phần mở đầu, kết luận, phụ lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm có 3 chƣơng với các nội dung chủ yếu sau: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên. Chƣơng 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nƣớc về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các dân tộc thiểu số trên địa bàn huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên thời gian tới. 7 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƢỚC VỀ BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY GIÁ TRỊ VĂN HÓA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ 1.
Một số khái niệm 1. Khái niệm văn hóa Văn hóa là tổng hợp các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo ra trong quá trình tƣơng tác với môi trƣờng tự nhiên và xã hội nhằm phục vụ lợi ích nhu cầu của con ngƣời. Nhìn từ góc độ đó, con ngƣời làm ra rất nhiều sản phẩm văn hóa hấp dẫn nhƣ các công trình kiến trúc chùa chiền, lễ hội, đời sống tâm linh, ẩm thực…Trong đó, những sản phẩm ẩm thực là gần gũi với đời sống nhất. Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa.
Cho tới nay trên thế giới có hơn 400 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Văn hóa là một lĩnh vực rộng lớn, rất phong phú và phức tạp, do đó khái niệm văn hóa cũng đa nghĩa. Nghĩa ban đầu của văn hóa trong tiếng Hán là những nét xăm mình, qua đó ngƣời khác nhìn vào để nhận biết và phân biệt với ngƣời khác. Theo ngôn ngữ phƣơng tây, từ tƣơng ứng với văn hóa của tiếng việt là culture trong tiếng Anh và tiếng Pháp, kultur trong tiếng Đức…có nguồn gốc từ các dạng động từ của tiếng Latinh có nghĩa là giữ gìn, chăm sóc, tạo dựng trong trồng trọt, cầu cúng.
Năm 2002, UNESCO đã đƣa ra một định nghĩa chung về văn hóa nhƣ sau: “Văn hóa là một tập hợp của những đặc trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và cảm xúc của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội và nó chứa, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương thức chung sống, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”. Năm 1940, Chủ tịch Hồ Chí Minh viết: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo 8 đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hàng ngày về ăn, mặc, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là sự tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loài người đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”.
Nghị quyết Trung ƣơng 5, khóa VIII nêu: “Văn hóa Việt Nam là thành quả hàng nghìn năm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồng các dân tộc Việt Nam, là kết quả giao lưu và tiếp thu tinh hoa của nhiều nền văn minh thế giới để không ngừng hoàn thiện mình. Văn hóa Việt Nam, làm rạng rỡ lịch sử vẻ vang dân tộc”[4]. Nhƣ vậy, nói một cách tổng quát, văn hóa là sản phẩm của loài ngƣời, văn hóa đƣợc tạo ra và phát triển trong quan hệ qua lại giữa con ngƣời và xã hội. Song, chính văn hóa lại tham gia vào việc tạo nên con ngƣời, duy trì sự bền vững và trật tự xã hội.
Văn hóa đƣợc truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quá trình xã hội hóa. Văn hóa đƣợc tái tạo, phát triển trong quá trình hành động và tƣơng tác xã hội của con ngƣời. Văn hóa là trình độ phát triển của con ngƣời, của xã hội đƣợc biểu hiện trong các kiểu và hình thức tổ chức đời sống và hành động của con ngƣời cũng nhƣ giá trị vật chất tinh thần do con ngƣời tạo ra và đƣợc con ngƣời thừa nhận, bao gồm trong đó có cái Chân, cái Thiện, cái Mỹ. Xây dựng và phát triển tốt những thành tố cấu thành khái niệm văn hóa chính là để tạo ra nền tảng tinh thần cho xã hội, góp phần khai thác và phát huy sức mạnh nội sinh của đất nƣớc trong thời kỳ đổi mới hội nhập và phát triển.
Khái niệm về bảo tồn và phát huy Trong Từ điển Tiếng việt do GS. Hoàng Phê (chủ biên) đã định nghĩa: “Bảo tồn là giữ lại, không để cho mất đi” [24, tr.37], còn “phát huy là làm cho cái hay, cái tốt tỏa sáng tác dụng và tiếp tục nảy nỡ thêm” [24, tr. Chúng ta thƣờng nghe nói: bảo tồn các di tích lịch sử, bảo tồn nền văn hóa dân tộc. Tuy nhiên, quá trình giữ lại này không phải là giữ lại một cách nguyên xi mà bao giờ cũng có sự kế thừa những nét tiến bộ và lọc bỏ những yếu tố lạc hậu.
9 Bảo tồn là bảo vệ và giữ gìn sự tồn tại của sự vật, hiện tƣợng theo dạng thức vốn có của nó. Bảo tồn là không để mai một, không để bị thay đổi, biến hóa hay biến thái. Nhƣ vậy, trong nội hàm của thuật ngữ này, không có khái niệm “cải biến”, “nâng cao” hoặc “phát triển”. Hơn nữa, khi nói đối tƣợng bảo tồn “phải đƣợc nhìn là tinh hoa”, chúng ta đã khẳng định giá trị đích thực và khả năng tồn tại theo thời gian, dƣới nhiều thể trạng và hình thức khác nhau của đối tƣợng đƣợc bảo tồn.
