Chương 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 1. Cơ sở lý luận của đề tài 1. Hệ thống hóa các khái niệm 1. Khái niệm cộng đồng, du lịch cộng đồng, phát triển du lịch cộng đồng a, Cộng đồng Khái niệm “cộng đồng” được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau và cách thức định nghĩa về khái niệm này cũng không giống nhau Tiếp cận từ góc độ kinh tế học hiện đại, “cộng đồng” được xem như một loại “vốn xã hội” hai yếu tố đã tạo nên cộng đồng với tính cách là một nguồn vốn xã hội chính là tinh thần gắn kết và sự hình thành các mạng lưới xã hội, trong đó từng người cảm thấy yên tâm, an toàn khi họ ở trong cộng đồng, trong mạng lưới và do đó sẵn sàng đóng góp, hy sinh vì cộng đồng, bảo vệ lợi ích của cộng đồng trong môi trường cạnh tranh khốc liệt (Nguyễn Văn Lưu, 2015).
Một số nhà chính trị hiện đại lại quan tâm đến cộng đồng như một hình thức tổ chức trong quá trình chính trị, bao gồm từ các nhóm lợi ích đến các chính đảng, các dạng công xã cho đến nhà nước - dân tộc. Tại Việt Nam, quan niệm về cộng đồng đầu tiên được đề cập trong ngành giáo dục từ những năm 1950 ở các tỉnh phía Nam, sau đó lan rộng sang các lĩnh vực công tác xã hội khác. Từ những năm 1980 trở đi, quan điểm về cộng đồng được phát triển rộng rãi hơn thông qua các chương trình tài trợ của các tổ chức nước ngoài vào Việt Nam, theo đó sự tham gia của cộng đồng người dân là một nhân tố quyết định để các chương trình này thực hiện được và đạt hiệu quả. Trên cơ sở những nội hàm như trên, có thể đi đến một định nghĩa chung nhất như sau về “Cộng đồng là những người sống trong một khu vực được xác định về mặt địa lý, có những mối quan hệ văn hóa - xã hội với nhau và trách nhiệm với nơi họ sinh sống, có cùng sự đồng thuận về ý chí, tình cảm, 6 niềm tin và ý thức cộng đồng, nhờ đó các thành viên của cộng đồng cảm thấy có sự gắn kết họ với cộng đồng và với các thành viên khác của cộng đồng (Phương Nhung, 2018).
b, Du lịch cộng đồng Thuật ngữ “Du lịch cộng đồng” được đề cập từ những năm 1980 ở các nước thuộc khu vực châu Âu, châu Mỹ và châu Úc. Khách du lịch đi tham quan các làng bản, tìm hiểu về văn hóa, phong tục tập quán lễ hội của người dân địa phương, khám phá hệ sinh thái, cảnh quan thiên nhiên vẫn còn giữ được những nét tự nhiên, hoang dã. Theo Viện Miền núi cho rằng: “Du lịch cộng đồng là nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại điểm du lịch đón khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng.
Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa cộng đồng (chủ) và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía mang lại các lợi ích kinh tế, bảo tồn cho cộng đồng và môi trường địa phương” (Bùi Thị Lan Hương, 2010). “DLCĐ là hoạt động tương hỗ giữa các đối tác liên quan, nhằm mang lại lợi ích về kinh tế cho cộng đồng dân cư địa phương, bảo vệ được môi trường và mang đến cho du khách kinh nghiệm mới, góp phần thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của địa phương có dự án.” (Đào Ngọc Anh, 2012) “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên"” “DLCĐ có thể hiểu là phương thức phát triển bền vững mà ở đó cộng đồng địa phương có sự tham gia trực tiếp và chủ yếu trong các giai đoạn phát triển. Cộng đồng nhận được sự hợp tác, hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân trong 7 nước và quốc tế; của chính quyền địa phương cũng như chính phủ và nhận được phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch nhằm phát triển cộng đồng, bảo tồn khai thác tài nguyên môi trường du lịch bền vững, đáp ứng các nhu cầu du lịch phong phú, có chất lượng cao và hợp lý của du khách. c, Phát triển du lịch cộng đồng Quan điểm phát triển DLCĐ ở Việt Nam được đề cập lần đầu tiên tại Hội thảo chia sẻ bài học kinh nghiệm phát triển DLCĐ năm 2003, tại Hà Nội (trích trong Võ Quế, 2006), theo đó phát triển DLCĐ nhằm: - Đảm bảo phát triển tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa bền vững, cụ thể: + Phát triển DLCĐ cân bằng với các tiêu chuẩn kinh tế, văn hóa - xã hội và môi trường; + Khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên tự nhiên và tài nguyên văn hóa; + Bảo vệ môi trường sinh thái và cảnh quan; + Bảo tồn, giữ gìn và phát triển các bản sắc văn hóa truyền thống bản địa, tôn trọng văn hóa địa phương, thúc đẩy các ngành nghề truyền thống; + Cần có sự tham sự tham gia của người dân địa phương nhằm nâng cao ý thức bảo vệ tài nguyên, môi trường sinh thái, vệ sinh trong cộng đồng, bản sắc văn hóa; - Sở hữu thuộc về cộng đồng: + Cộng đồng là những người quản lý các tài nguyên du lịch, có phong cách, lối sống riêng cần được tôn trọng; + Cộng đồng có quyền sở hữu các nguồn tài nguyên và có quyền tham gia vào các hoạt động du lịch.
