Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Biến đổi khí hậu đang là thách thức nghiêm trọng mang tính toàn cầu, tác động trực tiếp và sâu sắc đến hệ thống tự nhiên, hoạt động sản xuất cũng như đời sống dân sinh. Tại Việt Nam, một trong năm quốc gia chịu tổn thương nặng nề nhất bởi biến đổi khí hậu và mực nước biển dâng, các hiện tượng thời tiết cực đoan như bão lũ, hạn hán, rét hại diễn ra với tần suất và cường độ ngày một gia tăng.
Cao Bằng là tỉnh miền núi vùng Đông Bắc, giữ vị trí đầu nguồn xung yếu về môi trường sinh thái. Do đặc thù địa hình đồi núi dốc, chia cắt mạnh, địa phương này rất nhạy cảm trước các hiểm họa lũ quét, sạt lở đất, khô hạn và suy giảm đa dạng sinh học. Tại huyện Trùng Khánh, các biểu hiện tiêu cực của thời tiết đã bộc lộ rõ rệt qua sự dịch chuyển của các đợt mưa lớn tập trung, sự gia tăng của các đợt rét đậm, rét hại và suy giảm tài nguyên nước. Bên cạnh đó, Trùng Khánh là huyện biên giới có tỷ lệ hộ nghèo cao (22% vào năm 2010), dân tộc thiểu số (Tày, Nùng) chiếm trên 95% dân số, trình độ dân trí và nhận thức về biến đổi khí hậu còn nhiều hạn chế, dẫn đến sự thiếu hụt các biện pháp chủ động thích ứng.
Trước yêu cầu thực tiễn đó, tác giả Đoàn Hồng Sắc đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp chuyên ngành Khoa học Môi trường nhằm thực hiện 3 mục tiêu cụ thể:
- Điều tra đánh giá hiện trạng môi trường nước và đa dạng sinh học; xác định xu thế biến đổi khí hậu trên địa bàn huyện Trùng Khánh.
- Đánh giá nhận thức của người dân địa phương về mức độ tác động của biến đổi khí hậu đối với môi trường nước và đa dạng sinh học.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm giảm thiểu và thích ứng với các ảnh hưởng tiêu cực của biến đổi khí hậu đối với tài nguyên nước và đa dạng sinh học tại địa phương.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tác động của biến đổi khí hậu tới môi trường nước, đa dạng sinh học và thực trạng nhận thức của người dân địa phương.
- Phạm vi không gian: Huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng; trong đó khảo sát thực địa và điều tra xã hội học tập trung tại 3 xã: Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê.
- Phạm vi thời gian: Đề tài được thực hiện trong thời gian thực tập từ ngày 05/05/2014 đến ngày 05/08/2014. Các chuỗi dữ liệu thứ cấp về khí tượng thủy văn được thu thập trong giai đoạn 1962 – 2013 và 1994 – 2013; số liệu kinh tế - xã hội được tổng hợp đến năm 2010.
Cơ sở pháp lý, lý luận và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý luận và văn bản pháp lý
Khóa luận vận dụng hệ thống khái niệm chuẩn hóa về khí hậu học và môi trường học, bao gồm: thời tiết, khí hậu, biến đổi khí hậu (theo định nghĩa của Công ước khung Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu - UNFCCC), sự nóng lên toàn cầu, hiệu ứng nhà kính, hiện tượng thời tiết cực đoan và thích ứng với biến đổi khí hậu.
Hệ thống cơ sở pháp lý được trích dẫn gồm:
- Công ước Khung của Liên Hợp Quốc về Biến đổi khí hậu (Việt Nam phê chuẩn ngày 16/11/1994) và Nghị định thư Kyoto (phê chuẩn ngày 25/09/2002).
- Luật Bảo vệ Môi trường năm 2005 (được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005).
- Nghị quyết số 41/2004/NQ-TW của Bộ Chính trị về bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
- Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP của Chính phủ về việc xây dựng Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Quyết định số 1819/QĐ-BTNMT ngày 16/11/2007 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc thực hiện các hoạt động liên quan đến thích ứng với biến đổi khí hậu.
- Quyết định số 1781/QĐ-TTg ngày 24/09/2010 của Thủ tướng Chính phủ về bổ sung kinh phí thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.
