Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Phát triển du lịch tại thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007 – 2020" được thực hiện bởi tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Mai (ngành Việt Nam học, Khoa Việt Nam học và Tiếng Việt, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội) dưới sự hướng dẫn của ThS. Đào Văn Hùng vào năm 2014. Bối cảnh nghiên cứu xuất phát từ thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế của địa phương khi huyện Yên Hưng chính thức được nâng cấp thành thị xã Quảng Yên vào ngày 25/11/2011 theo Nghị quyết số 100/NQ-CP của Chính phủ.
Trước thời điểm này, hoạt động sản xuất nông nghiệp của vùng chủ yếu mang quy mô hộ gia đình, tự cung tự cấp hoặc trao đổi nội địa; công nghiệp tuy có các cơ sở chế biến thủy hải sản, cao su và đóng tàu nhưng khó tạo ra bước phát triển nhảy vọt. Trong khi đó, địa phương sở hữu hệ thống di sản lịch sử gắn liền với ba chiến thắng Bạch Đằng, đặc biệt là chiến thắng năm 1288 thời nhà Trần, cùng nguồn tài nguyên tự nhiên vùng ven biển. Theo định hướng trong Tờ trình của Ủy ban nhân dân thị xã Quảng Yên trình Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh về việc phê chuẩn Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, địa phương xác định ưu tiên phát triển du lịch sinh thái và nghỉ dưỡng nhằm tạo động lực tăng trưởng mới.
Mục tiêu và ý nghĩa nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định thông qua ba nhiệm vụ cụ thể:
- Mô tả chi tiết các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội và nhân văn nhằm nhận diện hệ thống tiềm năng, thế mạnh đặc thù của thị xã Quảng Yên phục vụ phát triển du lịch.
- Cung cấp căn cứ khoa học và thực tiễn để cơ quan quản lý và các đơn vị liên quan đề ra phương án đa dạng hóa sản phẩm du lịch, thu hút du khách trong nước và quốc tế.
- Phân tích thực trạng khai thác du lịch trong giai đoạn chuyển tiếp, chỉ ra những mặt hạn chế cần khắc phục và đề xuất định hướng phát triển du lịch toàn diện đến năm 2020.
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các tiềm năng tự nhiên, xã hội, văn hóa – lịch sử cùng thực trạng hoạt động du lịch và các định hướng phát triển trên địa bàn. Phạm vi không gian giới hạn trong ranh giới hành chính thị xã Quảng Yên (tỉnh Quảng Ninh). Phạm vi thời gian nghiên cứu tập trung vào giai đoạn 2007 – 2020, gắn liền với tiến trình thực hiện "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Yên Hưng giai đoạn 2007 – 2020" và dấu mốc thành lập thị xã Quảng Yên năm 2011.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận vận dụng các căn cứ pháp lý và định hướng phát triển ngành gồm:
- Pháp lệnh Du lịch Việt Nam.
- Nghị quyết số 100/NQ-CP ngày 25/11/2011 của Chính phủ về việc thành lập thị xã Quảng Yên và các phường thuộc thị xã Quảng Yên.
- Quyết định số 548/QĐ-TTg ngày 10/5/2012 của Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt đối với Khu di tích lịch sử Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288.
- Các quyết định xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa của Bộ Văn hóa – Thông tin (nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch), bao gồm Quyết định 191-QĐ/BVHTT (năm 1988), Quyết định 310/QĐ-BVHTT (năm 1996), Quyết định 30/QĐ-BVHTT (năm 2000), Quyết định 27-QĐ/BVHTT (năm 2007).
- Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Yên Hưng giai đoạn 2007 – 2020 và định hướng Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
Về mặt học thuật, tác giả kế thừa nguồn dữ liệu từ các công trình địa chí cổ như Đại Nam nhất thống chí, các ấn phẩm nghiên cứu địa phương như bộ sách ba tập Văn hóa Yên Hưng của Lê Đồng Sơn, luận văn thạc sĩ Bảo tồn và phát huy giá trị di tích lịch sử, văn hóa Quảng Yên của Ngô Đình Dũng, và khóa luận tốt nghiệp của Vũ Thanh Hoa tại Đại học Dân lập Hải Phòng.