Thu nhập có được do cộng đồng quản lý: + Những khoản lợi nhuận thu được từ hoạt động kinh doanh du lịch được chia sẻ công bằng cho cộng đồng; 8 + Các khoản lợi nhuận và lợi ích kinh tế có được từ hoạt động kinh doanh du lịch được sử dụng để tái đầu tư cho địa phương ngoài phần hỗ trợ của Nhà nước. - Nâng cao nhận thức của cộng đồng: + Cộng đồng nâng cao được trình độ chuyên môn nghiệp vụ, bảo vệ môi trường và bảo tồn hệ sinh thái; + Nâng cao ý thức bảo vệ di sản văn hóa cộng đồng, chống các trào lưu du nhập, giao thoa văn hóa. - Tăng cường quyền lực cho cộng đồng: + Các hoạt động kinh doanh phát triển DLCĐ là do cộng đồng tổ chức, quản lý; + Cộng đồng dân cư được quyền tự chủ, thực hiện các dịch vụ và quản lý phát triển du lịch. -Tăng cường hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ và cơ quan quản lý Nhà nước: + Có sự hỗ trợ về kinh nghiệm và vốn đầu tư của các tổ chức phi chính phủ; + Được sự hỗ trợ về cơ sở vật chất và ưu tiên về các chính sách cho cộng đồng trong việc phát triển du lịch và phát triển cộng đồng.
Như vậy, quan niệm về phát triển DLCĐ xoay quanh các vấn đề về nâng cao nhận thức của người dân địa phương để họ có thể chủ động trong thảo luận, lập kế hoạch, đầu tư, thực hiện, quản lý và cung cấp các sản phẩm, dịch vụ của cộng đồng cho phát triển du lịch. Qua đó góp phần cải thiện kinh tế của người dân địa phương, duy trì, bảo tồn và phát huy những giá trị văn hóa, phong tục tập quán truyền thống bản địa, nâng cao ý thức trong giữ gìn bảo vệ môi trường sống trong cộng đồng. Tổng hợp và kế thừa quan điểm của các nghiên cứu trước đây, trong phạm vi nghiên cứu, tác giả tiếp cận quan điểm về phát triển DLCĐ là quá trình biến đổi về lượng và chất của các vấn đề kinh tế - xã hội theo hướng tiến bộ, dựa trên sáng kiến của người dân địa phương trong lĩnh vực du lịch, nâng cao nhận 9 thức của người dân và khách du lịch trong bảo vệ môi trường tự nhiên cũng như đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu của du khách, đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội ngày càng cao cho cộng đồng. Theo quan điểm này, việc đánh giá phát triển DLCĐ gồm: (1) tăng trưởng kinh tế cộng đồng; (2) bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa - xã hội truyền thống cốt lõi của cộng đồng; (3) nâng cao nhận thức của người dân địa phương và khách du lịch trong bảo vệ môi trường sinh thái và (4) đáp ứng nhu cầu của khách du lịch (Đỗ Anh Tài (2019).
Khái niệm về văn hóa và dân tộc thiểu số a. Văn hóa Có nhiều định nghĩa khác nhau về văn hóa. Theo UNESCO: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động và sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại”. Theo Hồ Chí Minh: “Vì lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng.
Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa”. Theo tổ chức giáo dục và khoa học của Liên Hiệp Quốc UNESCO: Văn hóa bao gồm tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc kia (Hoàng Nam, 2013). Tuy nhiên thực tế là rất nhiều định nghĩa về văn hóa được đưa ra nhưng đến hiện tại vẫn chưa có một định nghĩa nào là thống nhất và thỏa mãn được hàm ý sâu rộng của văn hóa. Có thể hiểu văn hóa có liên quan đến mọi mặt đời sống vật chất và tinh thần của con, bao gồm tất cả những sản phẩm của con người.
Văn hóa bao gồm cả hai khía cạnh: văn hóa phi vật chất của xã hội như ngôn ngữ, tư tưởng, giá trị và văn hóa vật chất như nhà cửa, quần áo, các phương tiện,… b. Dân tộc thiểu số 10 Dân tộc là quốc gia theo nghĩa rộng, gồm cộng đồng người dân cùng nhau sinh sống trên một lãnh thổ rộng lớn, được vận hành bởi sự quản lý của bộ máy nhà nước, trong một dân tộc thì có thể gồm nhiều tộc người, mỗi tộc người lại có những nét văn hóa và ngôn ngữ khác nhau tạo ra nét phong phú, độc đáo.