- Thông tư liên tịch số 07/2010/TTLT-BTNMT-BTC-BKHĐT hướng dẫn quản lý, sử dụng kinh phí ngân sách nhà nước thực hiện chương trình.
- Công văn số 3815/BTNMT-KTTVBĐKH ngày 13/10/2009 của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó với biến đổi khí hậu.
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu kết hợp đồng bộ giữa nghiên cứu tài liệu thứ cấp và điều tra thực nghiệm xã hội học:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tổng hợp các văn bản pháp luật, báo cáo kinh tế - xã hội huyện Trùng Khánh, báo cáo của Ban quản lý Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Vượn Cao Vít và các tài liệu đánh giá khí hậu của Ban Liên chính phủ về Biến đổi khí hậu (IPCC AR5, 2013), Bộ Tài nguyên và Môi trường.
- Phương pháp thống kê: Phân tích chuỗi số liệu nhiệt độ, lượng mưa giai đoạn 1994 – 2013 thu thập từ Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn tỉnh Cao Bằng và Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Cao Bằng; xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft Excel và soạn thảo văn bản trên Microsoft Word.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thực hiện phỏng vấn bảng hỏi cấu trúc trực tiếp tại 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê với tổng số mẫu ngẫu nhiên là 90 hộ gia đình. Nội dung phiếu tập trung vào: nhân khẩu học, mức độ nhận biết về biến đổi khí hậu, nhận thức về nguyên nhân, tác động tới nguồn nước, sinh vật và biện pháp thích ứng trong sản xuất.
- Phương pháp chuyên gia và kế thừa: Tham vấn ý kiến cán bộ chuyên môn thuộc Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng; kế thừa số liệu kiểm kê thực vật, động vật từ các đề tài nghiên cứu sinh thái đã công bố tại địa phương.
Nội dung chính theo từng chương
Phần 1: Mở đầu
Phần mở đầu xác lập tính cấp thiết của đề tài xuất phát từ tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu toàn cầu đến vùng núi Đông Bắc Việt Nam, đặc biệt là tính dễ bị tổn thương của huyện Trùng Khánh do địa hình núi đá vôi dốc đứng và điều kiện kinh tế nghèo nàn. Tác giả trình bày rõ 3 mục tiêu nghiên cứu, nêu bật ý nghĩa học thuật trong việc củng cố kỹ năng chuyên môn của sinh viên ngành Khoa học Môi trường và ý nghĩa thực tiễn trong việc cung cấp luận cứ cho công tác nâng cao năng lực ứng phó tại địa phương.
Phần 2: Tổng quan chung các vấn đề nghiên cứu
Chương này tổng kết hệ thống lý luận và thực tiễn về diễn biến khí hậu:
- Khái niệm và cơ sở pháp lý: Phân định rõ bản chất giữa thời tiết và khí hậu; hệ thống hóa các văn bản chỉ đạo của Đảng, Nhà nước và Bộ Tài nguyên và Môi trường về ứng phó biến đổi khí hậu.
- Xu thế biến đổi khí hậu toàn cầu và Việt Nam: Trích dẫn Báo cáo AR5 của IPCC ghi nhận nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng, mực nước biển tăng 0,19 m trong giai đoạn 1901 – 2010. Tại Việt Nam, nhiệt độ trung bình 50 năm (1958 – 2007) tăng từ 0,5°C đến 0,7°C; kịch bản đến năm 2100 nhiệt độ có thể tăng 3°C và mực nước biển có thể dâng 1 m.
- Xu thế khí hậu tại tỉnh Cao Bằng: So sánh giữa 2 thời kỳ 1962 – 1987 và 1988 – 2013 cho thấy nhiệt độ trung bình năm tăng từ 0,2°C đến 0,3°C (tăng mạnh vào tháng 1 từ 0,5°C đến 0,8°C). Lượng mưa mùa thu giảm ở tất cả các trạm từ 11% đến 22%, trong khi lượng mưa mùa đông lại tăng từ 10% đến 31%. Số ngày có sương muối giảm mạnh từ 70% đến 100%, số ngày mưa phùn giảm từ 80% đến 90%, làm gia tăng hiện tượng khô hạn thời kỳ đông xuân.
