CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE THONG TIN DO HỌA TRÊN BÁO ĐIỆN TỬ 1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 1. Quan niệm về thông tin đồ họa Thuật ngữ /hông tin được bắt nguồn từ tiếng La-tinh infometio, gốc của từ tiếng Anh information. Lần đầu tiên thông tin được con người chú ý nghiên cứu về mặt ý nghĩa xã hội của nó và được đề cập đến trong lý thuyết báo chí vào những năm 20 - 30 của thế kỷ XX.
Theo cách hiểu kinh điển thì thông tin chính là những cái mới khác với những điều đã biết. Kế thừa tư tưởng trên, thuật ngữ théng tin di vào khoa học hiện đại, trước hết là lý thuyết thông tin của Shannon (nhà toán học, vật lý) đưa ra năm 1948. Có rất nhiều định nghĩa về thông tin. Ngoài cách tiếp cận theo góc độ trên, một số cách tiếp cận đã có tầm khái quát hon, chang hạn "hông tin là dữ liệu mà có thể nhận thấy, hiểu được và sắp xếp lại với nhau hình thành kiến thức", hay "thông tin là sự truyền đưa độ đa dạng" (R.Esbi) hoặc "thông tin là nội dụng thế giới bên ngoài được thể hiện trong sự nhận thức cua con người" (N.
Trong cuốn sách Bing no truyén thông, tác giả Philippe Breton va Serge Proulx giải thích theo hai hướng nghĩa: Thứ nhất là, “ndi về một hành động cụ thé để tạo ra một hình dạng (forme)”’, thử hai là, “nói VỀ sự truyền đạt mộtý tưởng, một khái niệm hay một biểu tượng”. Hai hướng này cùng ton tại, một nhằm vao sự tao lập cụ thể, một nhằm vảo sự tạo lập kiến thức truyền đạt. Nó thé hiện sự gắn kết của hai lĩnh vực kĩ thuật và kiến thức. Trong lý luận báo chí, thuật ngữ thong tin cũng đang tồn tại hai cách hiểu: “Mot là, tri thức, tư tưởng do nhà bdo tải tạo và sảng tạo từ hiện thực cuộc sống.
Hai là, sự loan báo cho mọi người biết” [19, tr. No là công cụ chủ yêu dé nhà báo thực hiện mục đích của mình. Trong thực tiễn báo chí, thuật ngữ /hông tin có nhiều cách sử dụng. Chang hạn như, các nhà báo sử dụng nó dé biểu thị tính chất chung nhất của các thông báo ngắn, không kém theo lời phân tích, bình luận về một sự kiện mới (như tin vắn hay 15 tin ngắn).
Trong trường hợp khác, nó được dùng dé chi tat cả các thé loại được dùng để ghi chép những sự kiện, những hiện tượng mới như: tin tức, tường thuật, phỏng van. Đây là cách hiểu theo nghĩa hẹp. Hiểu theo nghĩa rộng, todn bộ những tác phẩm, hay hệ thong những tin tức. chính là thông tin.
Theo Dai tir điển tiếng Việt, “đồ hoạ là nghệ thuật tạo hình lấy nét vẽ, nét khắc hoặc mảng hình tách bạch làm ngôn ngữ chính ” [21, tr. Còn theo từ điển Oxford Advanced learner’s thì đồ hoa (Graphics) là “tranh ảnh, hình vẽ được dùng chủ yếu cho mục đích thương mại ”. Cũng theo từ điển này, “đồ họa nhằm cung cấp một hình ảnh rõ ràng, sống động, đây đủ các chỉ tiết và dễ tưởng tượng”. Thuật ngữ Graphics có gốc là từ Graph, có nghĩa là “thứ được viết hay được vẽ ra theo một cách nào đó ”.
Từ này còn có nghĩa là đồ thị, biểu đồ [26, tr. Liên quan đến lĩnh vực thiết kế đồ họa, Đại từ điển tiếng Việt đã giải thích một số thuật ngữ như sau: Trang trí: Sắp xếp, bồ trí, tạo nên sự cân đối, hài hoà, đẹp mắt. Thiết kế, trình bày: Bồ trí sắp xếp cho nỗi bật, cho đẹp. Bồ cục: Sự sắp xếp bỗ trí giữa các phan trong một chỉnh thé.
Tạo hình: Tạo ra các hình thê bằng hình khối, đường nét, màu sắc. Một số nhà nghiên cứu của các nước phương Tây cho răng, đồ họa là một lĩnh vực truyền thông, trong đó thông điệp được tiếp nhận qua con đường thị giác. Thiết kế đồ họa là tạo ra các giải pháp bằng hình ảnh cho các vấn đề truyền thông. Chính vì thế có hai thuật ngữ là théng tin do hoa (information graphics) va tin tic đô hoa (newsgraphics).
Phân định như vậy bởi thông tin bao gồm thông tin nói chung và thông tin dùng cho báo chí nói riêng. Trong phạm vi nghiên cứu nay, người thực hiện luận văn muốn đề cập sâu hơn về TTĐH, một dạng thức đồ hoạ dùng dé thông tin trên báo chí. Liên quan đến van đề này, tác giả Hà Huy Phượng sử dụng thuật ngữ đồ hoa tin tức. Theo tác giả Hà Huy Phượng, “đồ họa tin tức là dạng thức thông tin diễn tả sự kiện, van dé bằng hình vẽ.
