Tổng quan về luận án

Công trình nghiên cứu tiến sĩ triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số: 62 22 03 08) của nghiên cứu sinh Lê Thị Kim Hưng, dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Văn Thịnh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2018), mang tên: "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay". Đây là một khảo cứu lý luận và thực tiễn tiên phong đặt trong bối cảnh Việt Nam trải qua hơn 30 năm đổi mới, khi nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tạo ra những biến đổi căn bản trong toàn bộ đời sống kinh tế - xã hội vùng đồng bào thiểu số.

Khoảng trống học thuật (Research Gap) cốt lõi mà luận án giải quyết là sự thiếu hụt các công trình nghiên cứu chuyên sâu, toàn diện và có hệ thống về cơ chế vận hành, xung đột cấu trúc và giải pháp bảo tồn bản sắc văn hóa của cộng đồng người Tày – dân tộc thiểu số có dân số đông nhất vùng Đông Bắc (với 1.392.000 người trên cả nước) – dưới tác động trực tiếp của các quy luật kinh tế thị trường (quy luật giá trị, cạnh tranh, cung cầu). Các nghiên cứu trước đây chủ yếu dừng lại ở góc độ dân tộc học mô tả thuần túy hoặc tiếp cận kinh tế học độc lập mà chưa luận giải thấu đáo mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội trong thời kỳ chuyển đổi.

Hệ thống câu hỏi nghiên cứu (Research Questions) và giả thuyết khoa học (Hypotheses) được xác định rõ ràng:

  • RQ1: Bản sắc văn hóa dân tộc Tày bao gồm những thành tố cấu trúc cốt lõi nào cần được ưu tiên bảo tồn trong điều kiện mới?
  • RQ2: Cơ chế tác động hai mặt (tích cực và tiêu cực) của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đối với bản sắc văn hóa dân tộc Tày diễn ra như thế nào?
  • RQ3: Thực trạng biến đổi văn hóa và những mâu thuẫn cơ bản nảy sinh tại địa bàn thực nghiệm là gì?
  • RQ4: Hệ thống quan điểm và giải pháp đồng bộ nào có thể giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và bảo tồn di sản?
  • H1: Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trường tất yếu tạo ra xung đột giữa bảo tồn các giá trị truyền thống khép kín và xu hướng "Kinh hóa", thương mại hóa văn hóa.
  • H2: Sự suy giảm của các thiết chế văn hóa cơ sở và điều kiện vật chất là điểm nghẽn chính làm suy yếu khả năng tự đề kháng của văn hóa tộc người Tày.
  • H3: Việc kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế sinh kế (du lịch sinh thái, thương mại hóa sản phẩm bản địa) với bảo tồn chọn lọc sẽ tạo ra động lực nội sinh cho văn hóa Tày.

Khung lý thuyết của luận án dựa trên hệ thống quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh về văn hóa và đường lối Đại hội XII của Đảng Cộng sản Việt Nam: "Xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân - thiện - mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học; xây dựng văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần vững chắc của xã hội". Phạm vi nghiên cứu tập trung vào 3 tỉnh trọng điểm vùng Đông Bắc: Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lạng Sơn từ mốc khởi đầu công cuộc Đổi mới (1986) đến năm 2018.

Literature Review và Positioning

Tổng quan tình hình nghiên cứu được tác giả phân tích đa tầng qua 3 luồng học thuật chính:

  1. Dòng nghiên cứu lý luận văn hóa và bản sắc văn hóa: Nổi bật với luận điểm của Phạm Văn Đồng (1994) trong "Văn hóa và đổi mới", khẳng định: "Văn hóa là đổi mới, đổi mới là văn hóa, như vậy hai là một và một thành hai". Tác giả Hồ Bá Thâm (2003) phân tích bản sắc văn hóa như một bản thể sống động đa chiều (tiếp cận hoạt động, giá trị, phát triển và công nghệ). Trần Ngọc Thêm (2004, 2014) khảo cứu hệ giá trị văn hóa và ứng xử sinh thái nhân văn của người Việt, đồng thời chỉ ra tính hai mặt của kinh tế thị trường tác động lên cấu trúc văn hóa truyền thống.
  2. Dòng nghiên cứu kinh tế thị trường và biến đổi văn hóa: Nguyễn Duy Bắc (2008) phân tích sự trượt chuyển của các thang giá trị văn hóa đạo đức, gia đình, lối sống dưới tác động của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Vũ Đình Bách (2008) làm rõ cơ chế thể chế và các điều kiện đảm bảo vận hành nền kinh tế thị trường gắn với an sinh và tiến bộ xã hội.
  3. Dòng chuyên khảo nhân học và văn hóa dân tộc Tày - Nùng: Các công trình nền tảng của Lã Văn Lô và Hà Văn Thư (1984), Viện Dân tộc học (1992), Hoàng Quyết và Ma Khánh Bằng (2002), Hoàng Ngọc La và Hoàng Hoa Toàn (1998), Nguyễn Thị Yên (2009), La Công Ý (2014) đã miêu tả chi tiết hệ thống tín ngưỡng dân gian (Then, Mo, Pụt, Tào), văn học dân gian, lễ hội Lồng Tồng và văn hóa vật chất (nhà sàn, trang phục chàm đen).

Các cuộc tranh luận học thuật (Debates) nảy sinh xoay quanh hai trường phái đối lập:

  • Trường phái bảo tồn tĩnh/nguyên trạng (Preservationism): Coi mọi biến đổi do kinh tế thị trường mang lại đều làm tha hóa hoặc xói mòn bản sắc truyền thống, chủ trương giữ nguyên trạng các cấu trúc cổ xưa.
  • Trường phái tiếp biến - thị trường hóa (Commercialization/Modernism): Coi sự biến mất của các yếu tố cổ truyền là tất yếu của quy luật cạnh tranh và phát triển kinh tế, thúc đẩy biến di sản thành hàng hóa tiêu dùng văn hóa.

Luận án định vị mình ở giao điểm trung gian biện chứng: Bản sắc văn hóa không phải là một "hóa thạch bất biến" mà là một cấu trúc động ("dĩ bất biến, ứng vạn biến"), có sự kết hợp chọn lọc giữa kế thừa truyền thống ("gạn đục khơi trong") và bản địa hóa các giá trị tiến bộ của thời đại.

So sánh với các nghiên cứu quốc tế:

  • So với mô hình văn hóa đại chúng và truyền thông thương mại của James Wilson và Stan Le Roy Wilson (1983) trong "Mass Media, Mass Culture" tại phương Tây (vốn đặt văn hóa dân gian vào vòng xoáy thương mại hóa triệt để), luận án đã khẳng định tính đặc thù của thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN tại Việt Nam – nơi nhà nước đóng vai trò điều tiết nhằm bảo vệ các nhóm dân tộc thiểu số khỏi sự đồng hóa thị trường tự do.
  • So với các nghiên cứu bảo tồn văn hóa tộc người Tráng (dân tộc có quan hệ ngôn ngữ Tày - Thái) tại Quảng Tây, Trung Quốc (Hội đồng Lý luận Trung ương, 2012), luận án cung cấp mô hình thực chứng phù hợp với đặc thù phân bố cư trú đan xen và chính sách dân tộc tại vùng Đông Bắc Việt Nam.

Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án mở rộng lý luận của Chủ nghĩa duy vật lịch sử (C. Mác, Ph. Ăng-ghen, V.I. Lênin) về mối quan hệ giữa cơ sở hạ tầng (kinh tế thị trường nhiều thành phần) và kiến trúc thượng tầng (ý thức văn hóa tộc người). Công trình chứng minh rằng: Kinh tế thị trường không chỉ đơn thuần là phương thức phân phối của cải vật chất mà còn là môi trường sinh thái xã hội mới tái cấu trúc các giá trị tinh thần.

