Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ lịch sử chuyên ngành Lịch sử Việt Nam (mã số: 92 29 013) với đề tài "Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1884)" được tác giả Đinh Thị Thảo thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Nguyễn Đức Nhuệ tại Học viện Khoa học Xã hội thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, bảo vệ năm 2019.
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Trong những thập niên gần đây, nghiên cứu làng xã truyền thống Việt Nam được tiếp cận toàn diện từ nhiều phương diện, trong đó hoạt động thương nghiệp nông thôn diễn ra chủ yếu tại các chợ và thị tứ là một nhân tố quan trọng gắn kết kinh tế, chính trị, văn hóa của làng xã với vùng và cả nước. Giới nghiên cứu lịch sử đã chú ý chuyển dịch từ các mảng đề tài chính trị - quân sự thuần túy sang mảng đề tài kinh tế - văn hóa, đặc biệt là hoạt động nội thương ở các địa phương. Thế kỷ XIX giữ vị trí bản lề trong lịch sử Việt Nam, đánh dấu bước chuyển từ xã hội truyền thống sang cận đại dưới sự thiết lập quyền cai trị của thực dân Pháp. Trong bối cảnh đó, nghiên cứu kinh tế thương nghiệp nông thôn Nam Trung Bộ thông qua mạng lưới chợ có ý nghĩa học thuật rõ rệt. Chợ không chỉ là nơi tiêu thụ sản phẩm nông - lâm - ngư - thủ công nghiệp, mà còn phản ánh mức độ phát triển kinh tế hàng hóa, tập quán văn hóa và sự liên kết vùng. Về mặt thực tiễn, nghiên cứu này gắn liền với chủ trương phát triển mạng lưới chợ văn minh kết hợp duy trì yếu tố truyền thống đã được nêu trong Quyết định số 6481/QĐ-BCT ngày 26 tháng 6 năm 2015 của Bộ Công thương về Quy hoạch tổng thể phát triển mạng lưới chợ toàn quốc đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035, đồng thời đáp ứng nhu cầu tư liệu cho việc giảng dạy, học tập lịch sử địa phương.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu được xác định theo 3 nội dung:
- Thu thập, hệ thống hóa tư liệu nhằm khái quát diện mạo mạng lưới chợ Nam Trung Bộ (1802 - 1884); làm rõ các phương diện hoạt động của chợ như trao đổi hàng hóa, giá cả, lệ thuế, đơn vị đo lường, thành phần buôn bán và tổ chức quản lý; từ đó rút ra nhận xét về đặc điểm và vai trò của chợ đối với sự phát triển kinh tế, văn hóa - xã hội.
- Thông qua mạng lưới chợ để nhận diện các đặc trưng kinh tế, văn hóa, xã hội của các địa phương; lý giải mức độ phát triển kinh tế hàng hóa và nội thương ở Nam Trung Bộ trong giai đoạn 1802 - 1884.
- Bổ sung nguồn tư liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy lịch sử địa phương và giới thiệu về vùng đất, con người Nam Trung Bộ.
Nhiệm vụ nghiên cứu gồm 5 nhiệm vụ cụ thể:
- Sưu tầm, hệ thống hóa tư liệu liên quan; kế thừa kết quả của các nghiên cứu trước và xác định những vấn đề cần tiếp tục giải quyết.
- Phân tích các cơ sở điều kiện tự nhiên, kinh tế, chính trị, văn hóa - xã hội và giao thông hình thành, phát triển mạng lưới chợ.
- Tái hiện diện mạo của các chợ tiêu biểu ở vùng trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển và cửa sông.
- Làm rõ hoạt động trao đổi, buôn bán ở chợ và mối liên hệ kinh tế nội vùng, liên vùng cũng như với bên ngoài.
- Xác định các đặc điểm và vai trò của mạng lưới chợ đối với sự phát triển của vùng Nam Trung Bộ.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ, tập trung khảo sát các điểm chợ tiêu biểu ở vùng trung du, miền núi, đồng bằng, ven biển và cửa sông.
- Phạm vi không gian: Địa bàn 5 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay gồm Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Về mặt lịch sử thời Nguyễn thế kỷ XIX, khu vực này tương ứng với phân vùng hành chính Tả kỳ (gồm 4 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận bao gồm cả Ninh Thuận).
- Phạm vi thời gian: Từ năm 1802 (khi triều Nguyễn thành lập, thống nhất đất nước) đến năm 1884 (khi ký Hiệp ước Patenotre xác lập quyền bảo hộ của Pháp, chấm dứt thời kỳ độc lập tự chủ của nhà Nguyễn).
