CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHUỖI CUNG ỨNG Ở DOANH NGHIỆP 1. Khái niệm và cấu trúc chuỗi cung ứng 1. Khái niệm chuỗi cung ứng Cho đến nay, đã có rất nhiều công trình nghiên cứu về chuỗi cung ứng theo nhiều hướng tiếp cận khác nhau và có nhiều định nghĩa khác nhau về thuật ngữ "chuỗi cung ứng". Trong nền kinh tế thị trường, người ta quan niệm rằng: Cung ứng là một nghề chuyên môn năng động, là quá trình đảm bảo nguyên vật liệu, máy móc thiết bị, dịch vụ cho hoạt động của tổ chức hay doanh nghiệp được tiến hành liên tục nhịp nhàng và có hiệu quả.
Michael Hugos cho rằng, chuỗi cung ứng bao gồm toàn bộ các công ty tham gia vào quá trình thiết kế, sản xuất và vận chuyển hàng hóa tới thị trường. Hay có thể nói cách khác, chuỗi cung ứng bao gồm mọi công đoạn liên quan, trực tiếp hay gián tiếp đến việc đáp ứng nhu cầu khách hàng. Chuỗi cung ứng không chỉ gồm nhà sản xuất và nhà cung cấp mà còn nhà vận chuyển, kho, người bán lẻ và bản thân khách hàng. Hoặc có thể hiểu chuỗi cung ứng một cách đơn giản là sự kết nối các nhà cung cấp, khách hàng, nhà sản xuất và các tổ chức cung cấp dịch vụ liên quan đến quá trình sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở nghiên cứu một số khái niệm về chuỗi cung ứng, có thể kết luận rằng: chuỗi cung ứng bao gồm tất cả các doanh nghiệp tham gia một cách trực tiếp hay gián tiếp, trong việc đáp ứng nhu cầu của khách hàng, thể hiện sự dịch chuyển nguyên vật liệu xuyên suốt quá trình từ nhà cung cấp ban đầu đến khách hàng cuối cùng. Cấu trúc chuỗi cung ứng: - Chuỗi cung ứng giản đơn: trong hình thức đơn giản nhất, một chuỗi cung ứng bao gồm một công ty; các nhà cung cấp và khách hàng của công ty. 7 Đây là nhóm thành viên cơ bản tạo nên một chuỗi cung ứng. Mô hình chuỗi cung ứng đơn giản như Hình 1.
Nhà cung cấp Công ty Khách hàng HÌNH 1. MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG ĐƠN GIẢN - Chuỗi cung ứng mở rộng: bên cạnh các thành viên cơ bản của chuỗi cung ứng đơn giản, còn có thêm 3 thành viên khác. Trước hết là nhà cung cấp của nhà cung cấp (hay là nhà cung cấp căn bản, nhà cung cấp cuối cùng của chuỗi cung ứng mở rộng). Tiếp đó là khách hàng của khách hàng hay khách hàng cuối cùng tại điểm cuối của chuỗi cung ứng mở rộng.
Cuối cùng là toàn bộ các công ty cung cấp dịch vụ cho các công ty khác trong chuỗi cung ứng. Đây là những công ty cung cấp các dịch vụ: logistics, tài chính, tiếp thị, thiết kế sản phẩm, công nghệ thông tin. Đối với ngành dệt may, các doanh nghiệp thường sử dụng chuỗi cung ứng mở rộng. Mô hình như sau: Thiết kế sản phẩm Nghiên cứu thị trường NCC Nhà nguyên liệu Nhà máy phân phối Nhà bán lẻ Khách hàng lẻ NCC Logistics NCC tài chính Khách hàng doanh nghiệp HÌNH 1.2: MÔ HÌNH CHUỖI CUNG ỨNG MỞ RỘNG TRONG NGÀNH DỆT MAY 1.
Phân loại chuỗi cung ứng: Có rất nhiều tiêu chí để có thể phân loại chuỗi cung ứng nhưng có hai tiêu chí được coi là cơ bản và tiêu biểu nhất. Thứ nhất là dựa vào sự tính toán thời 8 điểm thực hiện hoạt động có liên quan đến nhu cầu của khách hàng cuối cùng. Thứ hai là dựa vào cấu trúc của chuỗi cung ứng. Phân loại dựa trên tiêu chí thứ nhất: Căn cứ vào sự tính toán thời điểm hiện hoạt động liên quan đến nhu cầu của khách hàng cuối cùng, chuỗi cung ứng được chia thành 3 loại là chuỗi cung ứng đẩy, chuỗi cung ứng kéo và chuỗỉ cung ứng đẩy- kéo.
