chương 1. VĂN HÓA ỨNG XỬ VỚI NƯỚC HIỆN NAY CỦA NGƯỜI XƠ- ĐĂNG. Phân loại nước của người Xơ-đăng. Nước trong hoạt động kinh tế của người Xơ-đăng.
Trồng cây công nghiệp và các loại hoa màu. Trong hoạt động đi rừng và khai thác thủy sản. Nước trong sinh hoạt của người Xơ-đăng. Nước dùng để ăn uống và dùng trong nghi lễ.
Nước dùng để sinh hoạt. Nước trong tập quán, phong tục gia đình, dòng họ của người Xơ-đăng. Nước trong tập quán sinh nở. Nước trong tập quán cư trú và làm nhà.
Nước trong tập quán cư trú. Nước trong tập quán làm nhà. Nước trong phong tục cưới xin. Nước trong phong tục tang ma.
Nước trong nghi lễ cộng đồng của người Xơ-đăng. Lễ Tết Mang nước. Mục đích, ý nghĩa. Thời gian, địa điểm tổ chức.
Các lễ hội khác. Cách quản lý, bảo vệ nước của người Xơ-đăng. 106 Tiểu kết chương 2. XU HƯỚNG BIẾN ĐỔI TRONG ỨNG XỬ VỚI NƯỚC CỦA NGƯỜI XƠ-ĐĂNG.
Biến đổi trong hoạt động kinh tế. Biến đổi trong sinh hoạt hàng ngày. Biến đổi trong tập quán, phong tục gia đình, dòng họ. Biến đổi trong tập quán sinh nở.
Biến đổi trong tập quán cư trú và làm nhà. Biến đổi trong tập quán cư trú. Biến đổi trong tập quán làm nhà. Biến đổi trong phong tục cưới hỏi.
Biến đổi trong nghi lễ của cộng đồng. Biến đổi trong việc quản lý, bảo vệ nước. Nguyên nhân của sự biến đổi. Chính sách phát triển kinh tế.
Chính sách dân tộc. Sự tiếp xúc và tiếp biến văn hóa. Sự thay đổi vai trò của các Già làng. Sự đứt gãy trong tiếp nối và thực hành tri thức.
132 Tiểu kết chương 3. 137 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 145 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 1. 145 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 2.
154 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 3. 166 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 4. 175 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 5. 191 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 6.
199 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 7. 205 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 8. 211 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 9. 220 BIÊN BẢN GỠ BĂNG PHỎNG VẤN SỐ 10.
237 BIÊN BẢN QUAN SÁT THAM DỰ SỐ 1. 245 BIÊN BẢN QUAN SÁT THAM DỰ SỐ 2. 248 BIÊN BẢN QUAN SÁT THAM DỰ SỐ 3. Lý do chọn đề tài Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc.
Mỗi dân tộc có bản sắc văn hóa với những nét đặc thù đã góp phần tạo nên sự đa dạng trong tính thống nhất của văn hóa Việt Nam. Trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, người Xơ-đăng sống tập trung ở Tây Nguyên và có truyền thống văn hóa cổ truyền đặc sắc, đậm nét và khá riêng biệt từ phong tục tập quán, ăn ở, đi lại hay tập tục canh tác nương rẫy. Khi nhắc đến các cư dân vùng đất Tây Nguyên, hình ảnh các dân tộc thường gắn liền với canh tác nương rẫy. Nhưng người Xơ-đăng ở xã Ngọc Linh, huyện ĐăkGlêi, tỉnh KonTum lại có truyền thống canh tác lúa nước từ lâu đời, từ lúc họ bắt đầu cư trú ở đây.