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Nội dung chương mô tả đối tượng nghiên cứu (môi trường nước, đa dạng sinh học, nhận thức cộng đồng); phạm vi không gian huyện Trùng Khánh và thời gian triển khai từ tháng 5/2014 đến tháng 8/2014. Tác giả chi tiết hóa thiết kế nghiên cứu thông qua 5 nhóm phương pháp: thu thập dữ liệu thứ cấp, thống kê khí tượng - thủy văn, điều tra xã hội học (90 phiếu khảo sát), phương pháp chuyên gia và kỹ thuật xử lý số liệu văn phòng.
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Đây là nội dung trọng tâm của khóa luận, gồm 4 nhóm kết quả chính:
1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội huyện Trùng Khánh
- Tự nhiên: Huyện có tọa độ từ 22°40’ đến 23°00’ vĩ độ Bắc và từ 106°20’ đến 106°50’ kinh độ Đông; độ cao trung bình 500 – 800 m. Khí hậu phân hóa thành mùa nóng (tháng 5 – 9, nhiệt độ cao nhất 36,3°C) và mùa lạnh (tháng 10 – 4 năm sau, nhiệt độ thấp tuyệt đối -3°C). Lượng mưa bình quân năm đạt 1.666,7 mm (82% tập trung mùa nóng), lượng bốc hơi 856,4 mm. Đất tự nhiên có 46.872 ha, đất lâm nghiệp chiếm 33.120,22 ha. Thủy văn gồm 2 sông chính: sông Quây Sơn (dài 65,5 km qua huyện, lưu lượng mùa mưa 870 m³/s, mùa khô 3,2 m³/s) và sông Bắc Vọng (dài 27,5 km, lưu lượng mùa mưa 350 m³/s, mùa khô 0,76 m³/s). Khoáng sản chính là mangan với 12 điểm mỏ (trữ lượng khoảng 1.331 nghìn tấn) và barit (điểm mỏ Pò Tấu trữ lượng 31 nghìn tấn).
- Kinh tế - xã hội: GDP bình quân đầu người tăng từ 250 USD (2005) lên 450 USD (2010). Cơ cấu kinh tế có sự chuyển dịch theo hướng tích cực nhưng còn chậm:
| Chỉ tiêu cơ cấu kinh tế |
Năm 2000 (%) |
Năm 2005 (%) |
Năm 2008 (%) |
Năm 2010 (%) |
| Nông, lâm nghiệp và thủy sản |
65,9 |
58,3 |
51,6 |
49,3 |
| Công nghiệp và xây dựng |
17,2 |
20,5 |
26,6 |
28,0 |
| Dịch vụ |
16,9 |
21,2 |
21,8 |
22,7 |
Dân số năm 2010 là 49.271 người, mật độ 105 người/km²; tỷ lệ lao động qua đào tạo chỉ đạt 17%, lao động nông nghiệp chiếm khoảng 90% lực lượng lao động trong độ tuổi.
2. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới môi trường nước
Phân tích chuỗi số liệu giai đoạn 1994 – 2013 cho thấy rõ rệt xu hướng biến đổi khí tượng:
- Về nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình năm tăng đều qua từng giai đoạn 5 năm: 1994 – 1998 (19,5°C), 1999 – 2003 (19,7°C), 2004 – 2008 (19,9°C), 2009 – 2013 (20,2°C). Tính theo chu kỳ 10 năm, nhiệt độ giai đoạn 2004 – 2013 (20,0°C) tăng 0,4°C so với giai đoạn 1994 – 2003 (19,6°C).
- Về lượng mưa: Lượng mưa trung bình giai đoạn 2004 – 2013 đạt 1.644,1 mm, giảm 64,5 mm so với giai đoạn 1994 – 2003 (1.708,6 mm). Lượng mưa phân bố lệch, gia tăng hạn hán vào mùa khô và gây ngập lụt cục bộ vào mùa mưa.
- Thiên tai cực đoan ghi nhận thực tế:
- Từ tháng 11/2005 đến tháng 4/2006: Huyện hầu như không có mưa, mực nước các sông giảm 30% so với trung bình nhiều năm; các xã Ngọc Côn, Thông Huề, Ngọc Chung và thị trấn Trùng Khánh thiếu nước nghiêm trọng.
- Đầu năm 2007: Nhiệt độ ban đêm xuống dưới 4°C, xuất hiện sương muối và khô hạn cục bộ.
- Cuối tháng 8/2008: Dông lốc kèm sét đánh làm chết 7 con trâu.