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào diện mạo và hoạt động trao đổi, buôn bán ở chợ; các hoạt động văn hóa chỉ được xem xét trong mối quan hệ tương quan với hoạt động thương mại.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trước mà tác giả điểm lại
Tác giả đã phân loại và khảo sát có hệ thống các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài:
Nghiên cứu của học giả trong nước:
- Về lịch sử kinh tế, văn hóa - xã hội: Nguyễn Thế Anh trong tác phẩm Kinh tế và xã hội Việt Nam dưới các vua triều Nguyễn (1971, tái bản 2008) phân tích sự kiểm soát ngoại thương của chính quyền và vai trò thương mại của Hoa kiều. Trương Thị Yến (1981) trên Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử và luận án tiến sĩ (2004) về Chính sách thương nghiệp của triều Nguyễn nửa đầu thế kỉ XIX đã xem xét chính sách thuế, thu mua, giá cả, đo lường và quan hệ với Hoa thương. Châu Hải (1994) nhìn nhận chính sách của triều Nguyễn đối với người Hoa qua nguyên lý "nhu viễn nhân". Dương Văn Huy nghiên cứu về hoạt động mậu dịch lúa gạo và thuốc phiện của người Hoa nửa đầu thế kỷ XIX. Nguyễn Quang Ngọc và Phan Đại Doãn (1985) nghiên cứu thương nghiệp nông thôn đồng bằng Bắc Bộ với mô hình chợ phiên khép kín. Nguyễn Quang Ngọc (1989, 1993) mở rộng khảo sát vào Nam Trung Bộ và Nam Bộ, nhấn mạnh sự xuất hiện của các thị tứ (như Kiên Mỹ ở Bình Định) và vai trò của Hoa thương so với mô hình làng buôn phía Bắc. Phan Đại Doãn (1992) trong Làng Việt Nam - một số vấn đề kinh tế, xã hội phân loại chợ làng và cấu trúc thương nghiệp nông thôn. Đỗ Bang (1998) trong đề tài khoa học cấp Nhà nước về kinh tế và tổ chức bộ máy nhà nước triều Nguyễn đã phân tích hệ thống thương mại, giao thông, đo lường và tiền tệ. Nhóm tác giả Viện Sử học gồm Trương Thị Yến, Vũ Duy Mền, Nguyễn Đức Nhuệ, Nguyễn Hữu Tâm, Phạm Ái Phương trong Lịch sử Việt Nam tập 5 (2013) và Võ Kim Cương chủ biên Lịch sử Việt Nam tập 6 (2013) đã trình bày có hệ thống về hoạt động nội thương và chợ địa phương giai đoạn 1802 - 1896. Về lịch sử địa phương, công trình của Nguyễn Tấn Hiểu (1998) về Quy Nhơn, Đỗ Bang và Lê Thế Vịnh (2009) về Lịch sử Phú Yên thế kỉ XIX (trong đó phân tích các trường giao dịch Thủy Xá, Hỏa Xá) cùng các bộ địa chí Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa đã cung cấp nhiều tư liệu về chợ và thuế chợ.
- Về phố cảng, đô thị, thị tứ: Phan Đại Doãn và Vũ Hồng Quân (1992) nghiên cứu về thị tứ Bình Định (Nước Mặn, Gò Găng, An Thái, Đập Đá). Đỗ Bang (1996) nghiên cứu phố cảng Thuận Quảng (Hội An, Thanh Hà, Nước Mặn). Nguyễn Thừa Hỷ, Đỗ Bang, Nguyễn Văn Đăng (1999) trong Đô thị Việt Nam dưới triều Nguyễn xác định đô thị Quy Nhơn hình thành muộn nhất vào năm 1837 từ sự kết hợp làng - chợ và thương nhân. Nguyễn Công Thành (2007) khảo cứu thị tứ phía nam Bình Định. Nguyễn Văn Giác (2015) nghiên cứu 4 phố cảng Nam Trung Bộ (Nước Mặn - Quy Nhơn, Vũng Lấm, Nha Trang, Phan Rí). Nhóm nghiên cứu của Nguyễn Văn Kim, Đỗ Trường Giang, Vũ Thị Xuyến, Đỗ Thị Thùy Lan, Đinh Đức Tiến, Nguyễn Danh Hạnh (2011, 2018) tiếp cận mối quan hệ giữa biển với lục địa qua mạng lưới trao đổi ven các dòng sông miền Trung như sông Côn, sông Cái.