Phương pháp nghiên cứu thực tế bao gồm bốn phương pháp chính:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp tài liệu: Thu thập, phân loại, đối chiếu các chỉ số địa lý, số liệu thống kê kinh tế - xã hội, văn bản quy hoạch, tư liệu lịch sử và kết quả kiểm kê di sản Hán Nôm từ Phòng Văn hóa – Thông tin thị xã.
- Phương pháp điền dã thực địa: Trực tiếp khảo sát hiện trạng tại các điểm tài nguyên du lịch sinh thái (Thác Mơ, đảo Hoàng Tân) và hệ thống di tích (bãi cọc, đền, chùa, miếu, làng nghề đan ngư cụ Hưng Học).
- Phương pháp quan sát: Khảo sát hiện trạng kiến trúc cổ, cảnh quan môi trường, luồng khách du lịch và hoạt động tổ chức lễ hội.
- Phương pháp phỏng vấn trực tiếp: Phỏng vấn sâu các cán bộ quản lý chuyên môn như ông Ngô Đình Dũng (Phó Trưởng phòng Văn hóa thị xã Quảng Yên) và ông Đào Duy Tự (Trưởng ban quản lý cụm di tích đền Trần Hưng Đạo – miếu Vua Bà vào ngày 07/02/2013).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Khái quát về thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương này tập trung trình bày các điều kiện nền tảng về vị trí địa lý, tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa của thị xã Quảng Yên:
- Vị trí địa lý và giao thông: Quảng Yên có diện tích 314 km², nằm ở tọa độ từ 20°45'06" đến 21°02'09" vĩ độ Bắc và 106°45'30" đến 106°59' độ kinh Đông. Địa bàn tiếp giáp thành phố Hạ Long và vịnh Hạ Long ở phía đông; giáp huyện Thủy Nguyên và huyện Cát Hải (Hải Phòng) ở phía tây và nam; giáp thành phố Uông Bí và huyện Hoành Bồ ở phía bắc. Vùng đất giữ vị trí cửa ngõ giao thông thủy kết nối vùng châu thổ sông Hồng với vịnh Bắc Bộ qua ba con sông lớn: sông Bạch Đằng, sông Chanh và sông Rút; đồng thời giữ vai trò trung gian kết nối các tuyến giao thông trọng điểm Quốc lộ 18 và Quốc lộ 10 trong tam giác kinh tế - du lịch Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh.
- Đặc điểm tự nhiên: Địa hình thấp dần từ bắc xuống nam, phân thành hai khu vực rõ rệt là vùng Hà Bắc và vùng đảo Hà Nam. Cơ cấu sử dụng đất gồm: đất đồng bằng chiếm 44,6% diện tích (tập trung ở đảo Hà Nam và xã Sông Khoai); đất mặn và cát ven cửa sông chiếm 37,1% (khai thác nuôi trồng thủy sản); đất đồi núi chiếm 15,3% (trồng rừng và cây ăn quả). Diện tích rừng đạt khoảng 6.300 ha (chiếm 18,7% diện tích toàn thị xã), trong đó rừng tự nhiên có 2.800 ha (chủ yếu là rừng thứ sinh). Khí hậu nhiệt đới gió mùa có mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình năm 23 – 24°C, lượng mưa trung bình 1.500 – 1.600 mm, độ ẩm không khí trung bình 81%.
- Đặc điểm kinh tế - xã hội: Dân số thị xã tính đến ngày 31/12/2009 đạt 133.068 người, mật độ trung bình 407 người/km². Đất sản xuất nông nghiệp trên 15.000 ha; diện tích bãi triều trên 12.000 ha (đã khai thác hơn 8.000 ha phục vụ thủy sản). Trên địa bàn quy hoạch 6 khu và cụm công nghiệp: Khu Đông Mai, Khu đầm Nhà Mạc, Hà An, Cụm thị trấn Quảng Yên, Cụm Đồng Bái, Cụm Lạch Huyện.