Khái niệm quản lý và quản lý nhà nước 1. Khái niệm quản lý Quản lý là hoạt động tất yếu khách quan của mọi quá trình lao động xã hội. Nói quản lý là nói đến một dạng hoạt động có mục đích của chủ thể quản lý tác động lên đối tƣợng quản lý nhằm thực hiện những mục tiêu nhất định đã định trƣớc thông qua nguyên tắc, hình thức, phƣơng pháp nào đó thích hợp. Quản lý bao giờ cũng có tính mục đích, tính tổ chức và hƣớng tới tính hiệu quả.
Nhƣ vậy, nó là một quá trình bao gồm chuỗi hoạt động khác nhau để đạt đƣợc kết quả mà chủ thể ngầm định đề ra để tồn tại và phát triển, quản lý cần thiết đối với mọi phạm vi hoạt động của xã hội. Chúng ta có thể hiểu khái niệm về quản lý nhƣ sau: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý đến đối tƣợng và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các nguồn nhân lực, các thời cơ của tổ chức để đạt mục tiêu đặt ra trong điều kiện môi trƣờng luôn biến động. Khái niệm quản lý nhà nước QLNN xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nƣớc, là quản lý công việc của Nhà nƣớc. Nội hàm QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử.
Ngày nay, QLNN xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp, hành pháp và tƣ pháp. QLNN là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nƣớc và sử dụng pháp luật nhà nƣớc để điều chỉnh hành vi hoạt động của con ngƣời 10 trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nƣớc thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của con ngƣời, duy trì ổn định và phát triển của xã hội. Theo giáo trình Quản lý hành chính nhà nƣớc của Học viện Hành chính Quốc gia, xuất bản năm 2011: “QLNN là sự tác động có tổ chức và điều chỉnh bằng quyền lực nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự pháp luật nhằm thực hiện những chức năng và nhiệm vụ của nhà nước trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc XHCN” [14, tr. QLNN đƣợc đề cập trong đề tài này là khái niệm QLNN theo nghĩa rộng: QLNN bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản luật, các văn bản mang tính luật đến việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của đối tƣợng bị quản lý và vấn đề tƣ pháp đối với đối tƣợng quản lý cần thiết của nhà nƣớc.
Hoạt động QLNN chủ yếu và trƣớc hết đƣợc thực hiện bởi tất cả các cơ quan nhà nƣớc, song có thể các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể quần chúng và nhân dân trực tiếp thực hiện nếu đƣợc nhà nƣớc ủy quyền, trao quyền thực hiện chức năng của nhà nƣớc theo quy định của pháp luật. Đặc điểm của QLNN mang tính quyền lực đặc biệt, tính tổ chức cao và tính mệnh lệnh đơn phƣơng của nhà nƣớc. QLNN đƣợc thiết lập trên cơ sở mối quan hệ “quyền uy” và “sự phục tùng”. QLNN mang tính tổ chức và điều chỉnh; tính khoa học, tính kế hoạch.
QLNN là những tác động mang tính liên tục, ổn định lên các quá trình xã hội và hệ thống các hành vi xã hội. QLNN về văn hóa: Là quản lý của nhà nƣớc đối với toàn bộ hoạt động văn hóa của quốc gia bằng quyền lực, thông qua hiến pháp, pháp luật và cơ chế chính sách nhằm đảm bảo cho sự phát triển của văn hóa dân tộc. QLNN về văn hóa là thực hiện quyền lực nhà nƣớc trong lĩnh vực văn hóa, bởi cơ quan thực hiện quyền lực này có thẩm quyền riêng, thống nhất từ Trung ƣơng đến địa phƣơng. Quản lý, điều hành các thiết chế, các tổ chức văn 11 hóa hoạt động theo chƣơng trình, kế hoạch quốc gia, xây dựng đội ngũ cán bộ, tổ chức thanh tra, kiểm tra về văn hóa.
Quản lý sự nghiệp văn hóa là quản lý về phƣơng tiện chuyên môn theo từng chuyên ngành của hoạt động văn hóa. Phƣơng tiện quản lý này thuộc trách nhiệm, chức trách của từng hệ thống thiết chế chuyên ngành thông qua việc xây dựng quy chế tổ chức và hoạt động, các biện pháp chỉ đạo, hƣớng dẫn của hệ thống thiết chế văn hóa ở các cấp. Từ những khái niệm trên, theo tác giả có thể khái quát QLNN về bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS là hoạt động của các cơ quan nhà nƣớc đƣợc tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp luật đối với hoạt động bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa các DTTS.