- Đầu tháng 7/2009: Mưa lũ ngập úng gần 400 ha lúa và hoa màu.
- Cuối tháng 7/2012: Hoàn lưu bão số 4 gây lượng mưa 146,0 mm làm ngập 36 nhà, sập 1 nhà, ngập úng 117,3 ha lúa và 20,8 ha ngô.
- Đầu tháng 8/2013: Mưa đá và lốc xoáy làm tốc mái 85 nhà dân tại xã Thông Huề và Trung Phúc, đổ 4 cột điện.
- Cuối tháng 12/2013: Nhiệt độ ghi nhận giảm sâu xuống 0°C do rét đậm, rét hại kéo dài.
3. Ảnh hưởng của biến đổi khí hậu tới đa dạng sinh học
- Hiện trạng: Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Vượn Cao Vít có diện tích gần 7.600 ha (vùng lõi 1.600 ha) nằm trên địa bàn 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê. Thảm thực vật gồm 6 ngành, 144 họ, 541 chi và 960 loài; trong đó có 9 loài quý hiếm gồm: Kim cang pê-tơ-lô (Rất nguy cấp - CR); Mã hồ, Nghiến, Giảo cổ lan (Nguy cấp - EN); Thông pà cò, Thiết sam giả lá ngắn, Thiết đinh, Trám đen, Lát hoa (Sẽ nguy cấp - VU). Hệ động vật ghi nhận 47 loài thú thuộc 9 bộ và 22 họ, 88 loài chim, 11 loài bò sát, 7 loài lưỡng cư và 35 loài cá. Quần thể Vượn Cao Vít (tháng 9/2012) có 24 đàn với 129 cá thể. Có 15 loài động vật ghi trong Sách đỏ Việt Nam (5 loài EN gồm Tê tê vàng, Gấu ngựa, Sơn dương...; 7 loài VU; 2 loài LR). Nguồn gen bản địa phong phú gồm: lúa Đoàn kết, ngô nếp địa phương, hạt dẻ, mắc mật; lợn đen, gà xương đen, vịt cỏ, vịt bầu, ngựa bạch...
- Tác động: Nhiệt độ tăng thúc đẩy mở rộng sinh thái cây trồng nhiệt đới, thu hẹp loài á nhiệt đới, gia tăng nguy cơ cháy rừng và suy thoái sinh thái đá vôi. Dịch bệnh bùng phát mạnh: tháng 7 – 8/2010 bùng phát dịch tai xanh ở lợn tại 16/20 xã làm 1.278 con mắc bệnh (565 con chết/tiêu hủy); năm 2013 dịch lở mồm long móng làm 659 con trâu bò mắc bệnh (10 con chết).
4. Đánh giá nhận thức của người dân qua kết quả điều tra
Khảo sát 90 hộ dân tại 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê phản ánh thực trạng nhận thức cộng đồng:
- Có 73 hộ (chiếm 81%) chưa từng nghe nói đến cụm từ "biến đổi khí hậu", chỉ có 17 hộ (chiếm 19%) đã từng nghe (chủ yếu qua phương tiện truyền hình, đài phát thanh).
- Về ý hiểu thực tế: Dù đa số chưa nghe thuật ngữ, người dân cảm nhận sự biến đổi qua quan sát đời sống thường ngày: 34 hộ (38%) hiểu là nhiệt độ tăng; 32 hộ (35%) cho là thiên tai bão lũ hạn hán bất thường; 15 hộ (17%) gắn với các đợt rét kéo dài; 9 hộ (10%) nhận thức được tất cả các biểu hiện trên.
- Về nguyên nhân làm nhiệt độ tăng: 26 hộ (29%) cho rằng do chuyển đổi mục đích sử dụng đất, sản xuất nông nghiệp và chăn nuôi; 22 hộ (24%) quy cho chặt phá rừng và cháy rừng; 14 hộ (16%) do giao thông; 14 hộ (15%) do đốt nhiên liệu hóa thạch; 7 hộ (8%) do khai thác chế biến khoáng sản; 7 hộ (8%) đồng ý với tất cả nguyên nhân.
