Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Triết học chuyên ngành Chủ nghĩa xã hội khoa học (mã số: 62 22 03 08) của nghiên cứu sinh Lê Thị Kim Hưng, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Dương Văn Thịnh tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2018, mang tiêu đề: "Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay".

Thông tin cơ bản Nội dung trích xuất từ văn bản
Tên đề tài Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay
Nghiên cứu sinh Lê Thị Kim Hưng
Người hướng dẫn PGS. Dương Văn Thịnh
Cơ sở đào tạo Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội
Chuyên ngành / Mã số Chủ nghĩa xã hội khoa học / 62 22 03 08
Học vị Tiến sĩ Triết học
Năm bảo vệ 2018
Kết cấu văn bản Mở đầu, 4 chương (12 tiết), Kết luận, Danh mục công trình khoa học của tác giả, Tài liệu tham khảo và Phụ lục

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Sau hơn 30 năm đổi mới, sự phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tại Việt Nam đã mang lại những chuyển biến kinh tế - xã hội to lớn, đồng thời tác động sâu sắc đến đời sống văn hóa tinh thần. Đối với vùng Đông Bắc, dân tộc Tày là cộng đồng thiểu số có dân số đông nhất và giữ vai trò chủ thể văn hóa của vùng. Trong bối cảnh kinh tế thị trường, văn hóa truyền thống Tày vừa có cơ hội phục dựng và phát triển, vừa đối mặt với nguy cơ biến đổi tiêu cực, pha tạp, "Kinh hóa" và suy giảm các giá trị đặc trưng.

Luận án chỉ ra rằng dù đã có nhiều công trình nghiên cứu riêng lẻ về văn hóa dân tộc Tày hoặc về lý luận kinh tế thị trường, nhưng chưa có một công trình nào giải quyết toàn diện, chuyên sâu và có hệ thống vấn đề giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày dưới tác động trực tiếp của kinh tế thị trường tại địa bàn cụ thể của một số tỉnh vùng Đông Bắc.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là làm rõ những vấn đề lý luận về giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày ở vùng Đông Bắc trong điều kiện kinh tế thị trường; đánh giá thực trạng, nhận diện các vấn đề đặt ra và đề xuất hệ thống quan điểm, giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả công tác này.

Nhiệm vụ nghiên cứu được văn bản xác định cụ thể qua 4 nội dung:

  1. Làm rõ các khái niệm "Văn hóa", "Bản sắc văn hóa dân tộc", đặc trưng bản sắc văn hóa dân tộc Tày và quan niệm về giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc.
  2. Phân tích nội dung giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày dưới sự tác động của kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay.
  3. Đánh giá thực trạng, nguyên nhân và các vấn đề đặt ra từ thực tiễn giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày tại địa bàn khảo sát.
  4. Đề xuất hệ thống quan điểm và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường ở một số tỉnh Đông Bắc Việt Nam hiện nay.
  • Phạm vi không gian: Khảo sát tập trung tại 3 tỉnh thuộc vùng Đông Bắc là Thái Nguyên, Bắc Kạn và Lạng Sơn.
  • Phạm vi thời gian: Từ khi đất nước tiến hành công cuộc đổi mới (năm 1986) đến thời điểm hoàn thành luận án (năm 2018).
  • Phạm vi chủ thể: Nghiên cứu tập trung vào chủ thể đồng bào dân tộc Tày cùng vai trò lãnh đạo, quản lý của các cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã hệ thống hóa và phân loại các tài liệu nghiên cứu liên quan đến đề tài theo 3 nhóm nội dung chính:

                                  TỔNG QUAN TÀI LIỆU
[Nhóm 1: Lý luận Văn hóa & BSVH]  [Nhóm 2: Bản sắc Văn hóa Dân tộc Tày]  [Nhóm 3: KTTT & Văn hóa Tày trong KTTT]
• Phạm Văn Đồng (1994)             • Lã Văn Lô - Hà Văn Thư (1984)        • Vũ Đình Bách - Trần Minh Đạo (2004)
• James Wilson - Stan Le Roy       • Viện Dân tộc học (1992)              • Nguyễn Duy Bắc (2008)
• Nguyễn Tri Nguyên (2002)         • Hoàng Quyết - Ma Khánh Bằng (1992)   • Vũ Đình Bách (KX.01)
• Trần Ngọc Thêm (1997, 2014)      • Hoàng Ngọc La - Hoàng Hoa Toàn       • Hoàng Quyết - Tuấn Dũng (1997)
• Hồ Bá Thâm (2003)                • Vũ Anh Tuấn (2005)                   • Hoàng Nam (2008)
• Phạm Duy Đức (2002)              • Nguyễn Thị Yên (2009)                • Hà Văn Viễn et al. (2008)
• Phạm Minh Hạc (1996)             • La Công Ý (2014)                     • Hội đồng Lý luận Trung ương (2013)
• Ngô Đức Thịnh (KX.03.14/06-10)   • Hà Đình Thành (2011)                 • Nguyễn Văn Chiều, Nguyễn Chí Mỳ...

