CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Cơ sở lý luận về giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo, giảm nghèo, giảm nghèo bền vững 1. Quan niệm về nghèo Quan niệm về nghèo Nghèo là một khái niệm có tính động, không bất biến mà phụ thuộc vào trình độ phát triển KT-XH của từng quốc gia, ở từng giai đoạn nhất định.
Cùng với thời gian, quá trình nhận thức về đói, nghèo của con người ngày càng đa dạng và phong phú, mở rộng và đầy đủ hơn. Hiện nay, chưa có sự thống nhất tuyệt đối quan niệm về nghèo bởi vì bản thân quan niệm này đã thay đổi rất nhanh chóng trong suốt nhiều thập kỷ qua. Ở Việt Nam, quan niệm nghèo cũng ngày càng được mở rộng. Nếu như những năm cuối thế kỷ XX nhu cầu hỗ trợ người nghèo chỉ giới hạn đến các nhu cầu tối thiểu như: ăn no, mặc ấm, thì ngày nay người nghèo còn có nhu cầu hỗ trợ về nhà ở, giáo dục, y tế, văn hóa.
tức là nhu cầu giảm nghèo và phát triển. Điều này có nghĩa là, các chính sách phát triển kinh tế cần hướng về người nghèo. Tăng trưởng kinh tế là cần thiết, nhưng lợi ích từ tăng trưởng không tự động chuyển đến cho người nghèo. Người nghèo cần trở thành mục tiêu trong hoạch định các chính sách phát triển.
Khi nghiên cứu đến vấn đề đói, nghèo đã có nhiều cách định nghĩa khác nhau của các học giả, các nhà khoa học. Chúng tôi chia sẽ và thống nhất với quan niệm về đói nghèo được đưa ra tại Hội nghị bàn về giảm nghèo đói do Ủy ban kinh tế và xã hội của Châu Á - Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 09/1993 tại Băng Cốc - Thái Lan là: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển KT-XH và phong tục tập quán của từng địa phương. 6 Ngoài khái niệm chung về đói, nghèo, trong quá trình nghiên cứu còn có một số khái niệm liên quan chỉ những khía cạnh của đói, nghèo như: Đói: Là khái niệm biểu đạt tình trạng con người ăn không đủ no, không đủ năng lượng tối thiểu cần thiết để duy trì sự sống hàng ngày, do đó không đủ sức để lao động và tái sản xuất sức lao động; là tình trạng của một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Hay nói một cách khác, đói là một nấc thang thấp nhất của nghèo [1].
Nghèo: Là khái niệm chỉ tình trạng mà thu nhập thực tế của người dân chỉ dành hầu như cho nhu cầu ăn, thậm chí không đủ chi cho nhu cầu ăn, phần tích lũy hầu như không có. Các nhu cầu tối thiểu ngoài ăn ra thì các mặt khác như ở, mặc, y tế, văn hóa, giáo dục, đi lại giao tiếp chỉ được đáp ứng một phần rất ít ỏi [1]. Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn các nhu cầu tối thiểu để duy trì cuộc sống [1]. Nghèo tương đối: Là tình trạng của một bộ phận dân cư có mức sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương [1].
Nghèo đói kinh niên: Là bộ phận dân cư nghèo đói nhiều năm liền cho đến thời điểm đang xét [1]. Nghèo đói cấp tính: Là bộ phận dân cư rơi vào tình trạng nghèo đói đột xuất vì nhiều nguyên nhân như phá sản và các rủi ro khác, tại thời điểm đang xét [1]. Vùng nghèo, vệt nghèo: Là nơi có tỷ lệ nghèo cao hơn nhiều và mức sống dân cư thấp hơn nhiều so với mức sống chung của cả nước, trong cùng một thời điểm. Quốc gia nghèo: Là một quốc gia có mức thu nhập trung bình rất thấp, nguồn lực (tài nguyên, vật chất, lao động, tài chính.) cực kỳ hạn hẹp, cơ sở hạ tầng, môi trường yếu kém, có vị trí không thuận lợi trong giao lưu với cộng đồng quốc tế [1].
Quan niệm về chuẩn nghèo Chuẩn nghèo hay còn gọi là đường nghèo, ngưỡng nghèo hoặc tiêu chí nghèo là công cụ để phân biệt người nghèo và người không nghèo. 7 Hầu hết chuẩn nghèo dựa vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được xem là nghèo khi mức sống của họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được, tức là thấp hơn chuẩn nghèo. Những người có mức thu nhập hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc vượt nghèo, thoát nghèo.
Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều kiện so sánh với các nước khác và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi cho người nghèo. - Chỉ số xác định đói nghèo của thế giới: Chuẩn nghèo có sự biến động theo thời gian và không gian. Ngân hàng thế giới (WB) đưa ra thước đo nghèo đói như sau: Các nước công nghiệp phát triển: 14USD/ngày/người; các nước Đông nam Á: 04USD/ngày/người; các nước thuộc Mỹ latinh và vùng Caribe: 02USD/ngày/người; các nước đang phát triển: 01USD/ngày/người; các nước nghèo, một số người được xem là đói nghèo: thu nhập dưới 14 USD/ngày/người [1].
Tuy vậy, các quốc gia đều đưa ra chuẩn đói nghèo riêng của mình và thường thấp hơn chuẩn đói, nghèo mà (WB) khuyến nghị. Chẳng hạn, nước Mỹ đưa ra chuẩn đói nghèo là thu nhập dưới 16.000 USD đối với một bộ phận gia đình (4 người) trong một năm, tương ứng 11,1 USD/ngày/người; Trung Quốc chuẩn nghèo là 960 NDT/ngày/người, tương đương 0,33USD/ngày/người [1]. - Chuẩn đói, nghèo ở Việt Nam: Tổng cục thống kê đã đưa ra mức nghèo áp dụng từ năm 1998 ở Việt Nam: Nghèo đói lương thực, thực phẩm là 107.234 đồng/người/tháng. Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ, Về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dựng cho giai đoạn 2016 - 2020 trên phạm vi toàn quốc quy định các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020: Các tiêu chí thu nhập, chuẩn nghèo: 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị; Chuẩn nghèo 8 1.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 3.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị [11].
Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh; thông tin; các chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản (10 chỉ số): tiếp cận các dịch vụ y tế, bảo hiểm y tế, trình độ giáo dục của người lớn, tình trạng đi học của trẻ em, chất lượng nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người, nguồn nước sinh hoạt, hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh, sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản tiếp cận dịch vụ thông tin [11]. Chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có mức sống trung bình áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020: Hộ nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 700.000 trở xuống; Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên [11]. Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trên. Hộ cận nghèo: Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản [11].
Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng đủ 900.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản. Hộ có mức sống trung bình: Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1.000đ đồng; Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 1. Quan niệm về giảm nghèo và giảm nghèo bền vững Quan niệm về giảm nghèo 9 Giảm nghèo là làm cho người nghèo nâng cao mức sống và thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống.
Đây là một quá trình chuyển một bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạnh khác, giảm nghèo là chuyển từ tình trạng có ít điều kiện lựa chọn sang tình trạng có nhiều điều kiện lựa chọn để cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người. Trên góc độ người nghèo: Giảm nghèo là quá trình tạo điều kiện giúp đỡ người nghèo có khả năng tiếp cận các nguồn lực của sự phát triển một cách nhanh nhất, trên cơ sở đó họ có nhiều khả năng lựa chọn tốt hơn giúp họ từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo đói. Trên góc độ vùng nghèo: “Giảm nghèo là quá trình thúc đẩy phát triển kinh tế, chuyển đổi trình độ sản xuất cũ, lạc hậu trong xã hội sang trình độ sản xuất mới cao hơn nhằm nâng cao thu nhập cho cộng đồng dân cư” [5].
Giảm nghèo là một trọng tâm của Chiến lược phát triển KT - XH nhằm cải thiện và từng bước nâng cao điều kiện sống của người nghèo, trước hết là ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số; tạo sự chuyển biến mạnh mẽ, toàn diện ở các vùng nghèo; thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa thành thị và nông thôn, giữa các vùng, các dân tộc và các nhóm dân cư. Quan niệm về giảm nghèo bền vững Là không thể giúp người nghèo bằng cách tặng nhà, tặng phương tiện sống. Bởi vì, đây là cách giảm nghèo, xóa nghèo nhanh nhưng chỉ tức thời, không bền vững. Muốn giảm nghèo, xóa nghèo bền vững thì nhà nước, các cơ quan chức năng cần phải cấp cho người nghèo một phương thức phát triển mới mà tự họ không thể tiếp cận và duy trì.
Bên cạch đó là sự hỗ trợ, ngăn ngừa, loại trừ các yếu tố gây rủi ro. Đặc biệt, sự hỗ trợ giảm nghèo này phải được xác lập trên nguyên tắc ưu tiên cho các vùng có khả năng, điều kiện thoát nghèo nhanh và có thể lan tỏa sang các vùng lân cận [5].