- Đặc điểm văn hóa - di sản: Khu vực đảo Hoàng Tân ghi nhận dấu vết cư trú của người Việt cổ cách đây 3.000 – 3.500 năm thuộc văn hóa Hạ Long, Phùng Nguyên, Hoa Lộc. Theo số liệu kiểm kê của Phòng Văn hóa Thông tin năm 1996 và 1998, toàn thị xã có hơn 230 di tích lịch sử - văn hóa (gồm 39 di tích cấp quốc gia, 15 di tích cấp tỉnh và 01 cụm di tích quốc gia đặc biệt). Khối lượng văn hóa Hán Nôm còn lưu giữ gồm 150 bia đá, 30 chuông đồng, 03 bản thần tích, hàng trăm sắc phong và gần 1.000 câu đối đại tự. Địa phương còn lưu giữ tập tục thờ cúng độc đáo như việc suy tôn thần Minh Hà (chiến sĩ hy sinh trong Cách mạng tháng Tám) và duy trì làn điệu hát Đúm tiếp thu từ vùng Thủy Nguyên.
Chương 2: Tiềm năng phát triển du lịch ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh
Chương 2 là phần nội dung trọng tâm của khóa luận, phân tích chi tiết ba nhóm tài nguyên du lịch chính:
1. Tiềm năng phát triển du lịch sinh thái
- Khu du lịch sinh thái Thác Mơ: Tọa lạc tại phường Minh Thành, cách trung tâm thị xã 12 km. Thác hình thành từ dòng suối Mơ bắt nguồn từ dãy núi kéo dài từ Yên Tử đến Yên Lập, dài khoảng 2 km chảy qua rừng thông Yên Lập. Địa hình phân bậc tạo thành ba tầng thác: thác Hoa Sen, thác Đôi và thác Mơ. Điểm du lịch do Công ty TNHH MTV Ngọc Sơn quản lý khai thác với hệ thống hồ bơi Hoàn Mỹ, dịch vụ tắm suối, cắm trại, đi rừng và nghỉ dưỡng cuối tuần. Hoạt động du lịch mang tính mùa vụ rõ nét, tập trung vào mùa hè và đầu thu.
- Khu du lịch sinh thái đảo Hoàng Tân: Nằm tại xã Hoàng Tân, cách trung tâm thị xã 20 km về phía đông nam. Khu vực có hệ thống núi đá vôi thuộc cấu trúc karst Hạ Long, hang động cổ, bãi cát ven biển, rừng thông và rừng ngập mặn (sú, vẹt, đước). Nơi đây được quy hoạch thành phân khu chức năng thuộc dự án "Khu đô thị du lịch sinh thái - văn hóa Hạ Long phía Nam đường 18", bao gồm: Khu trung tâm thể dục thể thao – giải trí cao cấp (sân golf 18 lỗ tiêu chuẩn quốc tế trên cù lao giữa sông Hốt và sông Bình Hương) và Khu nghỉ dưỡng cao cấp quy mô khoảng 500 ha (biệt thự mặt biển, biệt thự trên núi, trung tâm dịch vụ tổng hợp, hướng đến thành lập thị trấn Hoàng Tân).
