CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ DU LỊCH, VĂN HÓA ẨM THỰC VÀ DU LỊCH ẨM THỰC 1.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH 1.1 Khái niệm về du lịch Trước thế kỷ 19, du lịch chỉ là hiện tưởng nhỏ, lẻ tẻ của một ít người thuộc tầng lớp quý tộc. Cho đến thế kỷ 20 khách du lịch vẫn tự lo cho việc đi lại và ăn ở của mình vì lúc đó du lịch chưa được coi là đối tượng kinh doanh của nền kinh tế mà chủ yếu là các chuyến đi dài ngày nhằm mục đích liên quan đến các hoạt động tôn giáo, hành hương, lễ hội tôn giáo,…. Người ta coi du lịch là một hiện tượng nhân văn nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức và giải trí của con người. Có nhiều khái niệm khác nhau về định nghĩa của du lịch.
Tùy vào nhận thức của mỗi người xem mục đích đi du lịch là gì họ sẽ có những khái niệm phù hợp với nội dung khác nhau. "Hoạt động du lịch là một trong những hình thái vốn tồn tại trong đời sống con người. Từ xa xưa, hoạt động du lịch đã xuất hiện trong lịch sử phát triển của loài người. Ngày nay, du lịch đã trở thành một phần của nền văn minh nhân loại.
(Đào Ngọc Cảnh, 2011) Theo hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Roma – Italy (1963): “ Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ. Theo Luật Du lịch Việt Nam (2017) có giải thích ngắn gọn về khái niệm du lịch như sau: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá một năm liên tục nhằm đáo ứng các nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác.” Với cuộc sống ngày càng hiện đại, du lịch ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế du lịch càng gắn bó và tạo thành một hệ thống rộng lớn chặt chẽ. Với nhu cầu được nâng cao, du lịch trở thành một nhu cầu tất yếu đáp ứng mong muốn được liên kết với thế giới, kết nối và tiếp cận mọi người gần lại với nhau hơn bao giờ hết.2 Tài nguyên du lịch 1.1 Khái niệm tài nguyên du lịch Nguyễn Phạm Cẩm Nhung 17 Việt Nam học K45 Phát huy giá trị văn hóa ẩm thực người Khmer trong phát triển du lịch tỉnh An Giang Trong suốt gần 40 năm hình thành và phát triển về du lịch, Việt Nam đã có những bước tiến lớn về kinh tế ngày càng có vị trí trong nền kinh tế nước nhà.
Việt Nam là một quốc gia có khí hậu và cảnh quan nhiệt đới, họ sinh thái điển hình, với lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước, nền văn hóa đa dạng bản sắc dân tộc, Việt Nam trở thành quốc gia có nhiều tiềm năng tài nguyên du lịch phong phú đa dạng bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn trong đó có nhiều tài nguyên có giá trị. Tài nguyên du lịch như một tiền đề để phát triển du lịch, tài nguyên càng nhiều, đặc sắc thì hoạt động du lịch diễn ra càng hấp dẫn và phong phú. Theo Pirojnik (1985) nhận định: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa – lịch sử và những thành phần của chúng, tạo điều kiện cho việc phục hồi và phát triển thể lực tinh thần, khả năng lao động và sức khỏe của của con người. Trong cấu trúc nhu cầu du lịch hiện tại và tương lai, trong điều kiện khả năng kinh tế kỹ thuật cho phép, các loại tài nguyên này được dùng để trực tiếp và gián tiếp sản xuất ra những dịch vụ du lịch và nghỉ ngơi”.
Bùi Thị Hải Yến và Phạm Hồng Long( 2007) cho rằng: “ Tài nguyên du lịch là tất cả những gì thuộc về tự nhiên và các giá trị văn hóa do con người sáng tạo ra có sức hấp dẫn du khách, có thể được bảo vệ, tôn tạo và sử dụng cho ngành du lịch mang lại hiệu quả về kinh tế, xã hội và môi trường”. Nguyễn Minh Tuệ (2013) cũng đưa ra định nghĩa: “Tài nguyên du lịch là tổng thể tự nhiên, văn hóa - lịch sử cùng các thành phần của chúng có sức hấp dẫn với du khách;đã, đang và sẽ được khai thác, cũng như bảo vệ nhằm đáp ứng nhu cầu của du lịch một cách hiệu quả và bền vững". Tuy nhiên không phải tất cả các dạng tài nguyên đều có khả năng đưa vào hoạt động kinh doanh du lịch, cũng như việc phục hồi sức khỏe phát triển thể lực chỉ đúng với tình trạng nhà nước bao cấp trước đây, ngày nay ngoài việc hấp dẫn để được phục vụ khách khách du lịch thì còn phải mang lại hiệu quả kinh tế- xã hội cho quá trình phát triển của loài người. Luật Du lịch (2017) định nghĩa: “ Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch”.2 Vai trò của tài nguyên du lịch Tài nguyên du lịch là một yếu tố cơ bản nhất để hình thành các sản phẩm du lịch Mỗi sản phẩm có thể tạo nên nhiều loại hình du lịch.
