CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE BAO CHÍ VÀ HÌNH ANH NGƯỜI PHU NU DAN TỘC THIẾU SO TREN BAO CHÍ 1. Cac khai niém co ban 1. Bao chi - Khái niệm Truyén thông Truyền thông là hiện tượng xã hội đã có lịch sử lâu đời, xuất hiện cùng lúc với sự trao đổi giữa con người với con người. Từ khi manh nha hình thành đến nay, truyền thông luôn phát triển song hành cùng xã hội, tác động đến từng cá nhân trong xã hội du ít hay nhiều và là yếu tố thúc day xã hội.
Theo Từ điển tiếng Việt (Nxb Da Nang, 2008), truyền thông được hiểu theo góc độ: “truyền thông là truyền dữ liệu theo những quy tắc và cách thức nhất định như mở rộng mạng lưới truyền thông đến từng cơ sở” [53, tr. Nhà nghiên cứu Keith Davis (1967) cho rằng “Truyền thông là quá trình truyền thông tin và sự hiểu biết từ người này sang người khác”. Hai tác 19 gia William Newman va Charles Summer (1977) thì đưa ra khái niệm “Truyền thông là sự trao đồi các ý tưởng, sự việc, quan điểm hay cảm xúc của hai hay nhiều người”. Dén năm 2992, nhà nghiên cứu Rodriques có nhận định khá đầy đủ như sau: “7ruyền thông có thé được định nghĩa là một sự trao đổi và sự sao chép chính xác những suy nghĩ, cảm xúc, sự việc, niềm tin và ý tưởng giữa các cá nhân thông qua một hệ thông các biểu tượng chung nhằm tạo sự thay đổi trong hành vi’.
Như vậy, có thể hiểu truyền thông là quá trình trao đổi, chia sẻ thông tin, tư tưởng, tình cảm, suy nghĩ, kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lẫn nhau, làm thay đối nhận thức dé điều chỉnh hành vi phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân và xã hội. Hiệu quả của truyền thông là những vận động của xã hội được hình thành dưới tác động của truyền thông, là dòng chảy thông điệp hai chiều giữa người nhận và nguồn phát thông tin. Quá trình truyền thông gồm những yếu tố cơ bản như: Chủ thê truyền thông (nguồn phát), Thông điệp, Kênh truyền (Phương tiện truyền thông), Người nhận, Phản hồi (Hiệu qua) và Nhiễu. Quá trình này được thé hiện trong mô hình truyền thông hai bước của Shanon và Weaver năm 1948: Phương tiện truyền thông Phan ứng dap lại Trong đó: 20 Chủ thể truyền thông (nguồn phát): là yếu t6 thông tin tiềm năng và khởi xướng quá trình truyền thông, có thể là một người, một nhóm hay một tô chức.
Đây là yếu tố đầu tiên quyết định hiệu quả của quá trình truyền thông. Thông điệp: là nội dung thông tin được trao đồi từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận. Phương tiện truyền thông (kênh truyền thông): là các phương tiện, cách thức truyền tải thông điệp từ nguồn phát đến đối tượng tiếp nhận, có thé là các phương tiện có sẵn, tự nhiên hay nhân tạo. Người nhận (công chúng): là cá nhân hay nhóm người tiếp nhận thông điệp, là yếu tố cuối cùng trong quá trình truyền thông và cũng là khâu cuối cùng quyết định kết quả, hiệu quả của truyền thông.
Trong quá trình truyền thông, nguồn phát và người nhận có thể hoán đổi vị trí cho nhau, tương tác và đan xen nhau. Phản hồi (hiệu quả): mỗi thông điệp có thể được hiểu và chấp nhận cũng như gây ra những phản ứng ở mức độ khác nhau tùy từng đối tượng tiếp nhận đồng thời tùy thuộc vào người cung cấp thông điệp. Mã hóa : là quá trình biến tin tức thành thông điệp. Chủ thể truyền thông xác định đối tượng tiếp nhận và thiết kế thông điệp cho phù hợp với đối tượng theo mục tiêu nhất định.