2. Tiềm năng phát triển du lịch văn hóa, lịch sử
Tài nguyên trọng tâm là Quần thể di tích Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 được Thủ tướng Chính phủ xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt năm 2012:
| Tên di tích / Điểm tham quan |
Vị trí hành chính |
Đặc điểm cấu trúc và hiện vật ghi nhận trong văn bản |
| Bãi cọc Yên Giang |
Phường Yên Giang |
Bãi cọc hình chữ nhật (120m x 30m), cọc làm từ gỗ lim, táu cắm theo hình chữ Z nghiêng ngược dòng; mật độ 0,9 – 1,1m; độ cao cọc còn lại từ 2,0 – 2,8m (dài nhất 3,2m). Xếp hạng di tích quốc gia năm 1988. |
| Bãi cọc đồng Vạn Muối |
Phường Nam Hòa |
Nằm ở cửa chi lưu sông Rút và sông Kênh. Khảo sát tháng 11/2005 xác định 800 – 1.000 cọc lim, táu; đường kính 10 – 30cm, dài 1,5 – 3,0m; cắm thẳng đứng hoặc nghiêng 45° ngược dòng; mật độ 0,6 – 1,1m. Xếp hạng quốc gia năm 2007. |
| Bãi cọc đồng Má Ngựa |
Phường Nam Hòa |
Phát lộ năm 2005, khai quật năm 2010. Cọc cắm thành hàng dày đặc dạng tường thành với nhiều loại gỗ: lim xẹt, hoàng linh, chò chỉ, chò nâu, chẹo tía, dẻ đỏ. Tìm thấy mái chèo, gốm sứ thời Trần và đồ men ngọc Trung Quốc thế kỷ 13. Khảo sát dưới nước tháng 11/2012 của TS. Lê Thị Liên phát hiện dấu tích gỗ nghi mảnh thuyền đắm ở độ sâu 1,6 – 2,4m. Xếp hạng quốc gia ngày 15/4/2013. |
| Đền Trần Hưng Đạo |
Phường Yên Giang |
Dời về doi đất cổ ngã ba sông năm 1934 (thời Bảo Đại). Kiến trúc chữ "Đinh", tiền đường 5 gian 2 chái, bái đường hơn 100m², hậu cung 40m². Lưu giữ bệ thờ đá nguyên khối, tượng đồng An Sinh Vương Trần Liễu và Vương Mẫu, 6 hoành phi, 14 câu đối Hán, 1 câu đối Nôm. |
| Miếu Vua Bà |
Phường Yên Giang |
Nằm cạnh đền Trần Hưng Đạo, tôn tạo quy mô hiện tại năm 2001. Bái đường 80m², hậu cung 30m²; tượng Vua Bà đúc bằng đồng hun đặt trên bệ đá (cao 1,19m, dài 2,31m, rộng 1,1m); lưu giữ bức đại tự "Quốc Mẫu Anh Linh". |
| Đình Yên Giang |
Phường Yên Giang |
Thờ thành hoàng Trần Hưng Đạo. Tiền đường 100m² (tôn tạo 1993), bái đường 61m² (trùng tu 1952), hậu cung 20m². Lưu giữ bia đá 12 vị Tiên công quai đê năm 1802, bia Hậu thần bi ký, 3 hộp sắc chứa 6 đạo sắc phong, 5 bức hoành phi, 10 câu đối Hán. |
| Làng cổ Hưng Học |
Phường Nam Hòa |
Làng nghề đan ngư cụ truyền thống (thuyền nan, lờ, đó). Tháng 10/2013 được Saigontourist Quảng Ninh đưa vào hai tuyến tour: "Làng quê Quảng Yên" và "Dấu ấn Bạch Đằng Giang". |
| Hệ thống nhà cổ thời Pháp |
Phường Quảng Yên |
Các công trình đầu thế kỷ XX: nhà 41 Hoàng Hoa Thám (trên 100 tuổi, cửa sắt uốn chữ B), dãy nhà 61-63-65 Hoàng Hoa Thám (nhà thương cũ), nhà 36 Ngô Quyền (bưu điện cũ, 6 vòm cuốn), nhà số 5 Trần Nhật Duật (hãng tàu thủy Hàng Du, phong cách Ba-rốc, có lò sưởi), trụ sở UBND thị xã (trang trí gạch gốm hoa chanh thuần Việt). |
| Đình Cốc |
Phường Phong Cốc |
Dựng năm Gia Long thứ 4 (1805), xếp hạng kiến trúc nghệ thuật năm 1988. Thờ Tứ vị thánh nương Nam hải. Kiến trúc chữ "Nhị", thức cột "thượng thu, hạ thách", cửa lim chạm rồng phượng và các mảng chạm khắc hoạt cảnh dân gian (đấu vật, chọi gà, bắt báo). Lưu giữ 1 hoành phi, 1 câu đối, 7 sắc phong, 1 bia cổ. |
3. Tiềm năng phát triển du lịch tâm linh
- Chùa làng: Tiêu biểu là chùa Yên Đông (Pháp Âm tự) xây dựng khoảng năm 1470 – 1500, trùng tu lớn năm 1587 thời Mạc, lưu giữ 110 hiện vật (trong đó có 8 pho tượng gỗ chế tác năm 1588 thời Mạc, 2 bia đá thời Mạc, 1 chuông đồng đúc năm 1832 triều Minh Mệnh). Chùa Giữa Đồng (Hưng Linh tự, dựng năm 1797) lưu giữ 50 pho tượng, chuông đồng cao 2,1m và 2 bia đá thời Lê (năm 1593 và 1733).