Nghiên cứu của học giả nước ngoài:
- Công trình Xứ An Nam vào năm 1906 (L’Annam en 1906) cung cấp số liệu địa lý, tài nguyên, thương mại của các tỉnh.
- Henri Maitre (1912) với Rừng người Thượng (Les Jungles Moi) khảo cứu quan hệ trao đổi hàng hóa và thuế khóa giữa miền núi với đồng bằng Nam Trung Bộ nửa sau thế kỷ XIX.
- Tập san Những người bạn Cố đô Huế (B.A.V.H, 1914 - 1944) đăng tải các ghi chép của Jean Baptiste Chaigneau (1820), Deloustal (về thuế và tài chính cổ), Raymond Le Jarriel (về các tuyến giao thương phía Tây qua vùng người Ba-na).
- Yoshiharu Tsuboi (1982) với Nước Đại Nam đối diện với Pháp và Trung Hoa 1847-1885 nghiên cứu quan hệ thương mại và vai trò của thương nhân Hoa kiều thời Tự Đức.
- Li Tana trong Xứ Đàng Trong, Lịch sử kinh tế - xã hội Việt Nam thế kỉ 17 và 18 phân tích hệ thống thuế, mậu dịch và mối quan hệ giữa người Việt và người Thượng.
Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết
Qua điểm luận tư liệu, tác giả xác định 4 khoảng trống học thuật:
- Chưa có công trình nào tích hợp toàn diện sự hình thành, phát triển của thị tứ cùng các điều kiện tự nhiên, chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội để lý giải cơ sở hình thành mạng lưới chợ.
- Các nghiên cứu trước đây chỉ khảo sát hệ thống chợ ở từng địa phương đơn lẻ; chưa có công trình nào khảo cứu tổng thể mạng lưới chợ trên phạm vi cả 5 tỉnh Nam Trung Bộ trước và trong thời Nguyễn.
- Chưa có công trình nghiên cứu chuyên sâu về hoạt động thực tế của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ (nguồn hàng, phương thức trao đổi, đơn vị đo lường, giá cả, lệ thuế, thành phần buôn bán, tổ chức quản lý) gắn với mô hình kinh tế sông kết nối miền ngược và miền xuôi.
- Chưa có công trình làm rõ những đặc trưng riêng biệt của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ so với các vùng khác trong cả nước và đánh giá tác động của mạng lưới chợ trên phạm vi toàn vùng trong giai đoạn 1802 - 1884.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Lý thuyết, khái niệm và khung phân tích
Luận án vận dụng quan điểm của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; các luận điểm về nhà nước, phân công lao động, sản xuất và lưu thông hàng hóa, thị trường trong các tác phẩm kinh điển (Bàn về các xã hội tiền tư bản, Sản xuất hàng hóa, lưu thông và phân phối). Khung phân tích xem xét sự hình thành và hoạt động của mạng lưới chợ như một quá trình vận động khách quan dưới sự tác động đa chiều của điều kiện tự nhiên (địa hình phân tầng, mạng lưới sông ngòi hướng đông), chính sách nhà nước (thuế khóa, giao thông, tiền tệ), cấu trúc kinh tế nông nghiệp - thủ công nghiệp, sự phát triển của đô thị - thị tứ và truyền thống giao thương của các cộng đồng cư dân. Đồng thời, luận án sử dụng khái niệm "trường giao dịch" (nơi vừa thu thuế vùng núi vừa tổ chức các phiên chợ biên giới trao đổi sản vật giữa người Kinh và các tộc người thiểu số).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án kết hợp hai phương pháp chuyên ngành lịch sử và các phương pháp liên ngành:
- Phương pháp lịch sử: Phục dựng mạng lưới chợ và hoạt động thương mại theo tiến trình thời gian gắn với bối cảnh chính trị - xã hội cụ thể dưới các triều vua Gia Long, Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức.
- Phương pháp logic: Phân tích, tổng hợp các sự kiện để làm rõ bản chất kinh tế hàng hóa, xác lập mối liên hệ giữa chợ đầu mối với chợ vệ tinh, rút ra các đặc điểm và vai trò của mạng lưới chợ đối với vùng Nam Trung Bộ.
- Phương pháp điền dã thực địa: Khảo sát vị trí phân bố các chợ, bến đò, thị tứ tại các tỉnh Nam Trung Bộ để kiểm chứng và bổ sung cho tư liệu thành văn.