Phần 5: Kết luận và kiến nghị
Tổng kết các kết quả cốt lõi về xu thế khí hậu, thực trạng suy giảm tài nguyên nước, đe dọa đa dạng sinh học và hạn chế nhận thức cộng đồng; từ đó kiến nghị các cơ quan chức năng hoàn thiện chính sách hỗ trợ và tăng cường truyền thông thích ứng.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
Khóa luận đã định lượng hóa và hệ thống hóa được các dữ liệu quan trọng:
- Xác lập bằng chứng thực nghiệm về biến đổi nhiệt độ và lượng mưa tại huyện Trùng Khánh qua 20 năm (1994 – 2013): nhiệt độ trung bình tăng 0,4°C/10 năm; tổng lượng mưa trung bình 10 năm gần nhất giảm 64,5 mm.
- Thống kê đầy đủ danh mục thành phần loài tại Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Trùng Khánh: 960 loài thực vật bậc cao (với 9 loài nguy cấp được phân hạng) và 47 loài thú; xác định chính xác số lượng quần thể Vượn Cao Vít đạt 129 cá thể (24 đàn).
- Đánh giá thực trạng nhận thức người dân: 81% chưa tiếp cận thông tin chính thức về biến đổi khí hậu; phản ánh khoảng trống lớn giữa chính sách cấp vĩ mô và sự am hiểu của đồng bào dân tộc thiểu số tại vùng biên giới.
Biện pháp và giải pháp tác giả đề xuất
- Đối với môi trường nước: Nạo vét, khơi thông đầu nguồn các công trình cấp nước tự chảy; sửa chữa kịp thời hệ thống đường ống rò rỉ; nâng cấp các hồ chứa (Bản Viết, Cao Thăng, Bản Đà) và 252 phai đập dâng; đẩy nhanh tiến độ cấp nước sạch nông thôn và lắp đặt các trạm quan trắc tài nguyên nước.
- Đối với bảo tồn đa dạng sinh học: Thực hiện mô hình quản lý rừng có sự tham gia của cộng đồng địa phương; phân định ranh giới bảo vệ nghiêm ngặt vùng lõi 1.600 ha của Khu bảo tồn Vượn Cao Vít; xây dựng chính sách hỗ trợ phục tráng các giống bản địa có giá trị kinh tế (hạt dẻ Trùng Khánh, lúa Đoàn kết, lợn đen, vịt cỏ); kiểm soát chặt chẽ việc chuyển đổi đất rừng sang khai thác khoáng sản mangan.
Đóng góp của đề tài
Nghiên cứu mang lại bộ cơ sở dữ liệu thực địa ban đầu về mối quan hệ giữa biến đổi khí hậu, tài nguyên nước và đa dạng sinh học tại một địa bàn miền núi đặc thù như huyện Trùng Khánh. Khóa luận cung cấp các dẫn liệu khoa học trực tiếp cho Chi cục Bảo vệ Môi trường tỉnh Cao Bằng và Ủy ban nhân dân huyện Trùng Khánh trong việc xây dựng kế hoạch hành động ứng phó biến đổi khí hậu cấp địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Theo tự nhận định của tác giả, thời gian thực tập tương đối ngắn (3 tháng, từ tháng 5 đến tháng 8/2014), năng lực chuyên môn và kinh nghiệm thực tế của người thực hiện còn hạn chế. Quy mô mẫu điều tra xã hội học dừng lại ở mức 90 hộ, tập trung tại 3 xã vùng dự án (Phong Nậm, Ngọc Côn, Ngọc Khê), chưa bao quát hết 20 xã và thị trấn trên toàn huyện Trùng Khánh.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng địa bàn điều tra khảo sát nhận thức cộng đồng ra toàn bộ các xã trong huyện; xây dựng các mô hình định lượng chi tiết hơn để đánh giá mức độ tổn thương của nguồn nước ngầm vùng karst và đánh giá tác động sinh thái khí hậu dài hạn lên sinh cảnh sống của loài Vượn Cao Vít.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận là tài liệu tham khảo hữu ích cho:
- Sinh viên và học viên các chuyên ngành Khoa học Môi trường, Quản lý Tài nguyên và Môi trường, Biến đổi Khí hậu và Sinh thái học: Cung cấp phương pháp tích hợp giữa phân tích chuỗi số liệu khí tượng thủy văn thứ cấp với công cụ điều tra xã hội học định lượng (xử lý bảng hỏi bằng Excel).