Chuỗi cung ứng đẩy: Trong loại chuỗi cung ứng này, các quyết định liên quan đến sản xuất và phân phối đều dựa trên những dự báo trong dài hạn. Điển hình là các nhà sản xuất thường đơn thuần dựa vào các đơn đặt hàng của các nhà bán lẻ để dự báo nhu cầu của khách hàng. Do đó, chuỗi cung ứng đẩy phải mất một khoảng thời gian dài để có thể phản ứng trước sự thay đổi của môi trường. Sự biến động trong đơn hàng mà nhà sản xuất nhận được từ nhà bán lẻ và nhà kho thường lớn hơn so với biến động thực tế trong nhu cầu của khách hàng cuối cùng.
Điều này dẫn đến những dự báo sai lầm về nhu cầu thực tế kéo theo đó là kế hoạch sản xuất không chính xác, lượng hàng tồn kho sẽ tăng lên làm tăng chi phí và việc quản lý nguồn lực trở nên khó khăn. Chuỗi cung ứng kéo: Trong chuỗi cung ứng kéo, sản xuất và phân phối chịu sự chi phối của yếu tố cầu. Do đó, chúng gắn liền với nhu cầu thực tế của khách hàng, không phải dựa vào dự báo như chuỗi cung ứng đẩy. Vì thế, trong chuỗi cung ứng kéo thuần túy, doanh nghiệp sẽ duy trì mức tồn kho là 0 và chỉ sản xuất khi có đơn hàng.
Loại chuỗi cung ứng này thực sự hấp dẫn các nhà sản xuất khi mà họ có thể giữ tồn kho ở mốc 0, giảm chi phí tồn kho, tạo điều kiện tăng mức độ dịch vụ. Nhưng trên thực tế, việc xây dựng và vận hành chuỗi cung ứng kéo rất khó khăn do cần có thời gian đủ dài để thực hiện đơn hàng, không phải lúc nào cũng phản ứng kịp với thông tin về nhu cầu của khách hàng, không tận dụng được lợi thế kinh tế theo quy mô nên việc sản xuất từng đợt gồm nhiều mặt hàng và việc phân phối sử dụng phương tiện hiệu quả là khó đạt tới. Chuỗi cung ứng kéo-đẩy: Trong chuỗi cung ứng kéo-đẩy, một số giai đoạn xây dựng theo chiến lược đẩy, thường là những giai đoạn đầu của chuỗi cung ứng, những giai đoạn còn lại được phát triển theo chiến lược kéo. Trong chuỗi cung ứng kéo-đẩy, nhà sản xuất tiến hành sản xuất theo đơn đặt hàng (build to order).
Điều đó có nghĩa là các linh kiện tồn kho được quản lý dựa trên kết quả dự báo nhưng sản phẩm lắp ráp cuối cùng được thực hiện tương ứng với số lượng đặt hàng. Quá trình đẩy trong chuỗi cung ứng là phần thuộc về hoạt động của những nhà sản xuất linh kiện cung cấp cho việc lắp ráp, quá trình kéo bắt đầu từ hoạt động lắp ráp và dựa trên nhu cầu thực tế của khách hàng. Trên thực tế, nhu cầu đối với một loại hình linh kiện là tập hợp nhu cầu của nhiều sản phẩm hoàn chỉnh có sử dụng đến nó. Căn cứ vào nguyên tắc tổng hợp nhiều dự đoán sẽ chính xác hơn, sự không chắc chắn của cầu đối với linh kiện sẽ nhỏ hơn sự không chắc chắn của cầu đối với sản phẩm cuối cùng.