- Phương pháp thống kê, phân loại, đối chiếu tư liệu: Xử lý số liệu về số lượng chợ, thuế chợ, đơn vị đo lường và danh mục thổ sản từ các nguồn sử liệu thành văn khác nhau.
Nguồn tư liệu
- Nguồn tư liệu gốc triều Nguyễn: Các bộ địa chí (Hoàng Việt nhất thống dư địa chí của Lê Quang Định biên soạn năm 1806; Đại Nam nhất thống chí do Quốc Sử quán biên soạn); các bộ chính sử (Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện, Khâm định Việt sử thông giám cương mục); điển chế pháp luật (Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ tục biên, Hoàng Việt luật lệ / Luật Gia Long); tài liệu hành chính và địa bạ (Địa bạ triều Nguyễn, Châu bản triều Nguyễn).
- Nguồn tư liệu phương Tây: Các khảo sát, hồi ký của giáo sĩ và thương nhân thế kỷ XVII - XIX như Cristoforo Borri (1621), Alexandre de Rhodes, Pierre Poivre (1744), Jean Baptiste Chaigneau (1820); các báo cáo kinh tế của Tòa Công sứ Pháp tại Bình Định, Phú Yên, Bình Thuận cuối thế kỷ XIX.
- Nguồn tư liệu thực địa và địa phương: Các bộ địa chí tỉnh (Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa), sách sưu khảo dân gian, ca dao, hò vè và kết quả điền dã tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
Chương này dành 32 trang để phân tích có hệ thống các tài liệu trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo hai mạch chính: nghiên cứu lịch sử kinh tế, văn hóa - xã hội, đô thị, thị tứ và nghiên cứu chuyên biệt về chợ. Tác giả chỉ ra rằng các công trình đi trước chủ yếu xem xét chợ ở đồng bằng Bắc Bộ hoặc khảo cứu chợ ở quy mô từng tỉnh nhỏ lẻ. Chưa có công trình nào dựng lại bức tranh toàn cảnh về mạng lưới chợ trên toàn bộ 5 tỉnh Nam Trung Bộ trong bối cảnh phân vùng Tả kỳ thời Nguyễn. Tác giả xác lập rõ các kết quả kế thừa về mặt tư liệu địa chí, các chỉ dẫn về thị tứ và hệ sinh thái mậu dịch ven sông, đồng thời định vị các nội dung cần giải quyết về mạng lưới phân bố, hoạt động trao đổi, nguồn hàng, thuế khóa và đặc trưng liên kết vùng.
Chương 2: SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA MẠNG LƯỚI CHỢ Ở NAM TRUNG BỘ
Chương 2 trình bày các yếu tố tác động và tiến trình hình thành mạng lưới chợ từ trước thế kỷ XIX đến giai đoạn 1802 - 1884.
Các yếu tố tác động:
- Điều kiện tự nhiên: Chiều rộng lãnh thổ Nam Trung Bộ hẹp (trung bình 40 - 50 km, có nơi hẹp 20 km như phía nam đèo Cổ Mã). Địa hình chia làm 3 vùng rõ rệt: miền núi phía Tây, đồng bằng ven chân núi và vùng bờ biển khúc khuỷu nhiều đầm vịnh (đầm Trà Ổ, Nước Ngọt, Thị Nại, Thủy Triều, đầm Nại; vịnh Quy Nhơn, Xuân Đài, Nha Trang). Khí hậu chia thành vùng nhiệt đới ẩm (từ Bình Định đến bắc Khánh Hòa) và vùng nhiệt đới khô (từ cực nam Khánh Hòa đến Bình Thuận). Mạng lưới sông ngòi bắt nguồn từ dãy Trường Sơn đổ ra biển Đông tuy có chiều dài ngắn, lòng dốc nhưng tạo thành các trục liên kết tự nhiên quan trọng: sông Lại Giang, sông Côn, sông Hà Thanh (Bình Định); sông Ba - Đà Rằng, sông Kỳ Lộ (Phú Yên); sông Dinh, sông Cái Nha Trang (Khánh Hòa); sông Cái Phan Rang (Ninh Thuận); sông Lũy, sông Phú Hài, sông Dinh, sông La Ngà (Bình Thuận).