1. Các nghiên cứu về văn hóa, bản sắc văn hóa và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa

  • Phạm Văn Đồng trong Văn hóa và đổi mới (1994) khẳng định mối quan hệ mật thiết giữa văn hóa và công cuộc đổi mới của đất nước.
  • James Wilson và Stan Le Roy Wilson với Mass Media, Mass Culture xem xét vai trò của truyền thông đại chúng đối với văn hóa đại chúng và xu hướng thương mại hóa văn hóa.
  • Nguyễn Tri Nguyên trong Văn hóa tiếp cận từ vấn đề và hiện tượng (2002) làm rõ bản sắc dân tộc là điều kiện để đổi mới văn hóa.
  • Trần Ngọc Thêm với Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam (1997) và Một số vấn đề về hệ giá trị Việt Nam trong giai đoạn hiện tại (2014) phân tích hệ giá trị văn hóa và sự biến đổi trong cơ chế thị trường.
  • Hồ Bá Thâm trong Bản sắc văn hoá dân tộc (2003) phân tích văn hóa ở các góc độ hoạt động, giá trị, phát triển và công nghệ.
  • Phạm Duy Đức trong Những thách thức của văn hóa Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế (2002) và Nguyễn Duy Quý trong Nhận thức văn hóa Việt Nam (2002) làm rõ cội nguồn sức mạnh của văn hóa Việt Nam.
  • Phạm Xuân Nam với Sự đa dạng văn hóa và đối thoại giữa các nền văn hóa, một góc nhìn từ Việt Nam (2008) bàn về bảo tồn tính đa dạng văn hóa trong toàn cầu hóa.
  • Lê Như Hoa (Phát huy bản sắc văn hóa Việt Nam trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, 2001), Phạm Minh Hạc (Phát triển văn hóa, giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc kết hợp với tinh hoa nhân loại, 1996), Phan Ngọc (Bản sắc văn hóa Việt Nam, 2002), Nguyễn Trọng Chuẩn - Phạm Văn Đức - Hồ Sỹ Quý (Tìm hiểu giá trị văn hóa truyền thống trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, 2004), Trường Lưu (Toàn cầu hóa và vấn đề bảo tồn văn hóa dân tộc, 2007) và Ngô Đức Thịnh (Bảo tồn, làm giàu và phát huy các giá trị truyền thống Việt Nam, đề tài KX.03.14/06-10) đã làm rõ các chiều kích lý luận về việc bảo vệ các giá trị văn hóa truyền thống trước thách thức hội nhập.

2. Các nghiên cứu chuyên sâu về bản sắc văn hóa dân tộc Tày

  • Lã Văn Lô và Hà Văn Thư trong Văn hóa Tày - Nùng (1984) giới thiệu toàn diện xã hội, phong tục và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, thờ Then, Mo.
  • Viện Dân tộc học trong Các dân tộc Tày - Nùng ở Việt Nam (1992, từ trang 302 đến 310) mô tả chi tiết lễ hội Lồng Tồng và các đặc trưng văn hóa vật chất, tinh thần của người Tày - Nùng.
  • Hoàng Quyết và Ma Khánh Bằng với Văn hóa truyền thống Tày - Nùng (1992) nghiên cứu nghệ thuật kiến trúc nhà sàn, chữ Nôm Tày và văn học dân gian.
  • Hoàng Ngọc La và Hoàng Hoa Toàn trong Tín ngưỡng dân gian Tày (2000), kết hợp với Vũ Anh Tuấn trong Văn hóa dân gian Tày (2005) phân tích nhà ở, trang phục, ẩm thực, dân ca Then, Sli, Lượn.
  • Nguyễn Thị Yên trong Tín ngưỡng dân gian Tày - Nùng (2009) khảo cứu sâu hệ thống nghi lễ và sự biến đổi của đời sống tâm linh trong bối cảnh đương đại.
  • La Công Ý với Đến với người Tày và văn hoá Tày (2014, 416 trang, hơn 150 ảnh và bản đồ) mô tả hệ thống hiện vật văn hóa Tày.
  • Hà Đình Thành trong Văn hóa dân gian Tày - Nùng ở Việt Nam (2011), Đỗ Thúy Bình (Hôn nhân và gia đình các dân tộc Tày, Nùng, Thái ở Việt Nam, 1995), Nông Văn Hoàn (Bước đầu nghiên cứu về Then Việt Bắc, 2006) và Dương Sách (Văn hóa ẩm thực các dân tộc thiểu số vùng Đông Bắc, 2004) làm rõ các khía cạnh cụ thể của văn hóa dân gian Tày.

