phần mở đầu, kết luận và phụ lục, nội dung của luận văn đƣợc bố cục thành ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận về du lịch văn hóa tâm linh và xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh Chƣơng 2: Thực trạng khai thác du lịch văn hóa tâm linh và xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Hải Dƣơng Chƣơng 3: Một số giải pháp xây dựng tuyến điểm du lịch văn hóa tâm linh ở tỉnh Hải Dƣơng 13 z NỘI DUNG Chƣơng 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH VÀ XÂY DỰNG TUYẾN ĐIỂM DU LỊCH VĂN HÓA TÂM LINH 1. Du lịch văn hoá và du lịch văn hoá tâm linh 1. Du lịch văn hoá Ngày nay du lịch văn hóa đang là một xu hƣớng của các nƣớc đang phát triển, đem lại lợi ích lớn lao cho cộng đồng xã hội.
Bên cạnh những loại hình du lịch truyền thống nhƣ du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm… gần đây du lịch văn hóa đƣợc xem là loại sản phẩm đặc thù của các nƣớc đang phát triển, thu hút nhiều du khách quốc tế. Du lịch văn hóa là loại hình du lịch chủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc, kể cả những phong tục tập quán, những tín ngƣỡng, tôn giáo… để tạo sức hút đối với khách du lịch bản địa và từ khắp nơi trên thế giới. Đối với khách du lịch thích nghiên cứu khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa thì du lịch văn hóa là cơ hội tốt để phát triển nhu cầu của họ. Loại hình du lịch văn hóa này rất phù hợp với bối cảnh của Việt Nam bởi Việt Nam là quốc gia giàu truyền thống văn hóa, có nét đặc sắc trong phong tục, tập quán, tín ngƣỡng, tôn giáo.
Du lịch văn hóa là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn du khách, có nhiều điều kiện, nguồn lực để phát triển, đƣợc quan tâm đầu tƣ phát triển ở nhiều nƣớc trong đó có Việt Nam. Theo luật du lịch Việt Nam năm 2007 có định nghĩa: “Du lịch văn hóa là hình thức du lịch dựa vào bản sắc văn hóa dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống”.TS Trần Đức Thanh trong cuốn Nhập môn khoa học du lịch: “Du lịch văn hóa là hoạt động diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn hay hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch văn hóa”. Nhƣ vậy tài nguyên du lịch văn hóa cũng chính là tài nguyên du lịch nhân văn, tài nguyên du lịch văn hóa là tất cả những gì do xã hội cộng đồng tạo ra, có sức hấp dẫn du khách cùng các thành tố khác đƣa vào phục vụ du lịch, đó là những giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể mang đậm bản sắc của địa phƣơng thông qua các đối tƣợng hoặc phƣơng thức biểu đạt, làm cho du khách cơ hội để chiêm ngƣỡng, thử nghiệm và cảm thụ các giá trị văn hóa của địa phƣơng nhƣ các công trình kiến trúc mỹ thuật, các di tích lịch sử, hoạt động tôn giáo, nghi thức xã hội đặc thù… Cộng đồng địa phƣơng chính là ngƣời sản sinh, bảo tồn và sở hữu các giá trị văn hóa của địa phƣơng vì vậy cũng nhƣ tổ chức phát triển du lịch khác, tổ chức phát 14 z triển du lịch văn hóa phải dựa vào cộng đồng địa phƣơng để bảo tồn, nuôi dƣỡng những giá trị văn hóa, tôn trọng những yếu tố thuộc về phong tục tập quán của cộng đồng địa phƣơng và chia sẻ lợi nhuận, việc làm từ hoạt động du lịch với cộng đồng cƣ dân địa phƣơng. Du lịch văn hóa mang những nét đặc trƣng rất riêng biệt và đặc sắc.
Điều đó đƣợc thể hiện trƣớc hết ở những đặc trƣng về tài nguyên, yếu tố quyết định đến việc xây dựng một chƣơng trình du lịch, tài nguyên của du lịch văn hóa phải là những đặc điểm văn hóa đặc trƣng của một vùng, một quốc gia mà đã là văn hóa đặc trƣng thì đƣơng nhiên mỗi nơi một khác. Du lịch là phƣơng tiện, là cơ hội để văn hóa khẳng định tính độc lập của nó. Nhƣ vậy chúng ta có thể thấy rằng du lịch và văn hóa là hai khía cạnh hoàn toàn độc lập, xong chúng ta có thể kết hợp du lịch và văn hóa để khai thác hoạt động du lịch văn hóa nhằm phục vụ cho sự phát triển của một vùng, một quốc gia. Du lịch văn hoá tâm linh * Tín ngưỡng: Hiện nay có khá nhiều các công trình nghiên cứu về vấn đề tín ngƣỡng ở Việt Nam dƣới nhiều góc độ khác nhau nhƣ văn hóa, xã hội, lịch sử… Dƣới mỗi góc nhìn của mỗi nhà nghiên cứu, họ lại đƣa ra những quan điểm, khái niệm khác nhau về vấn đề tín ngƣỡng.