Mô hình lý thuyết được phát triển dựa trên 3 mệnh đề cốt lõi:

  • Mệnh đề 1: Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội – khi phương thức canh tác nông nghiệp tự cấp tự túc chuyển sang sản xuất hàng hóa, không gian văn hóa bản làng truyền thống bị biến đổi cấu trúc tất yếu.
  • Mệnh đề 2: Tính độc lập tương đối và sự tác động trở lại của ý thức xã hội – bản sắc văn hóa Tày đóng vai trò là "bộ lọc" tiếp biến và là nguồn lực nội sinh thúc đẩy kinh tế du lịch và gắn kết cộng đồng.
  • Mệnh đề 3: Quy luật phủ định của phủ định trong phát triển văn hóa – sự đào thải các hủ tục mê tín lạc hậu là tiền đề để nâng tầm các giá trị nhân văn (nghệ thuật Then, tính cố kết cộng đồng, tri thức bản địa) lên nấc thang mới.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án tích hợp 3 trụ cột lý thuyết:

  1. Lý thuyết hình thái kinh tế - xã hội và quy luật biện chứng (Marxism-Leninism).
  2. Lý thuyết tiếp biến văn hóa (Acculturation Theory) trong nhân học văn hóa.
  3. Lý thuyết sinh thái nhân văn vùng miền đặc thù của Đông Bắc Bộ.

Cách tiếp cận phân tích đi từ cấu trúc hình thái văn hóa kép:

  • Văn hóa vật chất: Nhà sàn truyền thống 3 thế hệ, trang phục chàm đen tự dệt, nông cụ sản xuất lúa nước (cái cày - "mạc thay"), ẩm thực dân gian.
  • Văn hóa tinh thần: Tín ngưỡng vạn vật hữu linh, hệ thống thực hành Then - Mo - Pụt - Tào, làn điệu dân ca (Sli, Lượn cọi, Lượn slương, Phong slư), lễ hội Lồng Tồng, hương ước bản làng.

Điều kiện biên (Boundary Conditions): Khung phân tích này có giá trị ứng dụng cao đối với các cộng đồng cư dân thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái và các tộc người thiểu số định cư vùng thung lũng miền núi phía Bắc trong điều kiện kinh tế thị trường chuyển đổi.

Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

  • Triết lý nghiên cứu: Chủ nghĩa duy thực phê phán (Critical Realism) kết hợp phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Nghiên cứu không nhìn nhận văn hóa như một tập hợp sự kiện tĩnh mà là một quá trình vận động dưới tác động của các mâu thuẫn kinh tế - xã hội khách quan.
  • Thiết kế hỗn hợp (Mixed-Methods Design): Kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu lý luận văn bản (phân tích chủ trương chính sách của Đảng, Nhà nước) với phương pháp điền dã dân tộc học (Ethnographic Fieldwork) và thống kê xã hội học thực chứng.
  • Thiết kế đa cấp độ (Multi-level): Khảo sát từ cấp độ cá nhân/hộ gia đình người Tày, cấp độ cộng đồng thôn bản, đến cấp độ quản lý vĩ mô của cấp ủy Đảng và chính quyền 3 tỉnh (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn).

Quy trình nghiên cứu rigorous

  • Chiến lược chọn mẫu: Chọn mẫu có chủ đích kết hợp phân tầng địa lý tại các địa bàn đại diện:
    • Vùng ven đô, công nghiệp hóa nhanh: Huyện Định Hóa, Võ Nhai (Thái Nguyên).
    • Vùng lõi sinh thái, du lịch: Huyện Ba Bể, Chợ Mới (Bắc Kạn).
    • Vùng biên mậu, giao thương quốc tế: Huyện Bình Gia, Cao Lộc, Văn Lãng (Lạng Sơn).
  • Thu thập dữ liệu:
    • Điền dã dân tộc học: Quan sát tham dự (Participant Observation) tại các không gian sinh hoạt văn hóa thực tế, điển hình như Lễ hội Lồng Tồng tại bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn.
    • Phỏng vấn sâu và tọa đàm: Tiếp xúc trực tiếp các chủ thể văn hóa (nghệ nhân Then, thầy Tào, già làng, trưởng bản) và cán bộ quản lý văn hóa cơ sở.
  • Tam giác đạc (Triangulation): Thực hiện đối chiếu đa chiều giữa tư liệu thành văn (chính sách, kỷ yếu khoa học), tư liệu điền dã thực địa và số liệu thống kê kinh tế - xã hội chính thức từ các niên giám thống kê địa phương.