3. Các nghiên cứu về kinh tế thị trường và văn hóa dân tộc Tày trong kinh tế thị trường

  • Vũ Đình Bách và Trần Minh Đạo trong Đặc trưng của Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (2004) cùng đề tài cấp Nhà nước KX.01 do Vũ Đình Bách chủ biên đã làm rõ thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
  • Nguyễn Duy Bắc trong Sự biến đổi các giá trị văn hóa trong bối cảnh xây dựng nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay (2008) phân tích tác động hai mặt của kinh tế thị trường tới thang giá trị văn hóa.
  • Hoàng Quyết và Tuấn Dũng trong Phong tục tập quán dân tộc Tày ở Việt Bắc (1997), Hoàng Văn Páo (Lễ hội Lồng Tồng của người Tày bản Chu, xã Hưng Đạo, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, 2007), Hoàng Nam (Văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc, 2008) và Hà Văn Viễn - Lương Văn Bảo - Lâm Xuân Đình (Bản sắc và truyền thống văn hóa các dân tộc tỉnh Bắc Kạn, 2008) cung cấp các tư liệu thực tế tại các địa bàn cụ thể ở Đông Bắc.

Khoảng trống nghiên cứu luận án giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận văn hóa Tày thuần túy dưới góc độ dân tộc học, văn hóa học lịch sử, hoặc nghiên cứu kinh tế thị trường chung ở tầm vĩ mô. Khoảng trống còn lại là việc phân tích tổng hợp dưới góc độ Chủ nghĩa xã hội khoa học về mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường và thực trạng bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa Tày tại 3 tỉnh Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn), từ đó chỉ ra những mâu thuẫn nảy sinh và đề xuất giải pháp đồng bộ.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và khung phân tích

  • Chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh: Luận án dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, đặc biệt là quy luật về mối quan hệ biện chứng giữa tồn tại xã hội và ý thức xã hội (đời sống vật chất quyết định đời sống tinh thần), các hình thái ý thức xã hội và quy luật phủ định của phủ định.
  • Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam: Vận dụng trực tiếp Nghị quyết Hội nghị Trung ương 5 khóa VIII về "Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc", Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng về xây dựng văn hóa, con người phát triển toàn diện và hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước liên quan đến chính sách dân tộc, văn hóa.
  • Khái niệm công cụ cốt lõi: Luận án thao tác hóa các khái niệm "Văn hóa", "Bản sắc văn hóa dân tộc", "Bản sắc văn hóa dân tộc Tày" (bao gồm cả phương diện văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần), "Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa".

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp đa dạng các phương pháp nghiên cứu định tính và phương pháp liên ngành khoa học xã hội:

  • Phương pháp kết hợp phân tích và tổng hợp: Sử dụng để hệ thống hóa cơ sở lý luận, làm rõ các khái niệm công cụ và phân tích các văn kiện, tư liệu lý thuyết.
  • Phương pháp lịch sử và lôgic: Được áp dụng để nghiên cứu quá trình hình thành, phát triển tộc người Tày và diễn tiến biến đổi bản sắc văn hóa trong các giai đoạn lịch sử.
  • Phương pháp so sánh: So sánh giữa các giai đoạn phát triển kinh tế (trước và sau đổi mới), so sánh giữa các địa phương trong vùng Đông Bắc (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn) và giữa dân tộc Tày với các dân tộc láng giềng (Kinh, Nùng).
  • Phương pháp điền dã: Quan sát thực tế đời sống sinh hoạt, phong tục tập quán, nghi lễ tín ngưỡng tại các thôn bản thuộc địa bàn 3 tỉnh nghiên cứu.
  • Phương pháp hệ thống hóa, khái quát hóa: Khái quát các nhóm mâu thuẫn thực tiễn và xây dựng hệ thống quan điểm, giải pháp.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

Nguồn dữ liệu của luận án bao gồm: văn kiện, nghị quyết của Đảng và chính sách của Nhà nước; số liệu thống kê dân số và kinh tế - xã hội tại các địa phương (Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn); các tư liệu khảo cứu của Viện Dân tộc học, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam; các bài viết, sách chuyên khảo đã xuất bản và nguồn tư liệu thu thập qua điền dã thực tế của tác giả.