Giải mã: người tiếp nhận thông điệp giải thích thông tin theo cách hiểu riêng; cùng một thông điệp có thé được hiểu theo nhiều cách khác nhau với các đối tượng tiếp nhận khác nhau. Nhiễu: là những yếu tố gây nên sự sai lệch vi dụ tiếng ồn, yếu tổ vật lý, kỹ thuật. dẫn đến việc thông điệp bị hiểu sai hoặc được truyền tải không đầy đủ. - Khái niệm Truyền thông đại chúng PGS.TS Nguyễn Văn Dững đã đưa ra khái niệm về truyền thông đại chúng như sau: 21 Truyện thông đại chúng có thể được hiểu là hệ thong (hay mạng lưới) các kênh truyền thông, hướng tác động vào đông đảo công chúng xã hội, vào các nhóm xã hội lớn (các giai câp, các tang lớp nhân dân các vùng miễn, cả nước, khu vực hay cộng đồng quốc tế), nhằm thuyết phục, lôi kéo và tập hop, giáo dục thuyết phục và tổ chức đông đảo nhân dân tham gia giải quyết các van dé kinh tế xã hội đã và đang đặt ra ở thời điểm hiện tai.139] Truyền thông đại chúng mang những đặc điểm lớn sau: tính công khai; thỏa mãn nhu cầu của đông đảo công chúng: có tính mục đích rõ ràng: tính phong phú đa dang và nhiều chiều; dé nhớ, dé hiểu, dé làm theo; có tính gián tiếp và sự tương tác cao giữa chủ thể và người nhận thông tin.
Truyền thông đại chúng là một mạng lưới phức tạp với rất nhiều loại hình: sách, điện ảnh, pano áp phích, tranh ảnh, tờ rơi, quảng cáo, báo chí, các dạng thức truyền thông trên Internet. Trong đó, báo chí đóng vai trò trung tâm củatruyền thông đại chúng. Trong nhiều trường hợp, người ta dùng từ “giới truyền thông” trước hết cho người làm báo và ngược lại “báo chí” đôi khi được hiểu là các phương tiện truyền thông đại chúng. - Khải niệm Bảo chí Theo Luật Báo chí năm 2016, Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, vẫn đề trong đời sống xã hội thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình báo In, báo nói, báo hình, báo điện tử.
[29] Cũng theo Luật Báo chí, các loại hình báo chí được định nghĩa khá rõ ràng: Báo in là loại hình báo chí sử dung chữ viết, tranh, ảnh, thực hiện bằng phương tiện in dé phát hành đến bạn đọc, gồm báo in, tạp chí in. Báo nói là loại hình báo chí sử dụng tiếng nói, âm thanh, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. 22 Báo hình là loại hình báo chí sử dụng hình ảnh là chủ yếu, kết hợp tiếng nói, âm thanh, chữ viết, được truyền dẫn, phát sóng trên các hạ tầng kỹ thuật ứng dụng công nghệ khác nhau. Báo điện tử là loại hình báo chí sử dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dẫn trên môi trường mạng, gồm báo điện tử và tạp chí điện tử.
Hình ảnh “Hình ảnh” là một cách gọi mang nhiều hàm nghĩa, tùy theo phạm vi và mục đích sử dụng mà hai chữ “hình ảnh” được định nghĩa khác nhau. Trong triết học, hình anh là kết quả của sự phản ánh khách thé, đối tượng vào ý thức của con người. Trong nghệ thuật Nhiếp ảnh và Điện ảnh, hình anh được hiéu là những gi chúng ta thấy được thông qua thị giác rồi sau đó chuyên về não giúp ta cảm nhận nhận hình ảnh đó một cách chân thực nhất từ đó đưa ra những phản xạ,cảm nhận về hình ảnh mà ta vừa thu nhận. Trong mảng marketing, hình ảnh thường gan liền với các thương hiệu cụ thé, trở thành cụm từ “hình ảnh thương hiệu” - Là tất cả những gì mà khách hàng rút ra được từ một thương hiệu; hình ảnh (Image) gợi lên cảm xúc và nhận thức của công chúng bằng ngôn ngữ, thông điệp nhất quán về Thương hiệu, thông qua chúng, người tiêu dùng dé dàng liên tưởng, nhận biết Thương hiệu.
