Mở đầu Chƣơng 2: Cơ sở lý thuyết Chƣơng 3: Tính toán & thiết kế thiết bị Hoàng Văn Hƣớng Trang 5 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Chƣơng 4: Vận hành & bảo dƣỡng thiết bị Kết luận & kiến nghị Hoàng Văn Hƣớng Trang 6 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng CHƢƠNG II. Công nghệ bóc tách vỏ của nƣớc ta hiện nay. Qua khảo sát một số loại máy bóc tách vỏ đang có trên thị trƣờng Việt Nam hiện nay: Máy bóc vỏ hạt điều. Máy bóc vỏ quả dừa.
Máy bóc vỏ hạt đậu xanh. Máy bóc vỏ quả vải. Máy bóc vỏ quả chôm chôm. Máy bóc vỏ củ lạc (đậu phộng ).
Máy bóc vỏ hạt sen. Máy bóc vỏ quả cau. Cụ thể nhƣ: Sau gần 5 năm miệt mài nghiên cứu, ông Mai Vĩnh Thạnh (chủ cơ sở cơ khí Vũ Thạnh, TP Quy Nhơn, Bình Định) đã sản xuất thành công hệ thống máy cắt tách hạt điều tự động đầu tiên của Việt Nam.1: Hệ thống máy tách hạt điều tự động của cơ sở cơ khí Vũ Thạnh Ông Nguyễn Văn Lãng- Trƣởng ban nghiên cứu công nghệ của Hiệp hội Điều Việt Nam và ông Huỳnh Lê Can, giám đốc một công ty cơ khí tại TP HCM đã hợp tác nghiên cứu thiết kế chế tạo máy tách hạt vỏ điều tự động. Ông Lãng chính là ngƣời chế tạo thành công máy chế biến hạt điều 13 công đoạn các doanh nghiệp đang dùng.
Hoàng Văn Hƣớng Trang 7 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Hình 2.2: Máy tách hạt vỏ điều tự động của ông Lãng và kỹ sƣ Can.3: Máy bóc tách vỏ lụa hạt điều của công ty TNHH chế tạo thiết bị công nghiệp Sơn Việt.4: Máy bóc tách vỏ lạc của công ty Tân Thiên Phú. Hoàng Văn Hƣớng Trang 8 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Hình 2.5: Máy tách vỏ quả dừa. Giới thiệu chung về cây bàng. là một loài cây thân gỗ lớn sinh sống ở vùng nhiệt đới, thuộc họ Trâm bầu (Combretaceae).
Nguồn gốc của loài này hiện vẫn đang là vấn đề gây tranh cãi, nó có thể có nguồn gốc từ Ấn Độ, bán đảo Mã Lai hay New Guinea. Loài cây này có thể mọc cao tới 35 m, với tán lá mọc thẳng, đối xứng và các cành nằm ngang. Khi cây già hơn thì tán lá c ủa nó trở nên phẳng hơn để tạo thành hình dáng giống nhƣ cái bát trải rộng. Lá to, dài khoảng 15-25 cm và rộng 10-14 cm, hình trứng, xanh sẫm và bóng.
Đây là loài cây có lá sớm rụng về mùa khô; trƣớc khi rụng thì các lá chuyển màu thành màu đỏ ánh hồng hay nâu vàng, do các sắc tố nhƣ violaxanthin, lutein hay zeaxanthin.6: Cây bàng Hoàng Văn Hƣớng Trang 9 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Lá đơn nguyên, mọc cách tập trung nhiều ở ngọn cành; phiến lá hình trứng ngƣợc gốc thuôn hình chót buồm, dài 15-25 cm, rộng 9-13 cm, màu xanh mặt trên đậm hơn ở mặt dƣới, có 2 nốt sần tròn ở đáy phiến cạnh hai bên gân chính. Gân lá hình lông chim nổi rõ ở cả 2 mặt, 9-11 cặp gân phụ kéo dài tận bìa lá; lông màu nâu đỏ rải rác ở mặt dƣới của gân chính. Cuống lá hình trụ gần tròn dài 1-1,7 cm, có nhiều lông mịn màu nâu đỏ và lông cứng thẳng đứng màu đen ở nơi đính của lá. Cụm hoa gié dài thòng ở nách lá gần ngọn cành hay ở ngọn cành, gié mang hoa lƣỡng tính ở khoảng 1/5 phía gốc và hoa đực do bầu noãn bị trụy ở ngọn hoặc gié mang toàn hoa đ ực.