Nội dung chính theo từng chương

Chƣơng 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

Chương 1 tổng hợp các hướng nghiên cứu lớn trong và ngoài nước liên quan đến đề tài theo 3 trục: lý luận về văn hóa và bản sắc văn hóa; các công trình nghiên cứu về bản sắc văn hóa dân tộc Tày; các nghiên cứu về kinh tế thị trường và sự tác động của nó đến văn hóa dân tộc Tày.

Tác giả đánh giá rằng các công trình đi trước đã làm rõ diện mạo văn hóa Tày truyền thống nhưng phần nhiều dừng lại ở mô tả lịch sử hoặc nghiên cứu diện rộng toàn quốc, chưa phân tích thấu đáo sự chuyển đổi giá trị văn hóa Tày dưới áp lực của nền kinh tế thị trường tại các tỉnh Đông Bắc. Đây là cơ sở xác lập tính cấp thiết và nhiệm vụ nghiên cứu riêng của luận án.

Chƣơng 2: LÝ LUẬN CHUNG VỀ GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 2 xây dựng hệ thống lý luận và phác thảo bối cảnh nghiên cứu qua 4 tiết:

  • Khái niệm và đặc trưng: Làm rõ bản sắc văn hóa dân tộc Tày là những giá trị vật chất và tinh thần cốt lõi. Dân tộc Tày (với các nhóm Ngạn, Phén, Thù Lao, Pa Dí, Tày Khao thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái) có dân số 1.392.000 người (dân tộc thiểu số đông nhất Việt Nam). Bản sắc Tày được hình thành gắn liền với nền văn minh lúa nước ("mạc thay", "thây" nghĩa là cày), cư trú trong thung lũng, ven sông suối với nhà sàn truyền thống 3 thế hệ, trang phục nhuộm chàm đen kết hợp trang sức bạc. Về tinh thần, nổi bật với hệ thống tín ngưỡng vạn vật hữu linh, thờ cúng tổ tiên, thực hành nghi lễ Then, Mo, Pụt, Tào; các lễ hội mùa xuân như lễ hội Lồng Tồng; các làn điệu dân ca giao duyên Sli, Lượn (Lượn cọi, Lượn slương, Phong slư).
  • Bối cảnh vùng Đông Bắc: Vùng có vị trí địa kinh tế và quốc phòng xung yếu, tiếp giáp biên giới Trung Quốc với hệ thống cửa khẩu quốc tế và quốc lộ huyết mạch. Vùng Đông Bắc có nguồn gốc người Tày gồm 3 bộ phận (trong đó bộ phận bản địa hình thành từ thời đồ đá chuyển sang đồ đồng thau cách đây 3-4 nghìn năm). Tỷ lệ dân số Tày tại Bắc Kạn chiếm 52,9%.
  • Nội dung giữ gìn và phát huy: Xác định rõ giữ gìn là bảo tồn các yếu tố tinh hoa (nhà sàn, trang phục chàm, tiếng nói, chữ Nôm Tày, hát Then, lễ hội Lồng Tồng), đồng thời phát huy là làm cho các giá trị này thích ứng và phát triển trong đời sống mới.
  • Tác động của kinh tế thị trường: Phân tích tác động hai mặt: mặt tích cực tạo nguồn lực vật chất, mở rộng giao lưu, thúc đẩy thương mại hóa di sản lành mạnh; mặt tiêu cực gây nguy cơ thực dụng hóa, mai một tiếng nói, bỏ rơi trang phục truyền thống, biến tướng nghi lễ và xu hướng "Kinh hóa".
                 TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN VĂN HÓA TÀY
[MẶT TÍCH CỰC / CƠ HỘI]                                       [MẶT TIÊU CỰC / NGUY CƠ]
• Nâng cao đời sống vật chất, hạ tầng                         • Thương mại hóa làm sai lệch nghi lễ
• Tạo nguồn lực đầu tư thiết chế văn hóa                      • Mai một ngôn ngữ, chữ viết Nôm Tày
• Khôi phục, quảng bá lễ hội Lồng Tồng, hát Then              • Bỏ trang phục chàm, thay đổi nhà sàn
• Mở rộng giao lưu, tiếp thu giá trị văn minh mới             • Xu hướng "Kinh hóa" và suy giảm bản sắc