- Tình hình chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội: Nam Trung Bộ thời Nguyễn được cơ cấu thành vùng Tả kỳ. Về quan hệ ruộng đất, sở hữu tư nhân chiếm ưu thế áp đảo so với ruộng công (năm 1819, ruộng công, ruộng quan và ruộng muối cả nước chỉ chiếm 17,08% với 580.000 mẫu trên tổng số 3.584.000 mẫu; riêng Bình Định ruộng tư chiếm tỷ lệ rất lớn dẫn đến việc triều đình thực hiện chính sách quân điền năm 1839). Nền nông nghiệp lúa nước cùng cây công nghiệp (mía, dâu, cau, dừa) cung cấp nguyên liệu dồi dào. Các làng nghề thủ công phát triển tập trung: rèn Tây Phương Danh, nón Gò Găng (Bình Định), dệt Ngân Sơn (Phú Yên), nghề làm nước mắm tại Ninh Thuận, Bình Thuận. Cư dân đa tộc người (Kinh, Chăm, Ba-na, Raglai, Ê-đê, Hoa) tạo nên tư duy kinh tế mở, vượt ra khỏi khuôn khổ tự cấp tự túc.
- Chính sách thương nghiệp và hệ thống giao thông: Triều đình thống nhất đơn vị đo lường, tiền tệ, kiểm soát đường sông, đường biển và thiết lập các trạm dịch.
- Mạng lưới chợ thời Nguyễn: Số lượng chợ gia tăng so với giai đoạn trước. Chợ phân bố dọc theo các tuyến đường thiên lý, các trục giao thông đường thủy và cửa biển. Sự kết nối thương mại diễn ra trên hai bình diện: nội vùng (giữa các chợ vệ tinh nông thôn với chợ trung tâm/thị tứ ven sông) và liên vùng (với Bắc Kỳ, Nam Kỳ và vùng cao nguyên phía Tây).
Chương 3: HOẠT ĐỘNG TRAO ĐỔI, BUÔN BÁN Ở CHỢ NAM TRUNG BỘ
Chương này tái hiện chi tiết các hoạt động nghiệp vụ và sinh hoạt kinh tế tại chợ:
- Nguồn hàng hóa cung ứng: Gồm 4 nguồn hàng cơ bản:
- Hàng nông sản: Thóc gạo, rau củ, trầu cau, đường mía, dầu dừa.
- Hàng thủ công nghiệp: Vải lụa, đồ sắt rèn, nón lá, đồ gốm sứ, nước mắm, muối ăn.
- Hàng lâm, thổ, hải sản: Trầm hương, kỳ nam, quế, ngà voi, sừng tê giác, yến sào, cá khô, tôm khô.
- Hàng hóa nhập khẩu: Vải vóc, đồ đồng, thuốc bắc, thuốc phiện do thương thuyền nước ngoài (chủ yếu là người Hoa) vận chuyển tới qua các cửa biển.
- Phương thức trao đổi, mua bán: Kết hợp trao đổi tiền tệ và phương thức hàng đổi hàng tại các vùng giáp ranh cao nguyên. Hoạt động phân phối vận hành qua hai tầng nấc: bán buôn tại các chợ đầu mối/bến sông và bán lẻ tại các chợ làng nhỏ. Phương tiện vận chuyển chính là thuyền nan, thuyền ván trên sông và ghe bầu ngoài biển.
- Cách thức đo lường, tiền tệ và giá cả: Nhà nước quy định thống nhất các chuẩn đo lường (thước, cân, đấu, thăng) nhưng thực tế địa phương vẫn tồn tại các dụng cụ đong đếm dân gian. Tiền tệ lưu hành gồm tiền đồng, tiền kẽm và bạc thỏi. Giá cả hàng hóa biến động theo mùa vụ nông sản, thời tiết và mức độ chi phối nguồn cung của thương nhân đầu mối.
- Lệ thuế chợ và lệ họp chợ: Triều đình thực hiện thu thuế chợ theo các quy định trong Hội điển và Luật Gia Long; hình thức thu gồm khoán thuế cho dịch dịch hoặc đấu thầu thu thuế. Luận án phân tích mức thuế cụ thể tại một số chợ vùng núi tỉnh Bình Thuận dưới các triều vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức, đồng thời lập thống kê số chợ và mức thuế chợ trung bình vào nửa sau thế kỷ XIX. Lệ họp chợ phân chia thành chợ họp hàng ngày (thường ở các thị tứ, cửa sông) và chợ họp theo phiên (định kỳ mỗi tháng tại các vùng nông thôn hẻo lánh).