Điều này đảm bảo sự giảm số lượng tồn kho an toàn. Phân loại theo tiêu chí thứ hai: Căn cứ theo cấu trúc, chuỗi cung ứng được chia ra làm 4 loại là chuỗi cung ứng sản xuất để dự trữ (Build to Stock), chuỗi cung ứng định hình theo đơn hàng (Configure to order), chuỗi cung ứng sản xuất theo đơn hàng (Build to order) và chuỗi cung ứng thiết kế theo đơn hàng (Engineer to order). Chuỗi cung ứng sản xuất để dự trữ (BTS - Build to Stock): Sản phẩm được sản xuất với lượng nguyên phụ liệu tiêu chuẩn trước khi có đơn hàng của khách hàng. Chuỗi cung ứng BTS có thời gian đáp ứng yêu cầu khách hàng ngắn nhất.2 Chuỗi cung ứng định hình theo đơn hàng (CTO - Configure to Order): Sản xuất linh kiện trước theo quy trình đẩy nhưng thực hiện đơn hàng theo cách lắp ráp theo yêu cầu khách hàng.
Như vậy, lợi ích mang lại sẽ là nhiều sự lựa chọn cho khách hàng nhưng đổi lại họ sẽ phải hy sinh khả năng thực hiện 10 đơn hàng ngay lập tức. Tổng lượng tồn kho sẽ giảm đáng kể do mức độ phong phú của linh kiện thấp hơn so với sản phẩm hoàn chỉnh. Nhà sản xuất sẽ chỉ cần dự đoán nhu cầu và lập kế hoạch ở mức độ lính kiện, giảm thiểu tính không chắc chắn so với dự đoán nhu cầu sản phẩm. Chuỗi cung ứng sản xuất theo đơn hàng (BTO - Build to order): Trong chuỗi cung ứng BTO, yêu cầu của khách hàng được được quan tâm đến từ giai đoạn bắt đầu của quá trình sản xuất.
Sản phẩm trong chuỗi cung ứng này được cá nhân hóa đến mức cao nhất. BTO cam kết cung cấp linh kiện riêng biệt đến từng đơn hàng, đôi khi ngược dòng rất xa dọc theo chuỗi cung ứng. Khi những yêu cầu được thiết lập, chuỗi cung ứng mới xác định số lượng sản phẩm và thời gian giao hàng. Chuỗi cung ứng BTO mang lại lợi ích cho nhà sản xuất và nhà phân phổi nhờ vào lượng tồn kho thấp, giảm thiểu rủi ro.
Chuỗi cung ứng thiết kế theo đơn hàng (ETO- Engineer to order): Sản phẩm được sản xuất, lắp ráp với những linh kiện và thiết kế riêng biệt. Sản phẩm trong chuỗi cung ứng loại này mang tính cá biệt hóa cao và thường được dùng cho những nhu cầu cụ thể. Thời gian để thực hiện đơn hàng là tương đối lâu. Bên cạnh đó, hoạt động logistics và lập kế hoạch ngược dòng chuỗi cung ứng thường phức tạp do chúng chỉ gắn với một đơn hàng duy nhất.
Đối với ngành dệt may, nếu dựa trên nhu cầu của khách hàng cuối cùng, các doanh nghiệp thường lựa chọn chuỗi cung ứng đẩy. Nếu dựa trên cấu trúc, các doanh nghiệp thường lựa chọn chuỗi cung ứng sản xuất để dự trữ (BTS). Về quản lý chuỗi cung ứng ở doanh nghiệp 1. Khái niệm quản lý chuỗi cung ứng Dựa trên cách tiếp cận nghiên cứu về chuỗi cung ứng đã đề cập, để các hoạt động trong chuỗi diễn ra nhịp nhàng và hiệu quả, hoạt động quản lý chuỗi cung ứng là rất cần thiết trong bất kỳ công đoạn nào trong chuỗi.
Nghiên cứu này trích lược một số quan điểm của các nhà nghiên cứu. Thuật ngữ quản lý chuỗi cung ứng (SCM) vẫn còn khá mới mẻ đối với phần lớn các công ty mặc dù nó đang trở thành "mốt thời thượng" trong hoạt 11 động kinh doanh hiện đại. Theo Stoner và Robbins: "Quản lý là tiến trình bao gồm việc hoạch định, tổ chức quản trị con người và kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó". Quản lý chuỗi cung ứng là quản lý chuỗi hoạt động phức tạp trong đó nhà quản trị tổ chức cung ứng các yếu tố đầu vào nhằm đảm bảo cho quá trình hoạt động của tổ chức diễn ra liên tục, nhịp nhàng và hiệu quả.