Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Ngành du lịch Việt Nam giữ vị trí quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội. Bên cạnh tài nguyên du lịch tự nhiên, tài nguyên du lịch nhân văn là nền tảng cốt lõi hình thành nên các sản phẩm du lịch văn hóa đa dạng. Trong hệ thống di sản văn hóa, bảo tàng đóng vai trò là thiết chế lưu giữ các bằng chứng vật chất xác thực, là cầu nối giữa quá khứ và hiện tại nhằm phục vụ nhu cầu giáo dục truyền thống, nghiên cứu khoa học và thưởng thức văn hóa.

Thành phố Hải Phòng là đô thị trực thuộc Trung ương, trung tâm cảng biển và công nghiệp lâu đời, sở hữu bề dày lịch sử - văn hóa xứ Đông. Địa phương có ba bảo tàng quy mô lớn gồm Bảo tàng Hải Phòng, Bảo tàng Quân khu Ba và Bảo tàng Hải quân. Mặc dù tiềm năng tài nguyên di sản rất phong phú, hoạt động khai thác phục vụ du lịch tại các bảo tàng này nhìn chung vẫn chưa đạt hiệu quả tương xứng. Xuất phát từ thực tiễn trên, tác giả Đoàn Thị Tuyết Anh (sinh viên chuyên ngành Văn hóa Du lịch) đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp nhằm đánh giá thực trạng và xác định giải pháp phát triển hoạt động du lịch tại Bảo tàng Hải Phòng.

Mục đích nghiên cứu:

  • Cung cấp những cứ liệu khoa học về thực trạng khai thác các hoạt động của Bảo tàng Hải Phòng, trọng tâm là công tác phục vụ du lịch.

Nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động chuyên môn của Bảo tàng Hải Phòng và làm rõ vai trò của bảo tàng đối với phát triển du lịch địa phương.
  2. Đề xuất hệ thống giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả các mặt hoạt động của Bảo tàng Hải Phòng, kết hợp giữa nhiệm vụ giáo dục truyền thống, nghiên cứu lịch sử với định hướng khai thác du lịch.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ nội dung hoạt động nghiệp vụ và khai thác du lịch của Bảo tàng Hải Phòng (địa chỉ tại số 65 Điện Biên Phủ, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng).
  • Phạm vi không gian: Không gian trưng bày và kho cơ sở của Bảo tàng Hải Phòng; kết hợp khảo sát tư liệu bổ trợ tại Bảo tàng Hải quân và Bảo tàng Quân khu 3.
  • Phạm vi thời gian: Tập trung thu thập dữ liệu và khảo sát từ năm 2000 đến năm 2009.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận thiết lập nền tảng lý luận dựa trên hệ thống khái niệm chuẩn mực quốc tế và văn bản quy phạm pháp luật của Việt Nam về di sản văn hóa và bảo tàng học:

  • Định nghĩa bảo tàng: Trích dẫn Điều 2 (Phần 1) Quy chế của Hiệp hội Bảo tàng Quốc tế (ICOM), định nghĩa của Liên hiệp Hội Bảo tàng Anh (The Museums Association United Kingdom), Hiệp hội các Bảo tàng Mỹ (The American Association of Museums), Từ điển Bách khoa Việt Nam và tài liệu pháp luật trong cuốn "Tìm hiểu quy định pháp luật về Di sản và Văn hoá".
  • Hệ thống phân loại: Áp dụng tiêu chí phân loại theo bộ sưu tập (General museums, Archaeology museums, Art museums, History museums, Ethnography museums, Military museums), theo cơ quan chủ quản (Government, Municipal, University, Army, Independent/Private, Commercial company museums), theo phạm vi địa lý (quốc gia, vùng, địa phương), theo đối tượng khách tham quan và theo phương pháp trưng bày (truyền thống, ngoài trời, di tích lịch sử). Phân loại theo Luật Di sản văn hóa Việt Nam gồm bảo tàng quốc gia, bảo tàng chuyên ngành, bảo tàng cấp tỉnh và bảo tàng tư nhân.
  • Mối quan hệ bảo tàng - du lịch: Phân tích bảo tàng dưới góc độ thị trường vừa là yếu tố cung (tài nguyên du lịch), vừa là yếu tố cầu (động cơ tìm hiểu văn hóa). Tác giả trích dẫn khảo sát của Hiệp hội Du lịch Châu Á - Thái Bình Dương (PATA) chỉ ra 31% du khách chọn Việt Nam làm điểm đến trong vòng 2 năm kế tiếp (tăng 7% so với năm 2006), trong đó yếu tố văn hóa Việt Nam chiếm 41% động cơ thúc đẩy. Phân tích tác động hai chiều: tác động tích cực (quảng bá hình ảnh, giáo dục di sản, gia tăng nguồn thu, giải quyết việc làm) và tác động tiêu cực (tính mùa vụ gây quá tải, nguy cơ hư hại hiện vật, tình trạng buôn bán trái phép và "chảy máu cổ vật").