- Lễ hội truyền thống:
- Lễ hội Bạch Đằng: Diễn ra từ ngày mùng 6 đến mùng 9 tháng 3 âm lịch tại cụm đền Trần Hưng Đạo – miếu Vua Bà – đình Yên Giang. Phần lễ gồm tế Yết, rước thần (tổ chức 2 năm một lần vào năm chẵn hoặc dịp đại lễ), dâng hương, giã hội. Phần hội tổ chức diễn xướng các tích trò lịch sử ("Trần Hưng Đạo đọc Hịch tướng sĩ", "Lễ dâng lịch con nước triều", "Phát hỏa lập công", hát Đúm) và hội đua thuyền chải truyền thống mô phỏng chiến thuật quân thủy thời Trần.
- Lễ hội Tiên Công: Diễn ra từ ngày mùng 2 đến mùng 7 tháng giêng âm lịch tại xã Cẩm La (đảo Hà Nam) nhằm tưởng nhớ 17 vị Tiên Công khai hoang lập ấp năm 1434 tại xứ Bồng Lưu (khu vực hồ Mạch). Lễ hội gồm nghi thức Ra cỗ họ (mùng 2 – 4) và chính hội mùng 7 với nghi lễ rước các cụ Thượng (80, 90, 100 tuổi) bằng kiệu long cống hoặc võng lên miếu Tiên Công, nghi thức động thổ đắp đê tượng trưng và đấu vật biểu trưng của các cụ Thượng.
Chương 3: Phát triển du lịch ở thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2007 – 2020
Dựa trên đề mục mục lục và định hướng quy hoạch được viện dẫn trong văn bản, chương này tổng kết các nội dung định hướng phát triển du lịch địa phương:
- Triển khai "Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch huyện Yên Hưng giai đoạn 2007 – 2020" gắn liền với quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế - xã hội thị xã Quảng Yên đến năm 2020, tầm nhìn 2030.
- Định hướng chuyển dịch cơ cấu ngành, xác định du lịch sinh thái nghỉ dưỡng và du lịch văn hóa – lịch sử là ngành kinh tế mũi nhọn nhằm giảm tải sự phụ thuộc vào nông nghiệp quy mô nhỏ và công nghiệp sơ chế.
- Đẩy mạnh liên kết không gian du lịch trong tam giác Cát Bà – Yên Tử – Hạ Long, tận dụng vị trí tâm điểm và đầu mối giao thông thủy bộ để hình thành các tuyến tham quan liên vùng, đưa Quảng Yên trở thành điểm dừng chân chuyên biệt thay vì chỉ là trạm trung chuyển lưu lượng khách.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận tổng hợp hệ thống dữ liệu thực tế và đưa ra các đề xuất cụ thể:
- Số liệu khảo sát di sản và du lịch: Văn bản thống kê cụ thể 230 di tích lịch sử - văn hóa toàn thị xã; phân tích thông số kỹ thuật khảo cổ của 3 bãi cọc Bạch Đằng; định lượng chi tiết hệ thống hiện vật tại các điểm di tích trọng điểm (cụm di tích Bạch Đằng lưu giữ 12 bức hoành phi đại tự, 30 bộ câu đối chữ Hán, 1 bộ câu đối chữ Nôm; chùa Yên Đông bảo lưu 110 hiện vật với 8 tượng gỗ thời Mạc chế tác năm 1588).
- Giải pháp và kiến nghị của tác giả:
- Đẩy mạnh đầu tư đồng bộ hạ tầng kỹ thuật và cơ sở lưu trú đạt chuẩn tại hai khu vực trọng điểm là Thác Mơ và đảo Hoàng Tân.