- Thành phần buôn bán và tổ chức quản lý: Người buôn bán gồm nông dân, thợ thủ công tự sản tự tiêu, tiểu thương nữ giới người Việt và lực lượng thương nhân chuyên nghiệp người Hoa. Quản lý chợ do bộ máy hương lý địa phương, quan lại phủ huyện cùng các trạm tuần ty kết hợp kiểm soát an ninh, chống gian lận thương mại và thu thuế theo điển lệ triều đình.
Chương 4: ĐẶC ĐIỂM VÀ VAI TRÒ CỦA MẠNG LƯỚI CHỢ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ, VĂN HÓA-XÃ HỘI Ở NAM TRUNG BỘ
Chương 4 đúc kết 5 đặc điểm nổi bật của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ:
- Đường thủy giữ vai trò quan trọng: Mạng lưới sông ngòi và bờ biển đóng vai trò huyết mạch kết nối hàng hóa từ miền ngược xuống miền xuôi và ra hải cảng.
- Cấu trúc chợ đầu mối - chợ vệ tinh: Các chợ lớn ven sông và thị tứ đảm nhận vai trò chợ đầu mối, xung quanh là hệ thống các chợ làng vệ tinh cung ứng nguyên liệu và tiêu thụ hàng hóa.
- Cơ cấu mặt hàng phong phú: Tích hợp cả nông sản địa phương, lâm thổ sản miền núi, hải sản duyên hải và hàng hóa ngoại nhập.
- Vai trò của thương nhân người Hoa: Lực lượng Hoa thương chuyên nghiệp đóng vai trò then chốt trong khâu thu mua khối lượng lớn, bán buôn và xuất nhập khẩu.
- Phạm vi hoạt động vượt khỏi làng xã: Chợ Nam Trung Bộ có tính chất mở, kết nối trực tiếp với thị trường liên tỉnh và quốc tế, không khép kín như mô hình chợ làng ở châu thổ Bắc Bộ.
Về vai trò, mạng lưới chợ Nam Trung Bộ đã thúc đẩy kinh tế hàng hóa, khuyến khích sự phát triển của các làng nghề thủ công và mở rộng khai thác tài nguyên rừng - biển; đồng thời là không gian gắn kết xã hội, thúc đẩy giao lưu văn hóa giữa cộng đồng người Việt, người Chăm, người Hoa và các dân tộc thiểu số Tây Nguyên.
Tổng hợp hệ thống bảng thống kê số liệu của luận án
Dưới đây là danh mục các bảng biểu số liệu quan trọng được tác giả xây dựng trong luận án:
| Ký hiệu bảng / sơ đồ |
Tên bảng biểu, sơ đồ trong luận án |
Nội dung dữ liệu chính |
| Bảng 2.1 |
Thống kê số lượng chợ và sự phân bố các chợ ở Nam Trung Bộ |
Phân bố chợ theo các đơn vị hành chính cấp phủ, huyện thuộc 5 tỉnh Nam Trung Bộ |
| Sơ đồ 2.1 |
Mạng lưới kết nối thương mại nội vùng và liên vùng |
Tuyến lưu thông hàng hóa ven sông, đường thủy, đường thiên lý và đường biển |
| Bảng 3.1 |
Thống kê số lượng thổ sản, hàng hóa nổi tiếng ở các tỉnh Nam Trung Bộ thế kỉ XIX |
Danh mục các sản vật, lâm sản, hải sản tiêu biểu của từng địa phương |
| Bảng 3.2 |
Đơn vị đo lường và tiền tệ thời Nguyễn |
Hệ thống thước, cân, đấu, thăng và các đơn vị tiền đồng, kẽm, bạc thỏi |
| Bảng 3.3 |
Thuế một số chợ vùng núi tỉnh Bình Thuận thời vua Minh Mệnh, Thiệu Trị và Tự Đức |
Mức thuế chợ miền núi, so sánh biến động qua ba triều vua |
| Bảng 3.4 |
Thống kê số chợ, tiền thuế chợ và thuế chợ trung bình mỗi chợ (nửa sau thế kỉ XIX) |
Số liệu tài chính thương nghiệp từ ghi chép của Quốc Sử quán triều Nguyễn |
| Bảng 4.1 |
Thống kê số lượng sông lớn, cầu, cống, bến đò ở các tỉnh Nam Trung Bộ (thế kỉ XIX) |
Chỉ số về cơ sở hạ tầng giao thông thủy - bộ phục vụ mạng lưới chợ |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt học thuật và lý luận
- Luận án đã sưu tầm, tập hợp và hệ thống hóa khối lượng tư liệu thành văn (địa chí, chính sử, hội điển, luật lệ, châu bản, địa bạ) kết hợp tư liệu khảo sát điền dã để tái hiện một cách khái quát và toàn diện mạng lưới chợ tại 5 tỉnh Nam Trung Bộ từ năm 1802 đến năm 1884.
