Chương 1: Tổng quan vÃn đề nghiên cāu (27 trang); - Chương 2: Nội dung và phương pháp nghiên cāu (18 trang); - Chương 3: Kết quÁ nghiên cāu và thÁo luận (84 trang); - Kết luận, tồn t¿i và kiến nghị (4 trang ); - Tài liệu tham khÁo (11 trang). 6 Ch°¢ng 1 TäNG QUAN VÂN ĐÀ NGHIÊN CĄU 1. TRÊN TH¾ GIàI 1. Đ¿c điÃm phân lo¿i và tên gái các loài Qu¿ chă y¿u.
Trên thế giới, các nhà khoa học đã xác định chi Quế (Cinnamomum) có hơn 300 loài, phân bố chÿ yếu t¿i các khu vực nhiệt đới và cận nhiệt đới cÿa Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ, châu Á, châu Đ¿i Dương và Australia, Van Der Werff et al (1996) [96]. Quế là tên gọi chung cÿa một số loài có dầu thơm, được gây trồng phổ biến để lÃy vỏ và tinh dầu gồm: loài Cinnamomum verum, có nguồn gốc á Sri Lanka và có tên thương m¿i quốc tế là Quế Sri Lanka (Sri Lanka cinnamom) hoặc Quế Ceylon (Ceylon cinnamom); loài Cinnamomum cassia có tên khác là Cinnamomum aromaticum được gọi là Quế Trung Quốc (Chinnese cassia) hoặc Quế Việt Nam (Vietnamese cassia), có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam Trung Quốc và Việt Nam; loài Cinnamomum burmannnii hay còn gọi là Quế Indonesia (Indonesian cassia); loài Indian cassia hoặc Cinnamomum tamala chÿ yếu á Ân Độ; các loài Cinnamomum impressinervium và Cinnamomum bejolghota cũng phân bố chÿ yếu á Ân Độ nhưng không phổ biến (P. Nirmal Babu, 2004) [92], Zeng, C. Theo Kostermans (1961) [79], Ravindran et al (2004) [91], Balasubramanian et al (1993) [72] thì đặc điểm phân lo¿i và nhận biết các loài Quế thưßng dựa vào 4 đặc điểm chính, gồm: (i) chiều dài cÿa gân lá; (ii) mặt lá có lông; (iii) đế quÁ; (iv) số lượng tế bào bao phÃn cÿa nhị hoa.
Nhìn chung, về phân lo¿i thực vật và tên gọi đã được các nhà khoa học trên thế giới quan tâm từ rÃt sớm, đã xác định các loài trong chi Cinnamomum khá phong phú và hoàn thiện, ít có tranh luận về phân lo¿i. Đ¿c điÃm sinh hác mßt sá loài Qu¿ chă y¿u 1. Đặc điểm hình thái một số loài Quế chủ yếu Mỗi loài Quế các đặc điểm hình thái khác nhau, khi nghiên cāu các trưßng hợp cụ thể, các tác giÁ đã mô tÁ đặc điểm hình thái chung và những đặc điểm dễ nhận biết, điển hình là các công trình nghiên cāu cÿa P. Ravindran et al (2004) [91]; Nguyen Kim Dao (2004) [88]; Hasanah et al (2004) [76]; Ariyarathne et al (2018) [70].
Các loài Cinnamomum tamala và Cinnamomum Burmannii là cây gỗ nhỏ, có chiều cao đ¿t khoÁng 15m. cassia là cây gỗ nhỡ đến lớn, chiều cao có thể đ¿t từ 16 -18 m hoặc từ 18 - 20 m, đưßng kính cÿa các loài này có thể đ¿t 60 cm, gốc có thể hơi có b¿nh vè; vỏ nhẵn có mầu nâu sáng hoặc hơi hồng, có độ dầy tới 10 mm hoặc hơn, có vị cay; lá mọc đối hoặc gần đối, lá có hình bầu dục hoặc elip, đầu lá vuốt nhọn; thßi gian ra hoa thay đổi theo từng loài, thưßng từ tháng 10 năm trước đến tháng 2 năm sau và quÁ chín vào tháng 5 đến tháng 6 hàng năm. Ravindran et al (2004) [92] kích thước và hình thái lá giữa các loài có sự khác nhau khá rõ rệt, ngay trong cùng 1 loài nhưng phân bố tự nhiên hoặc được trồng á những nơi khác nhau cũng có sự khác biệt khá lớn. Chiều dài lá cÿa loài Cinnamomum verum dao động từ 8,7 đến 22,7 cm, trung bình khoÁng 13 cm; chiều rộng từ 3,3 - 8,3 cm, trung bình 5,1 cm.