Phương pháp nghiên cứu:

  • Phương pháp khảo sát thực địa: Quan sát, ghi chép, phỏng vấn cán bộ chuyên môn và chụp ảnh tư liệu tại Bảo tàng Hải Phòng.
  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Xử lý các tài liệu văn bản, hồ sơ di tích, báo cáo chuyên ngành.
  • Phương pháp thống kê: Xử lý số liệu lưu trữ hiện vật, lượng khách tham quan và cơ cấu nhân sự.
  • Phương pháp điều tra xã hội học: Tiến hành phát phiếu trưng cầu ý kiến của 100 học sinh, sinh viên thuộc các trường Trung học cơ sở, Phổ thông trung học, Cao đẳng và Đại học trên địa bàn nhằm xác định nhu cầu và thị hiếu đối với hoạt động tham quan bảo tàng.

Nguồn dữ liệu:

  • Hồ sơ kiểm kê, số liệu lưu trữ nội bộ của Bảo tàng Hải Phòng, Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng, Cục Bảo tồn - Bảo tàng.
  • Báo cáo khai quật của Viện Khảo cổ học Việt Nam.
  • Dữ liệu địa lý, dân số và kinh tế từ các văn kiện và nghị quyết của Thành ủy, Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề về vai trò của bảo tàng với hoạt động du lịch hiện nay

Chương này khái quát toàn bộ hệ thống lý luận về bảo tàng học và mối quan hệ tương hỗ với ngành du lịch. Bảo tàng được khẳng định là một thiết chế văn hóa phi lợi nhuận, có chức năng nghiên cứu, sưu tầm, kiểm kê, bảo quản, trưng bày và tuyên truyền phát huy giá trị di sản. Đối với du lịch địa phương, bảo tàng tổng hợp giữ vai trò cốt lõi tạo nên bản sắc và sự độc đáo cho sản phẩm du lịch nhân văn, giúp cân bằng giữa phát triển công nghiệp hóa và bảo tồn giá trị truyền thống. Tác giả phân tích chi tiết tác động của việc hợp tác giữa bảo tàng và các doanh nghiệp lữ hành, đồng thời cảnh báo các áp lực về quản lý tải lượng khách, nguy cơ suy giảm chất lượng phục vụ và việc bảo vệ cổ vật trước các tác động tiêu cực của thương mại hóa du lịch.

Chương 2: Bảo tàng Hải Phòng với hoạt động du lịch

Chương 2 tập trung phản ánh lịch sử hình thành, cơ cấu quản lý, cơ sở vật chất, hoạt động chuyên môn và giá trị tài nguyên trưng bày tại Bảo tàng Hải Phòng:

  • Lịch sử hình thành: Bảo tàng Hải Phòng thành lập năm 1959 trên cơ sở tiếp nhận trụ sở Tòa nhà Ngân hàng Pháp – Hoa. Đây là bảo tàng cấp tỉnh/thành phố ra đời sớm nhất tại miền Bắc sau ngày giải phóng Hải Phòng (13/5/1955). Giai đoạn 1956–1959, bảo tàng sưu tầm được hơn 2.000 hiện vật; đến tháng 12/1958 Thành ủy ra quyết định chuyển địa điểm về số 65 Điện Biên Phủ và chính thức cắt băng khánh thành ngày 20/12/1959 do Phó Thủ tướng Lê Thanh Nghị chủ trì. Giai đoạn 1975–1979–1984, hệ thống trưng bày được chỉnh lý, đạt danh hiệu bảo tàng mẫu toàn quốc vào tháng 9/1979.
Bộ phận tổ chức Nhân sự (người) Trọng trách chuyên môn chính
Ban Giám đốc 03 01 Giám đốc, 02 Phó Giám đốc phụ trách chuyên môn
Phòng Trưng bày tuyên truyền 12 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng, 10 cán bộ nghiệp vụ
Phòng Nghiệp vụ di tích 11 01 Trưởng phòng, 10 cán bộ di tích
Phòng Hành chính tổng hợp 09 01 Trưởng phòng, 01 Phó phòng, 07 nhân viên
Phòng Kiểm kê bảo quản 05 01 Trưởng phòng, 04 cán bộ nghiệp vụ kho
Tổng cộng 40 Cán bộ tốt nghiệp ĐH Tổng hợp, ĐH Văn hóa, ĐH Sư phạm, ĐH Luật...
  • Cơ sở vật chất và kho tư liệu: Nằm tại trung tâm thành phố, cách Nhà hát Lớn 1 km, thuận tiện kết nối bến xe Tam Bạc, Lạc Long, Cầu Rào, ga Hải Phòng và tuyến xe buýt đi Đồ Sơn (22 km). Kho cơ sở lưu giữ hơn 18.000 hiện vật (gồm 773 cổ vật gốm sứ đá, 279 cổ vật kim loại, 40 cổ vật hữu cơ), hơn 18.000 ảnh ma-két, hơn 3.000 hồ sơ di tích, gần 1.000 đầu sách báo và 6 bảo vật quốc gia đăng ký.
  • Quy mô và nội dung trưng bày: Trưng bày thường trực gồm gần 3.000 hiện vật, tài liệu trên diện tích 1.300 m² chia làm 17 phòng tại 2 tầng:
Phân khu Phòng trưng bày Nội dung chủ đề và hiện vật tiêu biểu
Tầng 1 Phòng 1 & 2 Trưng bày chuyên đề (chuyên đề Cát Bi – Đường 5 – Điện Biên Phủ)
Phòng 3 Thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên (mẫu động thực vật, rùa da 215 kg)
Phòng 4 Khảo cổ học Cái Bèo (6.500 năm) và Tràng Kênh (3.500 năm, xưởng chế tác đá)
Phòng 5 Khảo cổ Bãi Bến (4.000 năm), Mộ thuyền Việt Khê (2.480 năm), Tháp Tường Long (1057)
Phòng 6 Văn hóa cổ Hải Phòng (gốm sứ thế kỷ 11–19, tượng gỗ, đôn đá nhà Mạc thế kỷ 16)
Phòng 7 Bác Hồ với nhân dân Hải Phòng (tư liệu 9 lần Bác về thăm, kỷ vật toa xe công vụ A17)
Phòng 8 & 9 Nhân dân Hải Phòng làm theo lời Bác (kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ)
Tầng 2 Phòng 10 Hải Phòng chống ngoại xâm từ thế kỷ I đến thế kỷ XIX (Cọc Bạch Đằng 1288)
Phòng 11 Thành lập Đảng bộ và phong trào chống Pháp 1930–1945 (tượng Nguyễn Đức Cảnh)
Phòng 12 Hải Phòng 30 năm kháng chiến chống ngoại xâm (1946–1975)
Phòng 13 Giao thông vận tải Hải Phòng từ năm 1955 đến nay (mô hình tàu 10-9, phà Bính)
Phòng 14 Văn hóa – Văn nghệ Hải Phòng từ năm 1955 đến nay (đoàn chèo, cải lương, kịch nói)
Phòng 15 Nông – ngư – diêm nghiệp Hải Phòng từ năm 1955 đến nay
Phòng 16 Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp Hải Phòng từ năm 1955 đến nay
Phòng 17 Phòng Hữu nghị (tặng phẩm quốc tế: Campuchia, Lào, Nga, Trung Quốc...)
  • Hiện trạng phục vụ du lịch: Giá vé vào cửa quy định 2.000 đồng/người. Thời gian mở cửa: 7h30 đến 10h30 (sáng thứ 3, thứ 5) và 19h30 đến 21h30 (tối thứ 4, chủ nhật). Lượng khách tham quan trung bình đạt hơn 34.000 lượt/năm (so với Bảo tàng Hải quân và Bảo tàng Quân khu 3 chỉ đạt 8.000 – 9.000 lượt/năm).