Data và phân tích

  • Đặc trưng địa bàn khảo cứu:
    • Dân tộc Tày là cư dân bản địa lâu đời, chiếm tỷ lệ dân số lớn tại 3 tỉnh Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn).
    • Địa bàn nghiên cứu phản ánh sự đa dạng về điều kiện tự nhiên: từ cao nguyên đá vôi, thung lũng lòng chảo đến các cửa khẩu biên giới quốc tế (Tà Lùng, Hữu Nghị, Móng Cái) và các trục quốc lộ huyết mạch (1A, 1B, 4B, 3).
  • Phương pháp xử lý dữ liệu:
    • Kết hợp phân tích - tổng hợp định tính với phương pháp logic - lịch sử để dựng lại tiến trình vận động của văn hóa Tày từ giai đoạn kháng chiến (chiến khu Việt Bắc, ATK Định Hóa) đến thời kỳ hội nhập KTTT.
    • Phân loại, so sánh đối chiếu giữa các thế hệ (người cao tuổi và thanh niên Tày) về mức độ thụ hưởng và thực hành các nghi lễ cổ truyền.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Sự biến đổi sâu sắc của văn hóa vật chất: Dưới áp lực của thị trường hàng hóa tiêu dùng, trang phục chàm truyền thống hầu như biến mất trong sinh hoạt thường nhật, bị thay thế bởi quần áo may sẵn công nghiệp và chỉ còn xuất hiện mang tính biểu diễn trong lễ hội. Cấu trúc nhà sàn 3 thế hệ bằng gỗ tự nhiên đang suy giảm nghiêm trọng do sự khan hiếm tài nguyên rừng và chi phí xây dựng cao, nhường chỗ cho nhà xây gạch kiên cố dạng ống kiểu người Kinh.
  2. Sự chuyển dịch công năng của văn hóa tinh thần: Tín ngưỡng Then, Mo, Pụt đã có bước chuyển hóa rõ nét từ chức năng tâm linh - chữa bệnh thần bí nguyên thủy sang chức năng sinh hoạt nghệ thuật diễn xướng dân gian. Việc đẩy mạnh y tế cơ sở đã làm thay đổi tập quán "mời thầy Then về cúng chữa bệnh" sang khám chữa bệnh tại trạm xá, đồng thời độ tuổi kết hôn trung bình được nâng lên (trước đây tình trạng tảo hôn 12-16 tuổi diễn ra khá phổ biến, nay người dân đã tuân thủ Luật Hôn nhân và Gia đình).
  3. Phát hiện 3 mâu thuẫn/xung đột cấu trúc lớn:
    • Mâu thuẫn 1: Trình độ nhận thức của một bộ phận đồng bào còn hạn chế, tư tưởng trông chờ ỷ lại vào Nhà nước đối lập với yêu cầu chủ động, sáng tạo nâng cao hiệu quả giữ gìn bản sắc trong cơ chế thị trường.
    • Mâu thuẫn 2: Xung đột gay gắt giữa bảo tồn nguyên vẹn yếu tố văn hóa cổ truyền với nhu cầu tiếp thu yếu tố văn hóa mới hiện đại, dẫn đến hiện tượng lai căng, lệch chuẩn hoặc nguy cơ "Kinh hóa" làm phai nhạt cốt cách tộc người.
    • Mâu thuẫn 3: Sự thiếu hụt, nghèo nàn về nguồn lực vật chất và thiết chế văn hóa cơ sở đối lập với yêu cầu ngày càng cao của việc bảo tồn di sản quy mô lớn.
  4. Hiện tượng thương mại hóa và sân khấu hóa lễ hội: Điển hình tại các lễ hội lớn như Lễ hội Lồng Tồng vùng Đông Bắc, xuất hiện xu hướng lạm dụng dịch vụ thương mại, biến không gian tâm linh thành nơi vụ lợi kinh tế, làm suy giảm tính thiêng và tinh thần cố kết cộng đồng thuần khiết.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý luận: Bổ sung luận cứ khoa học khẳng định văn hóa không đứng ngoài kinh tế; phát triển kinh tế thị trường định hướng XHCN phải lấy văn hóa làm nền tảng tinh thần và mục tiêu điều tiết nhân văn.
  • Về mặt phương pháp luận: Cung cấp mô hình khảo sát liên ngành Triết học - Nhân học - Kinh tế học ứng dụng cho việc nghiên cứu các tộc người thiểu số tại vùng chuyển đổi.
  • Về mặt thực tiễn và chính sách:
    • Đề xuất lộ trình nâng cao năng lực lãnh đạo của tổ chức Đảng và chính quyền cơ sở: Đổi mới phương thức tuyên truyền giáo dục, đưa tri thức bản sắc Tày vào trường Phổ thông Dân tộc nội trú.
    • Xây dựng mô hình phát triển sinh kế bền vững: Gắn kết bảo tồn Then, hát Sli, Lượn với phát triển du lịch cộng đồng (Homestay nhà sàn) tại các điểm đến như Hồ Ba Bể (Bắc Kạn) và ATK Định Hóa (Thái Nguyên).
    • Tăng cường đầu tư thiết chế văn hóa cơ sở: Hoàn thiện hệ thống nhà văn hóa thôn bản, đẩy mạnh công tác kiểm kê, số hóa và sưu tầm toàn diện di sản Hán Nôm Tày, nghi lễ Then và diễn xướng dân gian.