Đối với lá cÿa loài Cinnamomum cassia cÁ chiều dài và rộng đều lớn hơn, chiều dài trung bình khoÁng 16,25 cm và chiều rộng trung bình 3,8 cm. Nhìn chung, các công trình nghiên cāu về đặc điểm hình thái thưßng gắn liền với các nghiên cāu phân lo¿i thực vật và tên gọi, chỉ tập trung vào các đặc điểm hình thái thân, lá, hoa và quÁ. Đặc điểm phân bố và sinh thái một số loài Quế chủ yếu Các loài Quế có tinh dầu chÿ yếu phân bố á vùng châu Á, điển hình là loài Cinnamomum verum, là loài cây bÁn địa cÿa Sri Lanka và Nam Ân Độ, Kostermans, A. Loài Cinnamomum tamala có phân bố á hầu hết các vùng Himalaya nhiệt đới, cận nhiệt đới và má rộng đến vùng Đông 8 Bắc cÿa Ân Độ, á độ cao đến dưới 2.000 m so với mực nước biển (Anandaraj, N.
Loài Quế này có phân bố tự nhiên á Nêpal, Băng La Đét và Myanmar. Loài Cinnamomum burmannii hay còn có các tên gọi khác như: java cassia, fagot cassia, padang cassia, batavia cassia, korintji cassia, vera cassia,… chúng có phân bố tự nhiên á vùng giữa Indonesia và Malaysia, hiện nay được trồng phổ biến để sÁn xuÃt hàng hóa á bán đÁo Timor. à Indonesia, chúng có phân bố tự nhiên từ mặt biển đến độ cao 2.000 m, trung tâm vùng trồng Quế á Indonesia là Padang, á độ cao từ 500 - 1.300 m so với mực nước biển (P. Ravindran et al, 2004) [92].
Loài Cinnamomum cassia có phân bố tự nhiên á các tỉnh phía Nam cÿa Trung Quốc, tập trung nhiều các á tỉnh QuÁng Đông và QuÁng Tây, thưßng á độ cao dưới 300m so với mực nước biển, nơi có nhiệt độ bình quân hằng năm khoÁng 22°C, lượng mưa bình quân khoÁng 1250 mm/năm, số ngày ẩm là 135 ngày/năm; nhiệt độ cao nhÃt là 38 0C và nhiệt độ thÃp nhÃt là 00C (Nguyen Kim Dao, 2004) [88]. Ranatunga et al, (2004) [90] thì Quế là cây trồng có thể gây trồng được trên nhiều lo¿i đÃt đai và điều kiện khí hậu khác nhau, cụ thể là: loài Cinnamomum verum có thể trồng được á những nơi có điều kiện khí hậu từ bán khô h¿n đến ẩm, từ đÃt pha cát đến đÃt feralit có hàm lượng sét cao, giầu mùn và hơi chua (pH Kcl≈ 4,5 - 5,5), thoát nước, có đá lẫn; chế độ nhiệt và chế độ ẩm có biên độ dao động khá lớn, nhiệt độ trung bình năm từ 20 - 300C; lượng mưa từ 1.500mm, độ cao khoÁng 300-350m so với mực nước biển; tuổi thọ cÿa cây Quế có thể lên tới 30 - 40 năm, với điều kiện lập địa thích hợp. Ngược l¿i, loài Cinnamomum cassia l¿i thích hợp với điều kiện nhiệt đới nóng ẩm, tầng đÃt sâu, giầu mùn, độ cao thích hợp dưới 500m so với mực nước biển, nhưng cũng có khi bắt gặp phân bố tự nhiên á độ cao hơn 1. Đặc điểm đa d¿ng di truyền của một số loài Quế Để đánh giá đặc điểm di truyền cÿa 2 loài Cinnamomum camphora và Cinnamomum verum, Govinden et al (2007) [75] đã sử dụng 11 mồi RAPD để 9 đánh giá sự khác biệt giữa 2 loài C.
Kết quÁ phân tích 11 mồi RAPD thu được các băng ADN dao động từ 400bp tới 3800bp. Số băng thu được á mỗi mồi dao động từ 1 tới 14 băng, trung bình 8 băng/mồi. TÃt cÁ những mồi được sử dụng đều cho số băng đa hình cao, điều này cho thÃy á đây có sự khác biệt giữa 2 loài. Trong một nghiên cāu khác á Thái Lan Miss, J.