- Cán bộ quản lý môi trường tại địa phương (Chi cục Bảo vệ Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Ban Quản lý Khu bảo tồn): Tham khảo bộ dữ liệu kiểm kê về hệ thực vật (144 họ, 960 loài), hệ động vật, danh mục gen nông nghiệp đặc sản và chuỗi ghi nhận các hiện tượng thời tiết cực đoan (2005 – 2013) phục vụ quy hoạch quản lý tài nguyên.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ người dân huyện Trùng Khánh đã nghe nói đến biến đổi khí hậu là bao nhiêu và họ tiếp cận qua kênh nào?
Theo kết quả điều tra xã hội học 90 hộ dân tại 3 xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê, có 81% hộ dân (73 hộ) chưa từng nghe nói đến biến đổi khí hậu; chỉ 19% hộ dân (17 hộ) đã từng nghe nói và kênh tiếp nhận chủ yếu là qua đài phát thanh và truyền hình.
2. Nhiệt độ và lượng mưa tại huyện Trùng Khánh biến động cụ thể ra sao trong giai đoạn 1994 – 2013?
Nhiệt độ trung bình năm có xu hướng tăng đều qua các giai đoạn 5 năm, chu kỳ 10 năm sau (2004 – 2013, đạt 20,0°C) tăng 0,4°C so với 10 năm trước (1994 – 2003, đạt 19,6°C). Ngược lại, tổng lượng mưa trung bình năm của giai đoạn 2004 – 2013 (1.644,1 mm) đã suy giảm 64,5 mm so với giai đoạn 1994 – 2003 (1.708,6 mm).
3. Hiện trạng quần thể loài Vượn Cao Vít tại Khu bảo tồn loài - sinh cảnh Trùng Khánh được ghi nhận trong nghiên cứu như thế nào?
Theo số liệu điều tra tháng 9/2012 của Ban quản lý khu bảo tồn được khóa luận trích dẫn, khu vực bảo tồn ghi nhận có 24 đàn Vượn Cao Vít với tổng cộng 129 cá thể, phân bố trong khu vực sinh cảnh núi đá vôi thuộc địa bàn các xã Phong Nậm, Ngọc Côn và Ngọc Khê.
4. Người dân địa phương nhận định nguyên nhân nào là yếu tố hàng đầu làm cho nhiệt độ gia tăng?
Trong số các nguyên nhân được đưa ra điều tra, nguyên nhân do "chuyển đổi mục đích sử dụng đất, sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi" được nhiều hộ lựa chọn nhất với 26 hộ (chiếm 29%); đứng thứ hai là nguyên nhân "chặt phá rừng, cháy rừng" với 22 hộ (chiếm 24%).
5. Những trận thiên tai cực đoan điển hình nào đã được ghi nhận gây thiệt hại trên địa bàn huyện Trùng Khánh?
Khóa luận đã liệt kê nhiều đợt thời tiết dị thường: đợt hạn hán kéo dài 6 tháng từ tháng 11/2005 đến tháng 4/2006 làm mực nước sông giảm 30%; mưa lũ đầu tháng 7/2009 làm ngập gần 400 ha lúa màu; hoàn lưu bão số 4 cuối tháng 7/2012 làm ngập 117,3 ha lúa và 20,8 ha ngô; mưa đá lốc xoáy tháng 8/2013 làm tốc mái 85 nhà dân; và đợt rét đậm cuối tháng 12/2013 khi nhiệt độ giảm xuống mức 0°C.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Đoàn Hồng Sắc đã phản ánh bức tranh toàn diện về xu thế nóng lên và khô hạn hóa tại huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng giai đoạn 1994 – 2013, đồng thời chỉ ra mức độ tổn thương của nguồn nước sông Quây Sơn, sông Bắc Vọng và các hệ sinh thái quý hiếm tại Khu bảo tồn Vượn Cao Vít. Kết quả điều tra thực tế làm nổi bật khoảng cách nhận thức lớn khi có tới 81% người dân chưa từng tiếp cận thông tin về biến đổi khí hậu, dù đời sống sản xuất chịu ảnh hưởng trực tiếp từ thiên tai. Các nhóm giải pháp công trình và phi công trình được đề xuất có tính sát hợp với điều kiện kinh tế - xã hội miền núi, là cơ sở khoa học thiết thực cho công tác quản trị môi trường và quy hoạch thích ứng tại địa phương.