Chương 3: Đề xuất một vài giải pháp khai thác có hiệu quả bảo tàng Hải Phòng với hoạt động du lịch thành phố

Trên cơ sở phân tích thực trạng và tiềm năng vị trí của Hải Phòng (đô thị loại I, diện tích 1.519,6 km², dân số hơn 1.876.400 người, lực lượng lao động 760.000 người), chương 3 đưa ra các định hướng giải pháp cụ thể:

  • Hoàn thiện liên kết tour tuyến giữa Bảo tàng Hải Phòng với các điểm du lịch nội thành (Nhà hát Lớn, Quán Hoa, Đền Nghè, Tượng đài Lê Chân) và ngoại thành (Đồ Sơn, Cát Bà, Thủy Nguyên).
  • Điều chỉnh khung giờ mở cửa linh hoạt hơn để đáp ứng lịch trình của các đoàn khách du lịch lữ hành.
  • Đẩy mạnh công tác tuyên truyền quảng bá, xuất bản các ấn phẩm, bản đồ hướng dẫn tham quan, sản xuất đồ lưu niệm mô phỏng hiện vật gốc.
  • Đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ ngoại ngữ, kỹ năng thuyết minh cho đội ngũ cán bộ nghiệp vụ bảo tàng.

Kết quả và đóng góp

  • Hệ thống hóa toàn diện tư liệu hiện vật: Thống kê chi tiết khối lượng di sản lưu giữ gồm hơn 18.000 hiện vật, 6 bảo vật quốc gia, gần 3.000 hiện vật trưng bày thường trực tại 17 phòng chuyên đề.
  • Xác lập giá trị khảo cổ - lịch sử đặc trưng của Hải Phòng: Làm rõ tính liên tục lịch sử qua hệ thống di chỉ khảo cổ học: di chỉ Cái Bèo (văn hóa Tiền Hạ Long - Hạ Long, 6.500 - 4.000 năm), di chỉ xưởng chế tác đá Tràng Kênh (3.500 năm), di chỉ Bãi Bến (3.860 - 4.000 năm), Mộ thuyền Việt Khê (văn hóa Đông Sơn, 2.480 năm, kích thước 4,76 m x 0,77 m) và di tích Tháp Tường Long thời Lý (năm 1057).
  • Phân tích thực trạng hoạt động khai thác du lịch: Đưa ra số liệu định lượng về quy mô nhân sự (40 cán bộ nhân viên), cơ cấu tổ chức 4 phòng ban chuyên môn, mức giá vé (2.000 đồng/lượt) và lượng khách phục vụ (hơn 34.000 lượt khách/năm).
  • Đóng góp ứng dụng: Cung cấp cơ sở thực tiễn cho cơ quan quản lý văn hóa và các công ty du lịch trong việc xây dựng sản phẩm du lịch văn hóa - lịch sử đặc thù tại Hải Phòng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Phạm vi khảo sát xã hội học về nhu cầu tham quan mới dừng lại ở quy mô mẫu 100 học sinh, sinh viên trên địa bàn thành phố, chưa mở rộng điều tra phân khúc khách du lịch quốc tế và khách du lịch ngoài tỉnh. Việc phân tích chuyên sâu tập trung vào Bảo tàng Hải Phòng, chưa đi sâu khảo sát chi tiết hoạt động nội bộ của Bảo tàng Hải quân và Bảo tàng Quân khu Ba.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng nghiên cứu đánh giá mức độ hài lòng của khách du lịch nội địa và quốc tế; xây dựng mô hình liên kết chuỗi giá trị du lịch di sản giữa 3 bảo tàng lớn tại Hải Phòng với các di tích lịch sử chiến thắng Bạch Đằng, Đồ Sơn và Khu dự trữ sinh quyển thế giới Cát Bà.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng: Sinh viên, học viên, giảng viên ngành Du lịch, Văn hóa học, Bảo tàng học, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Lịch sử Việt Nam.
  • Phần nội dung giá trị: Tư liệu thống kê chi tiết về 17 phòng trưng bày thường trực, hệ thống hiện vật khảo cổ học Tiền sử - Sơ sử (Cái Bèo, Tràng Kênh, Việt Khê) và dữ liệu cơ cấu tổ chức của bảo tàng địa phương là nguồn tài liệu hữu ích cho việc xây dựng thuyết minh tuyến điểm và thiết kế tour du lịch văn hóa Hải Phòng.