Chƣơng 3: GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY: THỰC TRẠNG VÀ VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Chương 3 đánh giá thực trạng tại 3 tỉnh Thái Nguyên, Bắc Kạn, Lạng Sơn:

  • Thành tựu: Nhận thức của cấp ủy Đảng, chính quyền và đồng bào được nâng lên; nhiều lễ hội truyền thống như Lồng Tồng được phục dựng; nghệ thuật hát Then và đàn Tính được lập hồ sơ bảo tồn; hệ thống thiết chế văn hóa cơ sở (nhà văn hóa bản, làng) được đầu tư xây dựng; đời sống kinh tế đồng bào từng bước cải thiện, xóa đói giảm nghèo đạt kết quả khả quan.
  • Hạn chế: Nhiều giá trị văn hóa vật thể bị biến dạng (nhà sàn truyền thống bị thay thế bằng nhà xây bê tông, trang phục chàm ít được mặc thường ngày); ngôn ngữ tiếng Tày và chữ Nôm Tày có nguy cơ mai một ở thế hệ trẻ; các nghi lễ Then, Mo đôi nơi bị thương mại hóa thành mê tín dị đoan; thiết chế văn hóa ở vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn và hoạt động kém hiệu quả.
  • Nguyên nhân: Xuất phát điểm kinh tế thấp, nguồn ngân sách đầu tư cho văn hóa hạn hẹp; cơ chế thị trường làm thay đổi thang giá trị tâm lý chạy theo lợi ích trước mắt; công tác quản lý văn hóa cơ sở còn lúng túng; trình độ dân trí của một bộ phận đồng bào chưa đồng đều.
  • Ba mâu thuẫn lớn đặt ra từ thực tiễn:
    1. Mâu thuẫn giữa trình độ nhận thức của đồng bào còn hạn chế với yêu cầu nâng cao hiệu quả giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày trong điều kiện kinh tế thị trường.
    2. Mâu thuẫn giữa bảo tồn yếu tố văn hóa cũ với tiếp thu yếu tố văn hóa mới trong quá trình giao lưu văn hóa.
    3. Mâu thuẫn giữa sự thiếu hụt, hạn chế về điều kiện cơ sở vật chất với yêu cầu bảo đảm hiệu quả thực tế của công tác bảo tồn văn hóa.

Chƣơng 4: QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP GIỮ GÌN VÀ PHÁT HUY BẢN SẮC VĂN HÓA DÂN TỘC TÀY TRONG ĐIỀU KIỆN KINH TẾ THỊ TRƢỜNG Ở MỘT SỐ TỈNH ĐÔNG BẮC VIỆT NAM HIỆN NAY

Chương 4 đề xuất phương hướng hành động gồm 3 quan điểm chỉ đạo và 6 nhóm giải pháp:

  • Hệ thống 3 quan điểm chỉ đạo:
    1. Giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày phải đi đôi với đấu tranh khắc phục những yếu tố văn hóa lạc hậu.
    2. Đảm bảo thực hiện mối quan hệ biện chứng giữa phát triển kinh tế thị trường và giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa dân tộc Tày.
    3. Đảm bảo sự kết hợp hài hòa giữa truyền thống và hiện đại trong quá trình biến đổi văn hóa.
  • Hệ thống 6 nhóm giải pháp thực hiện:
    1. Tăng cường sự lãnh đạo, quản lý của cấp ủy Đảng và chính quyền địa phương trên lĩnh vực văn hóa: Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ văn hóa dân tộc, cụ thể hóa các chỉ thị, nghị quyết của Đảng vào điều kiện vùng Tày.
    2. Đẩy mạnh tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức: Giáo dục lòng tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ người Tày, đưa tiếng nói, chữ viết và dân ca Tày vào các trường học, trường phổ thông dân tộc nội trú.
    3. Đẩy mạnh phát triển kinh tế nâng cao đời sống vật chất: Phát triển nông - lâm nghiệp, kinh tế cửa khẩu, công nghiệp chế biến và du lịch sinh thái - văn hóa nhằm tạo nền tảng vật chất vững chắc cho hoạt động bảo tồn.
    4. Tích cực ngăn ngừa, khắc phục và chống mọi biểu hiện phi văn hóa: Xử lý hiện tượng thương mại hóa nghi lễ Then, trừ bỏ các hủ tục ma chay, cưới xin tốn kém và bài trừ mê tín dị đoan.
    5. Tăng cường xây dựng thiết chế văn hóa cơ sở: Hoàn thiện hệ thống nhà văn hóa thôn bản, điểm sinh hoạt cộng đồng tại vùng sâu, vùn