chuối 2.