- Góp phần nhận diện diện mạo làng xã và kinh tế thương nghiệp nông thôn Nam Trung Bộ thế kỷ XIX; lý giải mức độ phát triển của kinh tế hàng hóa địa phương trong mối liên hệ mật thiết giữa nông nghiệp, thủ công nghiệp và thương nghiệp.
- Xác định hệ thống 5 đặc điểm riêng của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ (vai trò của đường thủy, cấu trúc chợ đầu mối - thị tứ - chợ vệ tinh, tính chất mở vượt khỏi lũy tre làng, cơ cấu sản vật đa dạng và vai trò của mạng lưới thương nhân người Hoa).
- Khẳng định vai trò đa chiều của mạng lưới chợ trong việc phá vỡ tính tự cung tự cấp của nền kinh tế phong kiến, thúc đẩy sự phân công lao động xã hội và tạo dựng không gian giao lưu văn hóa giữa các cộng đồng cư dân đa tộc người.
- Cung cấp hệ thống tư liệu lịch sử phục vụ công tác nghiên cứu, biên soạn và giảng dạy lịch sử địa phương tại các trường đại học, cao đẳng và phổ thông ở các tỉnh Nam Trung Bộ.
Kiến nghị và giá trị ứng dụng thực tiễn
- Luận án cung cấp cơ sở khoa học để các cơ quan quản lý và chính quyền địa phương 5 tỉnh Nam Trung Bộ tham khảo trong việc hoạch định chính sách quy hoạch mạng lưới chợ truyền thống theo Quyết định số 6481/QĐ-BCT của Bộ Công thương, kết hợp giữa phát triển hạ tầng văn minh thương mại với việc bảo tồn các giá trị văn hóa chợ truyền thống.
- Cung cấp luận cứ lịch sử phục vụ công tác tuyên truyền, giáo dục nhận thức về truyền thống kinh tế biển, kinh tế sông và bản sắc văn hóa của cộng đồng cư dân Nam Trung Bộ.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế của đề tài
- Nguồn tư liệu thành văn của triều Nguyễn và các ghi chép lịch sử trước thế kỷ XIX về kinh tế thương nghiệp nông thôn, làng xã và hoạt động cụ thể của từng chợ ở Nam Trung Bộ còn tản mạn, đứt đoạn và hiếm hoi.
- Kết quả từ các chuyến điền dã thực tế tại các địa phương chưa thu thập được nhiều dữ liệu chi tiết như mục tiêu ban đầu do tác động của thời gian, sự thay đổi địa giới hành chính và quá trình biến đổi của các điểm chợ cổ.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Tiếp tục khai thác sâu các nguồn tư liệu địa phương như gia phả, hương ước, văn bia, địa bạ của từng làng xã nhằm khôi phục cụ thể hơn sinh hoạt của các chợ phiên nông thôn.
- Mở rộng khảo sát điền dã dọc theo hệ thống các dòng sông lớn (sông Côn, sông Ba, sông Cái) để làm rõ hơn các tuyến trao đổi hàng hóa tại các trường giao dịch miền núi tiếp giáp vùng cao nguyên Tây Nguyên.
Giá trị tham khảo
- Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Lịch sử: Luận án là tài liệu tham khảo trực tiếp về phương pháp tiếp cận kinh tế thương nghiệp nông thôn, mô hình liên kết kinh tế sông - biển và hệ thống tư liệu địa chí triều Nguyễn (Hoàng Việt nhất thống dư địa chí, Đại Nam nhất thống chí).
- Đối với các nhà nghiên cứu văn hóa, dân tộc học và kinh tế học lịch sử: Cung cấp dữ liệu về sinh hoạt chợ phiên, cơ chế hoạt động của trường giao dịch, đơn vị đo lường cổ và mối quan hệ trao đổi giữa người Kinh với người Chăm, người Hoa và các dân tộc thiểu số miền núi.
- Đối với cán bộ quản lý thương mại và quy hoạch kinh tế - xã hội địa phương: Cung cấp bức tranh phân bố mạng lưới chợ truyền thống gắn với địa hình tự nhiên, phục vụ công tác quy hoạch chợ và bảo tồn di sản văn hóa thương mại địa phương.