Limitations và Future Research

  • Hạn chế về phạm vi không gian: Nghiên cứu chỉ tập trung chuyên sâu vào 3 tỉnh (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn), chưa bao quát toàn bộ vùng Đông Bắc mở rộng như Cao Bằng, Hà Giang, Tuyên Quang, Quảng Ninh – nơi có những phân nhóm Tày mang đặc trưng sinh thái biên giới và hải đảo khác biệt.
  • Hạn chế về dữ liệu lượng hóa: Do đặc thù đề tài thuộc chuyên ngành Triết học - Chủ nghĩa xã hội khoa học, việc áp dụng các mô hình kinh tế lượng hoặc phân tích định lượng thống kê nâng cao (như SEM, mô hình hồi quy đa biến) để đo lường định lượng giá trị vốn văn hóa còn ở mức độ khái quát.
  • Hướng nghiên cứu tương lai:
    1. Mở rộng nghiên cứu so sánh xuyên biên giới về biến đổi văn hóa giữa người Tày (Việt Nam) và người Tráng (Quảng Tây, Trung Quốc).
    2. Đánh giá tác động của không gian số và mạng xã hội đối với sự chuyển giao tri thức bản sắc cho thế hệ trẻ người Tày.
    3. Xây dựng bộ chỉ số lượng hóa (Cultural Capital Index) đo lường đóng góp của di sản Then Tày vào chuỗi giá trị du lịch kinh tế địa phương.

Tác động và ảnh hưởng

  • Tác động học thuật: Cung cấp nguồn tư liệu chuyên khảo có giá trị trích dẫn cao cho các nghiên cứu sinh, học viên cao học thuộc các ngành Triết học, Chủ nghĩa xã hội khoa học, Dân tộc học, Văn hóa học và Chính sách công.
  • Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở lý luận và thực chứng quan trọng để Ban Dân tộc, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn cụ thể hóa các Nghị quyết của Đảng về công tác dân tộc và phát triển văn hóa trong thời kỳ mới.
  • Lợi ích kinh tế - xã hội: Góp phần định hướng chiến lược chuyển đổi di sản thành tài sản kinh tế thông qua du lịch di sản, tạo việc làm và nâng cao thu nhập thực tế cho đồng bào người Tày, qua đó củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và đảm bảo an ninh quốc phòng vùng phên dậu Đông Bắc.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và Giới học thuật: Tiếp cận một khung phân tích triết học sâu sắc về biến đổi văn hóa tộc người trong nền kinh tế chuyển đổi; nhận diện các khoảng trống nghiên cứu liên ngành.
  • Cơ quan hoạch định chính sách cấp Trung ương và Địa phương: Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, Ủy ban Dân tộc, cấp ủy chính quyền các tỉnh Đông Bắc có cơ sở khoa học để ban hành cơ chế đầu tư thiết chế văn hóa phù hợp.
  • Cộng đồng người Tày và các Doanh nghiệp Du lịch: Nắm bắt được phương thức giữ gìn các giá trị cốt lõi (tiếng nói, chữ Nôm Tày, Then, nhà sàn) gắn với mô hình kinh tế du lịch bản địa, mang lại lợi ích kinh tế trực tiếp mà không làm mai một bản sắc.