(2010) [83] đã sử dụng phương pháp đánh giá các đặc điểm hình thái kết hợp với chỉ thị phân tử RAPD để đánh giá đa d¿ng di truyền quần thể cÿa 73 giống Quế thuộc 17 loài được chọn từ 6 tỉnh á miền Nam Thái Lan. Đồng thßi đã sử dụng 50 mồi RAPD đã được sàng lọc và 10 mồi cho kết quÁ đa hình đã được chọn ra để đánh giá đa d¿ng di truyền cÿa các mẫu. Kết quÁ sử dụng 10 mồi RAPD thu được 78 băng ADN, trong đó có 75 băng đa hình (chiếm 96,15%). Sử dụng phần mềm NTSYS version 2.1 để phân tích hệ số tương đồng di truyền và cây phân lo¿i.
Hệ số tương đồng di truyền giữa các mẫu giống Quế dao động từ 0,397 đến 0,987, trung bình 0,641; 73 mẫu giống Quế được chia làm 5 nhóm. Trong đó, có hai nhóm loài C. ilicioides có mối quan hệ di truyền gần gũi nhÃt, hệ số tương đồng di truyền trung bình cao nhÃt là 0,843; hai nhóm loài C. mollisimum hệ số tương đồng di truyền trung bình nhỏ nhÃt là 0,522; còn l¿i 1 nhóm loài khác biệt hẳn các nhóm trên.
Tương tự như vậy, Sandigawad A. M et al (2011) [93] đã sử dụng 40 marker RAPD để đánh giá mối quan hệ di truyền giữa 8 loài thuộc chi Cinnamomum á Nam Ân Độ. Kết quÁ sử dụng 40 mồi RAPD thu được 111 băng ADN trong đó có 98% đa hình. Mồi OPB - 17 nhân lên được số băng lớn nhÃt là 16 băng.
Mồi OPA19 và OPB - 16 nhân lên được số băng nhỏ nhÃt là 3 băng. Số băng nhân lên trung bình là 8,54 băng/mồi. Kích thước băng nhân lên được cao nhÃt là 4200bp và thÃp nhÃt là 100bp. Hệ số tương đồng di truyền dao động từ 0,17 (giữa C.
travancoricum) đến 0,81 (giữa C. Dựa vào sơ đồ hình cây, 8 loài thuộc chi 10 Cinnamomum được chia thành 2 nhóm. Nhóm B duy nhÃt có 1 loài C. Như vậy, chỉ thị RAPD được sử dụng thành công trong việc phân lo¿i và nghiên cāu phát sinh loài á các loài thuộc chi Cinnamomum.
Công dāng và gic trß sÿ dāng căa vß và tinh dÅu Qu¿ Theo Vijayan and R. Ajithan Thampuran (2004) [95]; Chowdhury, S et al (1998) [73] cho thÃy sÁn phẩm chính cÿa cây Quế là vỏ và tinh dầu, có giá trị sử dụng rÃt đa d¿ng và nhiều công dụng. Quế được sử dụng làm thực phẩm và là một lo¿i gia vị quan trọng thā hai sau Hồ tiêu á các nước Âu Mỹ. Quế được sử dụng trong y học cổ truyền từ rÃt lâu t¿i Trung Quốc, Ân Độ và Việt Nam (Zhu, L.
Quế có tác dụng làm toát mồ hôi và được sử dụng như một lo¿i thuốc h¿ sốt, chống sốt rét, giÁm đau đầu, đau cơ, đau khớp và làm tăng nhiệt độ cơ thể, cÁi thiện máu lưu thông, có tác dụng điều trị chán ăn, tim m¿ch, đưßng ruột. Quế được sử dụng cho bào chế dược phẩm. Quế có dược tính chống sốt rét, chống dị āng và miễn dịch, h¿ huyết áp và tác dụng tim m¿ch. Vỏ và tinh dầu quế là thành phần chính trong nhiều công thāc bào chế thuốc cÿa Ân Độ, Anh, Trung Quốc, Úc, Bỉ, Châu Âu, Pháp, Đāc, Hungary, Nhật BÁn, Hà Lan, Bồ Đào Nha và Thụy Sĩ (Chungling Zang aet al 2019) [74].
Ngoài ra, Tinh dầu quế cũng được sử dụng nhiều trong các ngành công nghiệp chế biến thực phẩm và mỹ phẩm. Dầu Quế được sử dụng t¿o hương vị cho các lo¿i đồ uống và nước giÁi khát (B. Tinh dÅu Qu¿ và thành phÅn hóa hác căa tinh dÅu KhÁo sát tinh dầu trong các loài Quế, Wijesekera R.B et al (2004) [97] cho thÃy các loài trong chi Quế đều có tinh dầu.