Câu hỏi thường gặp
1. Không gian nghiên cứu Nam Trung Bộ trong luận án được xác định gồm những địa bàn nào?
Không gian nghiên cứu của đề tài gồm 5 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ hiện nay: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Về mặt phân vùng hành chính thời Nguyễn thế kỷ XIX, khu vực này thuộc quyền quản lý trực tiếp của triều đình trung ương dưới tên gọi Tả kỳ (gồm 4 tỉnh: Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa và Bình Thuận bao gồm cả vùng Ninh Thuận).
2. Các nguồn sử liệu gốc chủ yếu nào của triều Nguyễn được sử dụng để khảo cứu tên gọi, vị trí và số lượng chợ?
Tác giả dựa vào hai bộ địa chí lớn của triều Nguyễn: Hoàng Việt nhất thống dư địa chí do Lê Quang Định biên soạn năm 1806 (ghi nhận hệ thống giao thông, trạm dịch, chợ búa đầu thế kỷ XIX) và Đại Nam nhất thống chí do Quốc Sử quán biên soạn (hoàn thành bản thảo năm 1882, in năm 1910, ghi chép đầy đủ về vị trí phố chợ, tên chợ theo thôn xã, tên tục và tiền thuế chợ). Bên cạnh đó là Đại Nam thực lục, Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ và các tập Địa bạ, Châu bản triều Nguyễn.
3. Khái niệm "trường giao dịch" ở Phú Yên được văn bản giải thích với cơ chế hoạt động ra sao?
Trường giao dịch là nơi đặt cơ quan thu thuế của triều đình tại các vùng đầu nguồn miền núi. Thuế tại đây được trưng thu bằng hiện vật; sau khi thu xong, phần nộp cho triều đình được niêm phong chuyển về kinh đô. Ngay tại địa điểm đó, trong khoảng 4 đến 5 ngày tiếp theo sẽ diễn ra một phiên chợ miễn thuế. Đây chính là điểm họp chợ biên giới để người Kinh và các tộc người thiểu số sinh sống tại Thủy Xá và Hỏa Xá đem sản phẩm nông - lâm sản ra trao đổi, mua bán.
4. Lực lượng thương nhân người Hoa giữ vai trò gì trong hoạt động của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ?
Thương nhân người Hoa là lực lượng thương nhân chuyên nghiệp then chốt trên thương trường Nam Trung Bộ thời Nguyễn. Hoa thương nắm giữ khâu thu mua, cung ứng hàng hóa lớn, chi phối hoạt động bán buôn từ nông thôn, liên kết các chợ vệ tinh với đô thị, thị tứ và kết nối mạng lưới nội thương với hoạt động ngoại thương ra nước ngoài (Trung Quốc, Singapore, Malaysia).
5. Đặc điểm giao thương đường thủy của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ có gì khác biệt?
Các con sông ở Nam Trung Bộ (như sông Côn, sông Ba - Đà Rằng, sông Cái) ngắn và có độ dốc lớn từ Tây sang Đông, đóng vai trò là trục giao thông kết nối các sản vật của miền núi, trung du xuống đồng bằng và đưa ra các cửa biển. Chợ Nam Trung Bộ phần lớn nằm cạnh sông, gắn liền với các bến đò, bến chợ, hình thành cấu trúc chợ đầu mối kết hợp phố chợ ven sông và liên kết trực tiếp với các thuyền buôn, ghe bầu trên biển.
Kết luận
Luận án tiến sĩ "Mạng lưới chợ ở Nam Trung Bộ thời Nguyễn (giai đoạn 1802 - 1884)" của Đinh Thị Thảo là công trình nghiên cứu lịch sử chuyên sâu về hoạt động kinh tế thương nghiệp nông thôn tại 5 tỉnh duyên hải Nam Trung Bộ trong thế kỷ XIX. Tác phẩm đã làm rõ các nhân tố tự nhiên, chính trị, kinh tế, xã hội tác động đến sự hình thành mạng lưới chợ; phục dựng chi tiết các hoạt động trao đổi hàng hóa, biểu thuế, đơn vị đo lường và tổ chức quản lý chợ. Luận án đã chỉ ra các đặc trưng riêng của mạng lưới chợ Nam Trung Bộ với cấu trúc mở dựa trên trục giao thông thủy ven sông và liên kết biển - lục địa, khẳng định vai trò của chợ đối với sự chuyển dịch kinh tế hàng hóa và giao lưu văn hóa đa tộc người dưới triều Nguyễn.