Là một tộc người với truyền thống canh tác là lúa nước, người Xơ-đăng đã bổ sung, hoàn thiện cho bức tranh về văn hóa thích nghi với môi trường tại đây. Người Xơ-đăng cho rằng nhân tố đầu tiên tạo nên ruộng nước tốt chính là có nguồn nước đầy đủ. Trải qua nhiều năm sinh sống, gắn bó với các con suối lớn nhỏ trong địa bàn, người Xơ-đăng có rất nhiều kinh nghiệm ứng xử quý báu về nước. Họ đã tận dụng nước để phục vụ cho hoạt động sản xuất lúa nước: làm các hệ thống mương để đưa nước về ruộng, họ luôn đặt công việc dẫn nước về ruộng lên hàng đầu, có nước mới có ruộng, có ruộng mới có lúa và có lúa mới nuôi sống được dân làng.
Vì lối sống định canh chủ yếu bằng ruộng lúa nước, người dân xem lúa nước là cây lương thực chính trong cuộc sống và do vậy nước chiếm một vị trí đặc biệt quan trọng, nó bao trùm lên toàn bộ đời sống cũng như sinh hoạt văn hóa tinh thần của họ. Ngoài ra, nguồn nước đóng vai trò quan trọng trong việc chọn đất lập làng cũng như trong tín ngưỡng, phong tục, tập quán của người dân. Cho nên, người Xơ-đăng ở đây luôn coi trọng nước và có cách ứng xử với nước mang đậm bản sắc văn hóa dân tộc mình. Tuy nhiên, trong bối cảnh hiện nay, khi đời sống có nhiều thay đổi, những nét văn hóa mang đậm dấu ấn ứng xử với nước đã có ít nhiều biến 9 đổi.
Chính vì vậy, việc nghiên cứu về văn hóa ứng xử với nước của người Xơ-đăng là rất cần thiết, góp phần giữ gìn và phát huy các giá trị còn phù hợp với môi trường để con người thể hiện nhiều cách ứng xử khác nhau đối với nước gắn với đời sống của cộng đồng mình. Đó là những kinh nghiệm quý báu giúp người Xơ- đăng tồn tại, phát triển qua nhiều thời kỳ. Và đây cũng chính là lý do tôi chọn đề tài:“Văn hóa ứng xử với nước của người Xơ-đăng (Qua khảo sát tại xã Ngọc Linh, huyện Đăk Glêi, tỉnh Kon Tum)” làm chủ đề nghiên cứu. Mục đích nghiên cứu - Hệ thống và khái quát những nét đặc trưng của văn hóa ứng xử với nước của người Xơ-đăng trong môi trường văn hóa Tây Nguyên.
- Tìm hiểu những biến đổi trong văn hóa ứng xử với nước như một chỉ báo cho sự biến đổi về kinh tế - xã hội của người Xơ-đăng. Tổng quan tình hình nghiên cứu Nghiên cứu về chủ đề văn hóa ứng xử với nước, đã có nhiều công trình khác nhau tập trung vào các nhóm chủ đề sau: * Các công trình liên quan đến tự nhiên và ứng xử của con người với tự nhiên (trong đó nước là một thành tố): Công trình "Con người, môi trường và xã hội" của Nguyễn Xuân Kính (2003) đề cập nhiều lĩnh vực khác nhau liên quan đến mối quan hệ này: con người và môi trường, ứng xử của người Việt đối với nước, tiếp xúc văn hóa và tiếp biến văn hóa, văn hóa dân gian thể hiện bản sắc dân tộc. và trong mối quan hệ giữa con người và môi trường thì ngoài việc bị ảnh hưởng của sự tiếp xúc, tiếp biến văn hóa thì việc ứng xử của con người với môi trường cũng không kém phần quan trọng (trong đó có ứng xử với nước) và trong tác phẩm của mình, tác giả Nguyễn Xuân Kính đã có một bài viết về Ứng xử của người Việt đối với nước. Trong phần này, tác giả đã nêu rõ tầm quan trọng của nước "Đủ nước thì con người khỏe mạnh, cây cối tươi tốt, mùa màng bội thu.