Nguyễn Phạm Cẩm Nhung 18 Việt Nam học K45 Phát huy giá trị văn hóa ẩm thực người Khmer trong phát triển du lịch tỉnh An Giang Tài nguyên du lịch đóng một vai trò quan trọng và là điều kiện thuận lợi để đáp ứng nhu cầu của du khách bởi tài nguyên du lịch chính là mục đích trong mỗi chuyến đi của du khách. Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch Tài nguyên du lịch là một bộ phận cấu thành quan trọng của tổ chức lãnh thổ du lịch.3 Đặc điểm tài nguyên du lịch Để có thể sử dụng, bảo vệ và phát triển tài nguyên du lịch đạt được hiệu quả bền vững thì cần phải tìm hiểu, nghiên cứu đặc điểm của nguồn tài nguyên này. Tác giả Bùi Thị Hải Yến & Phạm Hồng Long (2007) trong quyển Tài nguyên du lịch đã đưa ra các đặc điểm như sau: Một số loại tài nguyên du lịch là đối tượng khai thác của nhiều ngành kinh tế - xã hội. Tài nguyên du lịch có phạm trù lịch sử nên ngày càng có nhiều loại tài nguyên du lịch được nghiên cứu, phát hiện, tạo mới và được đưa vào khai thác, sử dụng.
Tài nguyên du lịch mang tính biến đổi Hiệu quả và mức độ khai thác tài nguyên du lịch phụ thuộc vào các yếu tố Tài nguyên du lịch phong phú, đa dạng; có các giá trị thẩm mỹ, văn hóa lịch sử, tâm linh, giải trí; có sức hấp dẫn với du khách. Tài nguyên du lịch bao gồm các loại tài nguyên vật thể và tài nguyên phi vật thể. Tài nguyên du lịch là những loại tài nguyên có thể tái tạo được. Tài nguyên du lịch có tính sở hũu chung.
Việc khai thác tài nguyên du lịch gắn chặt với vị trí địa lý. Tài nguyên du lịch thường có tính mùa vụ và việc khai thác tài nguyên du lịch mang tính mùa vụ. Tài nguyên du lịch mang tính diễn giải và cảm nhận.4 Phân loại tài nguyên du lịch Theo cách phân loại của tác giả Nguyễn Minh Tuệ và cộng sự (năm 2000) phân loại tài nguyên du lịch thành hai nhóm như sau: Tài nguyên tự nhiên gồm: Địa hình; Khí hậu; Nguồn nước; Thực, động vật Tài nguyên nhân văn gồm: Các di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc; các lễ hội; các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học; Các đối tượng văn hóa – thể thao và hoạt động nhận thức khác. Nguyễn Phạm Cẩm Nhung 19 Việt Nam học K45 Phát huy giá trị văn hóa ẩm thực người Khmer trong phát triển du lịch tỉnh An Giang Trong nội dung trình bày về khái niệm của tài nguyên du lịch của Luật Du lịch Việt Nam (2017) lại sử dụng cụm từ “tài nguyên du lịch văn hóa” thay vì “tài nguyên du lịch nhân văn”.
Các loại tài nguyên du lich được quy định tại Điều 15 Luật Du lịch 2017. Cụ thể như sau: -Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất, địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể sử dụng cho mục đích du lịch. -Tài nguyên du lịch văn hóa bao gồm di tích lịch sử - văn hóa, di tích cách mạng, khảo cổ, kiến trúc; giá trị văn hóa truyền thống, lễ hội, văn nghệ dân gian và các giá trị văn hóa khác; công trình lao động sáng tạo của con người có thể được sử dụng mục đích du lịch.3 Các loại hình du lịch Có nhiều cách để chia du lịch thành các loại hình khác nhau. Có thể căn cứ vào nhu cầu thị trường và cơ sở của tài nguyên du lịch có khả năng để khai thác và các điều kiện để có thể phát triển du lịch , người ta thường kết hợp các yếu tố này với nhau để xác định các loại hình du lịch.
Mục đích của việc xác định các loại hình du lịch nhằm vào việc xây dựng chiến lược phát triển du lịch của quốc gia, của địa phương và định hướng kinh doanh cho các doanh nghiệp du lịch. Mỗi loại hình du lịch có một thị trường khác nhau và có những đòi hỏi về quy trình, cách thức tổ chức, con người phục vụ, trang thiết bị và chất lượng phục vụ khác nhau. Tuy nhiên, trong thực tế hoạt động du lịch có sự đan xen giữa các loại hình du lịch trong quá trình phục vụ khách du lịch. Theo Võ Văn Thành (2015) trong tổng quan du lịch, thì ở Việt Nam có các loại hình du lịch cơ bản sau: Du lịch văn hoá: là loại hình du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, cảm nhận, trải nghiệm văn hóa của khách du lịch như tham quan di tích lịch sử, di tích văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán, các công trình văn hóa lịch sử do con người tạo ra có giá trị phổ quát và đặc thù.
Trong du lịch văn hóa lại được chia nhỏ thành nhiều loại du lịch khác nhau: du lịch di tích lịch sử, du lịch phố cổ,Du lịch lễ hội, du lịch các di tích lịch sử văn hóa nổi tiếng.