- Khai thác chiều sâu giá trị lịch sử - khảo cổ học của trận địa cọc Bạch Đằng, kết hợp xây dựng bảo tàng thực địa trực quan thay vì chỉ duy trì điểm tham quan cọc gỗ ngâm nước tự nhiên đơn điệu.
- Chuẩn hóa các sản phẩm du lịch làng nghề tại Hưng Học, kiểm soát chất lượng quà lưu niệm ngư cụ thủ công mỹ nghệ tránh tình trạng sản xuất ồ ạt, kém tinh xảo.
- Phối hợp chặt chẽ giữa chính quyền địa phương và các doanh nghiệp lữ hành lớn (như mô hình liên kết với Saigontourist từ tháng 10/2013) để duy trì tính bền vững cho hai tuyến tour "Làng quê Quảng Yên" và "Dấu ấn Bạch Đằng Giang".
- Đóng góp học thuật: So với các nghiên cứu trước đây vốn chỉ khảo cứu riêng lẻ về văn hóa dân gian Yên Hưng (Lê Đồng Sơn) hoặc công tác bảo tồn di tích đơn thuần (Ngô Đình Dũng), công trình của Nguyễn Thị Quỳnh Mai đã cập nhật dữ liệu mới nhất về các di tích mới phát lộ (bãi cọc đồng Má Ngựa giai đoạn 2009 – 2012), phản ánh tác động trực tiếp của dấu mốc chuyển đổi hành chính từ huyện lên thị xã năm 2011 đến định hướng kinh tế du lịch giai đoạn 2007 – 2020.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận tự chỉ ra một số điểm giới hạn trong phạm vi nghiên cứu:
- Tính chất mùa vụ của du lịch Quảng Yên còn rất nặng nề: du lịch sinh thái Thác Mơ phụ thuộc lượng nước dòng chảy suối Mơ vào mùa hè - thu; du lịch văn hóa tâm linh (đền, miếu, chùa và lễ hội Bạch Đằng, Tiên Công) chỉ tập trung vào các tháng đầu năm (tháng giêng đến tháng 5 âm lịch), thời gian còn lại lượng khách giảm sút rõ rệt.
- Trận địa cọc Bạch Đằng tuy có giá trị lịch sử đặc biệt to lớn nhưng sản phẩm du lịch tại chỗ còn đơn điệu, khách tham quan chủ yếu là học sinh, sinh viên với thời gian lưu trú ngắn, giá trị khảo cổ và sử học hiện vượt trội hơn giá trị kinh doanh dịch vụ du lịch thuần túy.
- Hướng nghiên cứu mở rộng cần tập trung vào việc đánh giá hiệu quả kinh tế thực tế của các dự án quy hoạch sinh thái quy mô lớn (như dự án sân golf và khu đô thị nghỉ dưỡng đảo Hoàng Tân) và phương án bảo tồn hiện vật cọc gỗ, đồ gốm sứ ngập nước trước tác động của môi trường bồi lấp phù sa ven sông.
Giá trị tham khảo
Báo cáo khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho sinh viên, học viên chuyên ngành Việt Nam học, Địa phương học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, cũng như ngành Lịch sử và Văn hóa học:
- Tư liệu khảo tả di tích: Cung cấp miêu tả chi tiết về mặt bằng kiến trúc, kích thước, cấu kiện gỗ, niên đại trùng tu và số lượng câu đối, hoành phi, sắc phong của các công trình đền Trần Hưng Đạo, miếu Vua Bà, đình Yên Giang, đình Cốc, chùa Yên Đông.
- Tư liệu khảo cổ học quân sự: Bảng số liệu tổng hợp về kích thước cọc, mật độ, chủng loại gỗ và địa tầng phát lộ tại 3 bãi cọc Yên Giang, Vạn Muối, Má Ngựa.
- Tư liệu nghiên cứu đô thị cổ: Khảo sát thực địa hệ thống nhà cổ phong cách Pháp đầu thế kỷ XX tại phường trung tâm thị xã Quảng Yên (các đặc điểm vòm cuốn, lò sưởi, con sơn Ba-rốc, gạch gốm hoa chanh).