Thiếu nước hoặc thừa nước thì con người đau yếu, cây cối, 10 mùa màng bị ảnh hưởng xấu, thậm chí lũ lụt có thể gây tai họa chết người, tàn phá mùa màng" (tr. Bên cạnh đó, tác giả trình bày về nhiều lễ hội ở nhiều nơi có nghi thức rước nước của người Việt với sự trân trọng và linh thiêng hóa về nước trong nghi lễ như: lễ hội đền Bà Tấm ở Hà Nội. Do quy mô của đám rước dài và lớn, cho nên phải mất bốn, năm tiếng mới rước được nước về tới đền. Hay trong Hội đình - đền Bổng Điền ở Thái Bình, đám rước đổ nước cũ trong lọ xuống sông và múc nước mới lên, đặt lên kiệu rước về đình thờ.
Trong lễ hội đền Cuông ở Nghệ An, “Nước được lấy từ giữa sông hoặc ở giếng nước về đền và đình làng. Sau khi đám rước đến giếng, người ta đặt kiệu long đình ở một nơi cao ráo, sạch sẽ. Hai thanh niên khỏe mạnh (đã được trai giới) khiêng chum từ kiệu xuống, đặt sát miệng giếng. Một cụ già được cắt cử trước, lấy gáo dừa có cán dài, đưa gáo ra giếng, múc từng gáo một đổ từ từ qua lớp vải điều căng trên miệng chum.
Sau đó, chum nước được khiêng lên kiệu rước về đền” (tr. Bên cạnh đó, Nguyễn Xuân Kính còn nói về những quy định hóa, thiết chế hóa của dân gian để bảo vệ nguồn nước sản xuất và nước sinh hoạt, như là các điều trong hương ước các làng như Điều 15 của hương ước xã Hoành Mĩ, tỉnh Thái Bình ghi rõ: “Làng cử một thủ lộ coi giữ đê đường cầu giếng của làng, nếu đâu hư hỏng phải tường hương hội để chữa đắp. Ai vì lợi riêng mà làm thiệt hại đến đê đường cầu giếng, thủ lộ tường hương hội để trừng phạt”(tr. Hay điều 23 của hương ước làng Duyên Lãng, huyện Duyên Hà, tỉnh Thái Bình quy định: “Trương tuần phải đôn đốc tuần phu canh phòng đường sá sông đê cùng với tuần phu hưởng lợi lúa sương” (tr.46) hay điều 2 của hương ước làng Đồng Mỗ, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa ghi như sau: “Những nơi ruộng thấp trũng, việc tích nước, tháo nước đã có lệ cũ quy định.
Các con đường lớn nhỏ theo địa mạch đã định ở các nơi, vào vụ cày cấy nếu ruộng trên úng nước, dưới cạn khô thì phải điều chỉnh lại cho đều. Người nào tự ý làm trái, phá bờ tháo nước không xin phép, bản trang bắt phạt: 3 mạch tiền cổ. Nếu chống lại sẽ bị bắt giam không tha” (tr. Ngoài ra, còn 11 rất nhiều điều của hương ước các làng, tỉnh khác nhau.
Đây có thể được coi là những quy định hóa, thiết chế hóa do con người đặt ra để bảo vệ nước và nguồn nước của mình. Cuối cùng, tác giả có nói đến "Sống hòa điệu với thiên nhiên, nhận thức đúng tự nhiên, giữ gìn môi trường xanh, sạch đẹp, tiết kiệm nước là cách ứng xử đúng đắn và khôn ngoan" (tr. Công trình của tác giả giúp cho người viết biết được từ xa xưa, đối với người Việt, nước đã có vai trò rất quan trọng và cũng từ xa xưa, người Việt đã có những kinh nghiệm cũng như cách thức ứng xử với nước, bảo vệ nguồn nước để duy trì cuộc sống của con người. Điều này đóng vai trò vô cùng quan trọng giúp người nghiên cứu nhận thức được tầm quan trọng của nguồn nước đối với người Xơ-đăng ở xã Ngọc Linh để họ có cách ứng xử cho phù hợp với nguồn nước.