Theo Từ điển tiếng Việt (Viện Ngôn ngữ học, Nxb Từ điển Bách khoa, 2011), hình ảnh là: hình người, vật, cảnh tượng được thu lại từ khí cụ quang học nhự máy ảnh hoặc dé lại những an tượng nhất định và tái hiện được trong trí óc, là kha năng gợi tả song động trong cách diễn đạt.571] Từ điển từ và ngữ Việt Nam (Nxb TP Hồ Chí Minh, 2000) định nghĩa: “hình: dáng bên ngoài; ảnh: hình thu được”, “hình ảnh là đường nét, màu sắc, dung mạo của người hay vật được phản chiếu vào trong tri óc” [54, tr.832] Như vậy, hiểu theo nghĩa rộng, hình ảnh có thé bao gồm các ảnh chụp, các thước phim, các bài viết. — tức là được biểu đạt bằng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ, hình thức trực quan, dé tao ra những an tượng, tac động đến việc 23 hình thành quan điểm, niềm tin của công chúng đối với những sự vật, hiện tượng, con người được chuyên tải qua các kênh truyền. Phụ nữ dân tộc thiểu số - Khai niệm dân tộc Theo bản Hướng dan chỉ tiết chuyên đề “Van dé dân tộc và chính sách dan tộc” được ban hành kèm theo Hướng dan số 44-HD/BTGTW ngày 01 tháng 9 năm 2017 của Ban Tuyên giáo Trung ương, khái niệm dân tộc cần được hiểu theo hai bình diện, dân tộc là cộng đồng tộc người và dân tộc hiểu theo nghĩa rộng là cư dân của một quốc gia [26]. Thực chất hai van đề không giống nhau, nhưng có liên quan mật thiết, hữu cơ với nhau.
Khi nói đến dân tộc Việt Nam không thể không nói đến 54 dân tộc (tộc người) đang sinh sống ở nước ta hoặc ngược lại, khi nói đến các dân tộc ở Việt Nam không thể không nói đến cộng đồng dân tộc Việt Nam. Trong cuốn Truyén thông phát triển — Truyén thông dân tộc: Những van dé lý luận và thực tién (2018), TS. Đặng Thi Thu Huong cũng nhất trí với quan điểm trên khi chỉ ra: khái niệm “dan téc” được sử dụng trong các văn bản chính trị, pháp luật và trên các phương tiện truyền thông đại chúng theo 2 nghĩa khác nhau: “dân tộc” với nghĩa là “tộc người” và “dân tộc” với nghĩa là “quốc gia dân tộc”. Theo đó, “dân tộc” khi được hiểu là “tộc người” là khái niệm chỉ cộng đồng người có đặc điểm chung về ngôn ngữ, văn hóa, và ý thức cộng đồng, có tính bền vững qua sự phát triển lâu dài của lịch sử.
“Dân tộc” khi được hiểu theo nghĩa “quốc gia dân tộc” là thé hiện tính khái quát cao hơn: chỉ cộng đồng chính tri - xã hội được hợp thành bởi những tộc người khác nhau trên lãnh thô của một quốc gia nhất định.31] Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi sử dụng khái niệm “dân tộc” theo nghĩa cộng đồng tộc người. Theo cách hiểu này, chúng ta gọi đơn giản các tộc người theo tên định danh như dân tộc Tày, dân tộc Thái, dân tộc Mường.