Câu hỏi chuyên sâu

  1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì? Luận án đã mở rộng nguyên lý duy vật lịch sử về quy luật quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội vào bối cảnh kinh tế thị trường định hướng XHCN tại vùng dân tộc thiểu số. Công trình chỉ rõ bản sắc văn hóa Tày không đối lập tuyệt đối với kinh tế thị trường mà có khả năng chuyển hóa thành động lực nội sinh nếu được định hướng và điều tiết đúng đắn.

  2. Phương pháp nghiên cứu có điểm đổi mới nào so với các nghiên cứu trước? So với các công trình dân tộc học thuần túy trước đây (như của Hoàng Quyết hay La Công Ý), luận án kết hợp phương pháp luận triết học với phương pháp điền dã dân tộc học và phân tích chính sách công, đặt đối tượng nghiên cứu trong sự tương tác đa chiều giữa 3 tỉnh có tốc độ thị trường hóa khác nhau (công nghiệp hóa ở Thái Nguyên, sinh thái ở Bắc Kạn, biên mậu ở Lạng Sơn).

  3. Phát hiện bất ngờ và phản trực giác nhất từ dữ liệu thực tế là gì? Sự phát triển của kinh tế thị trường và tiếp cận y tế hiện đại không tiêu diệt nghi lễ Then - Mo mà tái cấu trúc chức năng của nó: chuyển từ một hình thức mê tín chữa bệnh sang một loại hình nghệ thuật diễn xướng dân gian có giá trị du lịch cao, được UNESCO công nhận là di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

  4. Nghiên cứu có cung cấp giao thức tái lặp (Replication Protocol) không? Có. Hệ thống tiêu chí phân loại văn hóa vật chất/tinh thần, bộ câu hỏi phỏng vấn sâu nghệ nhân và phương pháp tiếp cận điền dã tại thiết chế văn hóa cơ sở được chuẩn hóa, có thể tái lập để nghiên cứu các cộng đồng tộc người thiểu số khác như Nùng, Thái, Dao, Mường.

  5. Chương trình nghiên cứu 10 năm được phác thảo ra sao? Tác giả định hướng lộ trình nghiên cứu tiếp theo tập trung vào việc số hóa di sản Hán Nôm Tày, đánh giá tác động của cuộc Cách mạng Công nghiệp lần thứ tư đến sự tồn vong của các phương ngữ Tày, và nghiên cứu chuỗi giá trị kinh tế di sản tại các vùng đồng bào thiểu số miền núi phía Bắc.

Kết luận

  1. Luận án đã hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm hệ thống khái niệm công cụ: "Văn hóa", "Bản sắc văn hóa dân tộc", "Bản sắc văn hóa dân tộc Tày" dưới lăng kính Chủ nghĩa xã hội khoa học.
  2. Nhận diện chính xác 4 đặc trưng cốt lõi của bản sắc văn hóa Tày: Không gian cư trú bản làng gắn với nhà sàn truyền thống; Trang phục chàm đen mộc mạc đặc thù; Thiết chế xã hội cộng đồng gắn kết; Kho tàng nghệ thuật dân gian phong phú (Then, Lượn, Sli, Lễ hội Lồng Tồng).
  3. Đánh giá khách quan thực trạng hai mặt của quá trình thị trường hóa: Nâng cao mức sống và dân trí của đồng bào Tày nhưng đồng thời tạo ra nguy cơ mai một tiếng nói, chữ viết và hiện tượng "Kinh hóa" văn hóa vật chất.
  4. Chỉ ra 3 mâu thuẫn cấu trúc nội tại mang tính quy luật trong quá trình bảo tồn di sản tại các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn.
  5. Đề xuất hệ thống 6 nhóm giải pháp đồng bộ có tính khả thi cao: Từ tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao nhận thức, phát triển kinh tế sinh kế, đấu tranh chống phi văn hóa, củng cố thiết chế cơ sở đến tổng kiểm kê di sản toàn diện.
  6. Mở ra các hướng nghiên cứu liên ngành mới về kinh tế văn hóa và an ninh văn hóa vùng biên cương, khẳng định văn hóa dân tộc Tày là một bộ phận không thể tách rời cấu thành sự thống nhất trong đa dạng của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.