Hoa đều, mẫu 5, lƣỡng tính hoặc đơn tính đực. Đài hoa: 5 lá đài đều, màu trắng xanh, dính bên dƣới thành ống ngắn bên trên chia 5 thùy hình tam giác, nhiều lông mịn màu trắng dài 0,5-1 mm ở mặt trong, tiền khai van. Không có cánh hoa. Hoàng Văn Hƣớng Trang 10 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Bộ nhị: 10 nhị đều, rời, đính thành 2 vòng trên họng đài, vòng ngoài xen kẽ với lá đài; chỉ nhị dạng sợi dài 3-4 mm, màu trắng; bao phấn màu vàng, 2 ô, hình bầu dục có hai thùy, nứt dọc, hƣớng trong;hạt phấn màu vàng hơi xanh, hình bầu dục 2 đầu rộng có nhiều rãnh, dài 27,5 µm rộng 10 µm.
Bộ nhụy: Bầu dƣới màu xanh, dài 1,5-2 mm, mặt ngoài có nhiều lông trắng mịn; 1 lá noãn, 1 ô, 1 noãn đính nóc; 1 vòi nhụy màu vàng, dạng sợi hơi phình ở gốc dài khoảng 4 mm; đầu nhụy hình điểm. Quả hạch, quả non hình bầu dục đầu nhọn màu xanh, khi chín quả gần tròn màu vàng, vỏ quả sần sùi, dài 4-6 cm, rộng 3-4 cm. Hạt hình bầu dục dài 2-2,5 cm, rộng 0,5 – 0,7 cm màu vàng nhạt có lớp vỏ áo mỏng dễ bóc.10: Quả bàng khô. Hoàng Văn Hƣớng Trang 11 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng 2.
Phạm vi sử dụng. Về mặt nguyên liệu cho dầu thì bàng cho năng suất thấp vì phải tách nhân bàng ra khỏi vỏ hạt rất vất vả. Từ 100g hạt khô chỉ tách đƣợc 23g nhân.11: Quả và nhân bàng. Nhân hạt chứa 50% dầu béo mầu vàng nhạt hoặc lục nhạt giống nhƣ màu hạnh nhân, ăn đƣợc.
Một số tính chất của dầu nhân hạt bàng đã đƣợc nghiên cứu, kết quả nhƣ sau: tỷ trọng 0,917; chỉ số khúc xạ ở 35 0C là 1,466; đông đặc ở 10C, chỉ số acid 2,94; chỉ số xà phòng hóa 197,8; chỉ số iod 60,72; phần không xà phòng hóa 0,38; acid toàn phần tách đƣợc ở dạng đặc, màu vàng nhạt, phần acid đặc chiếm tới 36%. Do chỉ số iod thấp và không cho phản ứng hexabromua cho nên ngƣời ta có thể kết luận dầu bàng không có glyxerit linolenic và thuộc loại dầu không khô. Các hạt nhân có thể đƣợc ăn sống hoặc rang và có một hƣơng vị bùi và béo. Hạt có ép lấy tinh dầu, dầu chủ yếu đƣợc sử dụng trong nấu ăn.
Thịt của trái cây cũng ăn đƣợc nhƣng thƣờng là xơ và không phải là rất ngon mặc dù mùi dễ chịu. Ngƣời dân Côn Đảo thu hoạch quả bàng đem phơi cho dốt vỏ, rồi đem ra chẻ lấy hạt. Hạt bàng mới tách ra có màu nâu giống nhƣ màu gỗ đƣợc đánh vẹc -ni. Thao tác mất vài tiếng đồng hồ, vừa chẻ vừa tách chỉ đƣợc chừng vài trăm gram hạt.
Sau đó đem rang muối hoặc rang đƣờng tuỳ ý. Hoàng Văn Hƣớng Trang 12 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Công đoạn chế biến chỉ là phơi khô, dùng dao chẻ từng quả một lấy nhân ra, rồi rang sao cho khéo léo để có những sản phẩm thơm ngon bán cho ngƣời dân địa phƣơng và du khách tuy nhiên cũng rất công phu, phơi khô chừng bốn năm nắng rồi dùng dao đập vỏ tách lấy hạt. Mất vài giờ đồng hồ vừa chẻ vừa vừa tách trái bàng, dùng tăm khều lấy hạt ra cũng chỉ đƣợc vài trăm gam hạt. Sau đó đem rang lên cho khéo để có đƣợc những hạt bàng mập mạp đều nhau.12: Thu hoạch chế biến thành hạt bàng.