Câu hỏi thường gặp
1. Trận địa cọc Chiến thắng Bạch Đằng năm 1288 trên địa bàn thị xã Quảng Yên gồm những bãi cọc cụ thể nào?
Gồm ba bãi cọc: bãi cọc Yên Giang (phường Yên Giang, phát hiện khoảng 300 cọc lim, táu), bãi cọc đồng Vạn Muối (phường Nam Hòa, khoảng 800 – 1.000 cọc lim, táu) và bãi cọc đồng Má Ngựa (phường Nam Hòa, phát lộ năm 2005, khai quật năm 2010 với nhiều loại gỗ như lim xẹt, hoàng linh, chò chỉ, chò nâu, chẹo tía, dẻ đỏ).
2. Bãi cọc đồng Má Ngựa có những phát hiện khảo cổ học nào khác biệt so với hai bãi cọc tìm thấy trước đó?
Cọc tại đồng Má Ngựa được cắm thành dải dày đặc như tường thành; khu vực này phát hiện nhiều di vật gồm một mái chèo gỗ, đồ kim loại, đồ sành sứ Việt Nam và gốm sứ men ngọc Trung Quốc thế kỷ 13. Cuộc khảo sát dưới nước tháng 11/2012 của TS. Lê Thị Liên ở độ sâu 1,6 – 2,4m còn phát hiện các mảnh gỗ gia công nghi là xác thuyền chiến bị đắm.
3. Chùa Yên Đông hiện lưu giữ những hiện vật điêu khắc cổ tiêu biểu nào thuộc thời kỳ nhà Mạc?
Chùa bảo lưu 8 pho tượng gỗ tạc vào khoảng năm 1588 thời Mạc (gồm 3 tượng Tam Thế, 1 tượng A Di Đà, 1 tượng Thích Ca Thuyết Pháp, 2 tượng Quan Thế Âm và Đại Thế Chí, 1 tượng Quan Thế Âm chuẩn đề) cùng 2 tấm bia đá thời Mạc chạm khắc hình rồng mác lá vân xoắn đặc trưng.
4. Điểm đặc biệt trong kiến trúc của đình Cốc (phường Phong Cốc) được văn bản mô tả là gì?
Đình Cốc được dựng từ năm Gia Long thứ 4 (1805), có kiến trúc chữ "Nhị" với hệ thống vì kèo và cột làm theo thức "thượng thu, hạ thách" (phía dưới to, phía trên nhỏ dần). Cửa chính bằng gỗ lim chạm nổi hình rồng phượng và các cấu kiện chạm thủng hoạt cảnh sinh hoạt dân gian phong phú như người bắt báo, cưỡi phượng, xem chọi gà, đấu vật.
5. Lễ hội Tiên Công tại xã Cẩm La được tổ chức vào thời gian nào và gắn liền với truyền thuyết lịch sử gì?
Lễ hội diễn ra từ ngày mùng 2 đến mùng 7 tháng giêng âm lịch hàng năm, gắn liền với sự kiện năm 1434 thời vua Lê Thái Tông có 17 vị Tiên Công từ phường Kim Hoa (Thăng Long) xuôi sông Hồng về vùng bãi triều cửa sông Bạch Đằng, tìm thấy nguồn nước ngọt tại Hồ Mạch và quai đê lấn biển lập nên xứ Bồng Lưu (khu vực đảo Hà Nam ngày nay).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Quỳnh Mai đã hệ hóa tương đối toàn diện nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn phong phú của thị xã Quảng Yên trong giai đoạn bản lề chuyển đổi địa giới hành chính (2007 – 2020). Công trình cung cấp nguồn dữ liệu khảo tả thực địa chuẩn xác về hệ thống di tích chiến thắng Bạch Đằng, kiến trúc đình chùa thời Mạc - Nguyễn, nhà cổ thời Pháp và các lễ hội truyền thống đặc sắc. Đây là nguồn tài liệu học thuật có giá trị thực tiễn đối với công tác nghiên cứu địa phương học và hoạch định chính sách phát triển du lịch bền vững tại tỉnh Quảng Ninh.