Nhà nghiên cứu Nguyễn Đăng Duy cho rằng: “Tín ngưỡng là niềm tin và sự ngưỡng mộ của con người vào lực lượng siêu nhiên, thần bí, hoặc do con người tưởng tượng ra những vị thần linh đến mức họ cho rằng những lực lượng ấy có ảnh hưởng, chi phối đời sống, số phận của con người và gây thành một nếp sống xã hội theo niềm tin thiêng liêng ấy”. 351] Trong khi đó, nhà nghiên cứu văn hóa Ngô Đức Thịnh lại đƣa ra quan điểm khác cụ thể hơn, rõ ràng hơn: “Tín ngưỡng được hiểu là niềm tin của con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện hữu mà ta có thể sờ mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở đây niềm tin của tín ngưỡng là niềm tin vào “cái thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người, nó là nhân tố cơ bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, cũng như giống đời sống vật chất, đời sống xã hội tinh thần, tư tưởng, đời sống tình cảm.
16] 15 z Nhà nghiên cứu Đặng Nghiêm Vạn sau một thời gian nghiên cứu ông đã khẳng định: “Trong tín ngưỡng phải có yếu tố thiêng liêng liên quan đến một thế giới vô hình, đến những siêu linh, mà chính con người tưởng tượng và sáng tạo ra nó”. Ngoài ra, nhà tâm lí học nổi tiếng ngƣời Mỹ - M. Scott đƣa ra quan điểm của mình về vấn đề tín ngƣỡng nhƣ sau: “Chúng ta dường như có xu hướng định nghĩa hai chữ tín ngưỡng một cách quá hạn hẹp. Ta thường chỉ coi rằng tín ngưỡng phải gắn liền với một niềm tin nào đó vào Thượng đế, hoặc phải gắn liền với một số thực hành nghi lễ, hoặc phải là thành viên trong một cộng đồng phụng sự.
Theo tôi, tín ngưỡng chính là sự cảm nhận của con người về thế giới mà họ đang sống, về cuộc sống xung quanh họ và về vị trí của bản thân họ trong thế giới đó”. Trong đời sống thƣờng ngày hiện nay, khi nói đến tín ngƣỡng ngƣời ta thƣờng liên tƣởng đến những hiện tƣợng xã hội có tính chất linh thiêng, thần bí, thể hiện niềm tin về một thế giới vô hình, về cuộc sống sau khi chết, về sự tồn tại của linh hồn ngƣời chết và sự tác động của lực lƣợng này đối với cuộc sống hiện tại của con ngƣời. Và chính hiện tƣợng này đã gắn liền với các phong tục, tập quán, truyền thống của một cộng đồng ngƣời hay một dân tộc, phản ánh nếp sống, cung cách ứng xử của con ngƣời cũng nhƣ phản ánh lịch sử phát triển văn hoá của toàn cộng đồng dân tộc đó. Nhìn chung lại, chúng ta có thể hiểu: Tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý - xã hội biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô hình, về lực lượng siêu nhiên và năng lực chi phối của lực lượng này đối với cuộc sống của con người thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng; quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng nên nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng người đó.
* Tôn giáo: Tôn giáo là một hiện tƣợng hấp dẫn song cũng là vấn đề bí ẩn nhất trong đời sống con ngƣời và xã hội từ xƣa đến nay. Tôn giáo không chỉ có một sức sống kỳ lạ trong kỷ nguyên khoa học mà nó còn có sức ảnh hƣởng rất sâu rộng đến tất cả nhân loại. Tôn giáo là một thuật ngữ đƣợc du nhập từ nƣớc ngoài vào Việt Nam từ cuối thế kỷ thứ XIX vì vậy đây là một thuật ngữ không thuần Việt. Từ 16 z cổ đến kim, từ Đông sang Tây, xét về mặt nội dung, thuật ngữ Tôn giáo khó có thể hàm chứa đƣợc tất cả nội dung của nó.
Bản thân thuật ngữ “Tôn giáo” có nguồn gốc từ phƣơng Tây, “Tôn giáo” trong tiếng Anh có nghĩa là “religion” và từ “religion” lại xuất phát từ tiếng La Tinh “legere” có nghĩa là thu lƣợm thêm sức mạnh siêu nhiên. Đến thế kỷ thứ XVI thuật ngữ “religion” mới đƣợc dùng nhằm chỉ các hình thức tôn giáo khác nhau trên thế giới. Thuật ngữ “Tôn giáo” cũng có một quá trình biến đổi về mặt nội dung và khi khái niệm này trở thành phổ biến trên toàn thế giới thì lại gặp phải những khái niệm truyền thống không tƣơng ứng của những cƣ dân thuộc các nền văn minh khác nhau, chính vì vậy trên thực tế trong lịch sử đã xuất hiện và tồn tại rất nhiều quan niệm, định nghĩa khác nhau về tôn giáo của nhiều dân tộc và nhiều tác giả trên thế giới. Các nhà thần học cho rằng “Tôn giáo là mối liên hệ giữa thần thánh và con người”.
Một số nhà tâm lý học lại cho rằng “Tôn giáo là sự sáng tạo của mỗi cá nhân trong nỗi cô đơn của mình, tôn giáo là sự cô đơn, nếu anh chưa từng cô đơn thì anh chưa bao giờ có tôn giáo cả”.Mác lại đƣa ra một khái niệm mang khía cạnh bản chất xã hội: “Tôn giáo là tiếng thở dài của chúng sinh bị áp bức, là trái tim của thế giới không có trái tim, nó là tinh thần của trật tự không có tinh thần” hay “… tôn giáo là sự tự ý thức và sự tự cảm giác của con ngƣời khi chƣa tìm đƣợc bản thân mình một lần nữa. Con ngƣời chính là thế giới con người, là nhà nƣớc, là xã hội. Nhà nƣớc ấy, xã hội ấy sản sinh ra tôn giáo, tức thế giới quan lộn ngược.