Giá mứt hạt bàng khoảng 200.000 đồng/kg loại rang đƣờng và 280.000 đồng/kg loại rang muối. Nếu trái mùa, mứt hạt bàng lên đến 500. Nếu bán theo đơn vị lọ thì khoảng 45.000 đồng một lọ ngọt chừng 200 gam và 55.000 đồng cho lọ mặn cùng trọng lƣợng.13: Mứt hạt bàng. Hoàng Văn Hƣớng Trang 13 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng b.
Trong y học và dƣợc liệu. Lá chứa một số flavonoid (chẳng hạn kamferol hay quercetin) cũng nhƣ các chất tanin (nhƣ punicalin, punicalagin, tercatin), các chất saponin vàphytosterol. Do chứa nhiều hóa chất nên lá và vỏ thân cây bàng còn đƣợc sử dụng trong nhiều nền y học cổ truyền khác nhau vào một số mục đích. Chẳng hạn, tại Đài Loan ngƣời ta dùng các lá rụng làm thuốc chữa một số bệnh liên quan tới gan.
Tại Suriname, chè đƣợc làm từ lá bàng đƣợc dùng để chữa các bệnh nhƣ lỵ và tiêu chảy. Ngƣời ta cũng cho rằng lá bàng có chứa các chất ngăn cản ung thƣ (mặc dù không thấy chúng thể hiện khả năng chống ung thƣ) và các đặc trƣng chống ôxi hóa cũng nhƣ chống phá hủy bộ nhiễm sắc thể. Trong sinh hoạt đời sống. Gỗ cây cung cấp màu đỏ, chất lƣợng tốt, đàn hồi, cross-hạt gỗ là mùa tốt và hoạt động dễ dàng.
Mật độ của gỗ là 450-720 kg / m³ tại mc 12%. Nó là mạnh mẽ và mềm dẻo và đƣợc sử dụng cho việc xây dựng các các tòa nhà, thuyền, cầu, sàn nhà, hộp, thùng gỗ, ván, xe đẩy, xe cút kít, thùng và đáy nƣớc. Trong vòng lá quanh năm, cây cho bóng mát đó là hữu ích trong các khu vƣờn, sân trƣờng hoặc các khu vực đô thị.14: Ứng dụng của cây bàng. Hoàng Văn Hƣớng Trang 14 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng CHƢƠNG III: TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ I.
Phƣơng án thiết kế. Cơ sở để thiết kế. Ở đây chúng ta nghiên cứu phƣơng án thiết kế tách vỏ quả bàng khô. Đầu tiên ta xem xét cấu tạo quả bàng khô.1: Cấu tạo quả bàng.2: Kích thƣớc quả bàng và nhân bàng Hoàng Văn Hƣớng Trang 15 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Lực dập để tách đƣợc quả bàng khô.
- Hạt bàng khô khi nghiên cứu thấy thớ của chúng rất dễ phá vỡ bởi 1 lực tác động đột ngột từ phía theo chiều dọc của trái bàng. Ngoài ra với việc tách đúng thớ thì nhân sẽ đƣợc hình dạng ban đầu mà không bị tổn hại gì nên giá trị sản phẩm không bị ảnh hƣởng. Chính vì vậy, việc xác định lực dập cho hạt là điều hết sức quan trọng trong quá trình nghiên cứu. Xác định đƣợc lực dập ta có thể tính toán thông số cần thiết cho máy từ đó có thể chủ động trong quá trình chế tạo.
- Vì hạt bàng có kích thƣớc nhỏ và muốn tách đƣợc phải là hạt khô nên quá trình thử lực hết sức khó khăn.3: Thớ của quả bàng Để thực hiện việc xác định lực nén này ta dùng trên máy kéo nén vật liệu.4: Máy thử kéo nén vật liệu. Hoàng Văn Hƣớng Trang 16 Luan van Đề tài KH & CN cấp Trƣờng Nguyên lý hoạt động: Máy tính nhận lệnh từ ngƣời dùng, tạo tín hiệu điều khiển đến controller của motor bơm dầu (On/Off hoặc DC servo driver hoặc biến tần.) Đo áp lực dầu để tính ra lực kéo/nén/uốn Đo độ biến dạng dài/biến dạng cong. trực tuyến trong quá trình kéo nén Tính và vẽ đồ thị. Tính toán các thông số và quan hệ F(L), tính điểm chảy, điểm gãy vỡ, điểm uốn cong Sau khi thí nghiệm đã thu đƣợc kết quả: lực nén –dập dao động từ 1400-1800 N.