Câu hỏi thường gặp

1. Bảo tàng Hải Phòng được thành lập vào thời gian nào và có trụ sở ban đầu ra sao?
Bảo tàng được chuẩn bị xây dựng từ ngày 13/5/1955 và chính thức thành lập năm 1959 trên cơ sở tiếp nhận Tòa nhà Ngân hàng Pháp – Hoa (số 65 Điện Biên Phủ). Trước đó, năm 1958, bảo tàng từng trưng bày tạm thời hơn 2.000 hiện vật tại số 12 phố Phan Bội Châu. Bảo tàng cắt băng khánh thành vào lúc 9 giờ sáng ngày 20/12/1959.

2. Tổng số hiện vật và diện tích trưng bày của Bảo tàng Hải Phòng là bao nhiêu?
Bảo tàng lưu giữ hơn 18.000 hiện vật trong kho cơ sở (gồm 773 hiện vật gốm sứ đá, 279 hiện vật kim loại, 40 hiện vật hữu cơ), hơn 18.000 ảnh ma-két, hơn 3.000 hồ sơ di tích và 6 bảo vật quốc gia. Diện tích trưng bày đạt 1.300 m² gồm 17 phòng chức năng (tầng 1 có 9 phòng, tầng 2 có 8 phòng) trưng bày gần 3.000 hiện vật, hình ảnh và tư liệu.

3. Cơ cấu bộ máy nhân sự của Bảo tàng Hải Phòng gồm bao nhiêu người?
Bảo tàng có 40 cán bộ, công chức và nhân viên, gồm Ban Giám đốc (03 người) và 4 phòng chức năng: Phòng Trưng bày tuyên truyền (12 người), Phòng Nghiệp vụ di tích (11 người), Phòng Hành chính tổng hợp (09 người), Phòng Kiểm kê bảo quản (05 người).

4. Những di chỉ khảo cổ học tiêu biểu nào được trưng bày tại Bảo tàng Hải Phòng?
Bảo tàng trưng bày hiện vật của các di chỉ quan trọng: Di chỉ Cái Bèo ở đảo Cát Bà (niên đại 6.475 - 6.500 năm), Di chỉ công xưởng đá Tràng Kênh ở Thủy Nguyên (niên đại 3.300 - 3.500 năm), Di chỉ Bãi Bến (niên đại khoảng 4.000 năm), Mộ thuyền Việt Khê (niên đại 2.480 - 2.500 năm) và di tích khảo cổ Tháp Tường Long (Đồ Sơn, xây dựng năm 1057).

5. Mức giá vé và thời gian mở cửa đón khách của Bảo tàng Hải Phòng được quy định như thế nào?
Giá vé tham quan là 2.000 đồng/người. Bảo tàng mở cửa định kỳ vào buổi sáng thứ 3 và thứ 5 (từ 7h30 đến 10h30), buổi tối thứ 4 và chủ nhật (từ 19h30 đến 21h30), cùng các ngày lễ kỷ niệm lớn của đất nước và thành phố. Các đoàn khách ngoài khung giờ trên có thể liên hệ đăng ký trước.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Thị Tuyết Anh đã phản ánh toàn diện lịch sử hình thành, cơ cấu tổ chức và tiềm năng giá trị di sản của Bảo tàng Hải Phòng trong bối cảnh phát triển du lịch đô thị. Nghiên cứu cung cấp hệ thống số liệu cụ thể về kho cơ sở 18.000 hiện vật cùng cấu trúc 17 phòng trưng bày thường trực gắn liền với các giai đoạn lịch sử tự nhiên và xã hội của vùng đất xứ Đông. Trên cơ sở phân tích thực trạng đón hơn 34.000 lượt khách mỗi năm, công trình đã đề xuất các nhóm giải pháp thiết thực nhằm hoàn thiện sản phẩm du lịch bảo tàng, gắn kết công tác giáo dục truyền thống với hoạt động kinh doanh lữ hành tại thành phố Hải Phòng.