Hình vẽ có thể kết hợp với chữ viết hoặc ảnh chụp dé biểu đạt các chỉ tiết, tình tiết, sự kiện hoàn chỉnh ” [18, tr. 16 Tác giả Vũ Quang Hào trong cuốn Ngôn ngữ báo chí lại dùng thuật ngữ đồ hình chỉ yếu t6 này trong nhóm ngôn ngữ phi văn tự. Tác giả cho rằng, “øhững thông tin trên báo chí không đăng tải dưới dạng văn tự mà là dang đồ hình, như: ảnh, tranh minh họa, biểu bang, do thị, sơ đồ, bản do.Paker thì cho răng, “hồng tin mô tả dưới dạng đô họa chính là một trong những cách tốt nhất dé giúp độc giả có thé hiểu nhanh thông điệp của bạn là thay thế những đoạn văn bản dài và rườm rà bằng các biểu đồ ngắn gọn và dễ hiểu. Bạn có thé chọn nhiễu kiểu trình bày khác nhau như lưu đô, sơ đồ tổ chức hoặc những biểu dé thời gian ” [16, tr.
Theo Jean-Marie Chappé trong cuốn L’infographie de presse, thuật ngữ “thông tin đô họa được sử dụng từ những năm dau thập niên 1980, nó được ghép từ 2 từ: ” thông tin” và “đồ họa”. Chúng ta không nên hiểu thông tin đồ họa là đồ họa mang tính thông tin, mà chính xác là đô họa cua thông tin. Nếu nói thông tin đồ họa chính là đồ hoa máy tính cũng là cách hiểu sai lam mang tính bản chất” [29, tr. Còn tác gia Nhật Anh trong bài nghiên cứu Infographic: Bức tranh thay ngàn lời nói đăng trên tạp chí Suối nguồn tri thức, lại sử dụng thuật ngữ đồ họa thông tin và định nghĩa như sau: “Thuật ngữ “infographics” là sự kết hợp hai khái niệm “information” (thông tin) va “graphic” (đô hoa).
Infographic tức đô họa thông tin là phương thức sử dụng hình ảnh đô họa dé mô tả thông tin, kiến thức, dữ liệu. Mục tiêu của “infographic” là giúp khối dữ liệu không lỗ, rồi ram trở nên rõ ràng, sống động và hấp dẫn hơn bằng cách chọn lọc và diễn giải chúng thành các biểu đô, hình ảnh. theo chủ dé riêng biệt” [1. Theo tác giả Nguyễn Thành Lợi trong cuốn Tác nghiệp báo chỉ trong môi trường truyền thông hiện đại, gọi TTDH là đồ họa trực quan “sử dung hình ảnh dé trình bày thông tin, dữ liệu hoặc kiến thức tạo thành số liệu thống kê chính xác, cụ thể, rõ ràng giúp độc gia dé dang theo dõi, đọc hiểu ” (14, tr.
Theo quan điểm của Jennifer George — Palilonis trong cuốn A Practical Guide to graphics reporting information graphics for Print, Web & Broadcast thi TTDH thường thúc day nhiều sự động não hơn bởi vi chúng hap dan với cả hai bán cầu hình ảnh va nhận thức. TTDH có thé ké những câu chuyện với mức độ chi tiết 17 mà bình thường đáng lẽ không thể. Nó cung cấp cho công chúng một kinh nghiệm “đọc” phong phú kinh ngạc và mang lại cho các nhà báo một công cụ đầy quyền lực dé kế những loại câu chuyện khác nhau. Nhu vậy, 77H chính là một trong những công cụ dua tin cua bao chi có khả năng biến khối dữ liệu không lỗ thành các hình ảnh đồ họa ở mọi chủ đề thông tin được công chúng quan tâm.
Nó không chỉ đóng vai trò bổ trợ mà còn có thể dung độc lập như một bài báo hoàn chỉnh. Khái niệm báo điện tử Báo điện tử là một loại hình báo chí ra đời muộn hơn so với các loại hình báo chí khác như báo In, phát thanh và truyền hình. Trước đây, khi một sự kiện xảy ra thì phát thanh đưa tin, truyền hình minh họa, báo in phân tích và giải thích. Nhưng giờ đây, báo điện tử có thể đảm đương nhiệm vụ của cả phát thanh, truyền hình lẫn báo in một cách dé dàng.
Trên thế giới và ở Việt Nam đang tồn tại rất nhiều cách gọi khác nhau đối với loại hình báo chí này: Báo điện tw (Electronic Journal), bdo frực tuyến (Online Newspaper),bBáo mang (Cyber Newspaper), báo chi internet (Internet Newspaper) va bdo mạng điện tử. Được ra đời vào tháng 5 năm 1992, Chicago Tribune là tờ bao điện tử đầu tiên trên thế giới. Từ đó, báo điện tử đã có sự phát triển một cách chóng mặt khi chỉ 8 năm sau đó, ước tính con số báo điện tử đã lên tới 8474. Bắt đầu từ năm 2000 trở đi, các hãng thông tấn lớn trên thế giới như AFP, Reuter., các đài truyền hình như CNN, NBC., các tờ báo như New York Times, Washington Post.
đều có tờ báo điện tử của mình và coi đó là phương tiện đề phát triển thêm công chúng báo chí. Báo điện tử là loại hình báo chí được xây dựng dưới hình thức một trang web và phát hành dựa trên nền tảng internet. Báo điện tử được xuất bản bởi tòa soạn điện tử, còn người đọc báo dựa trên máy tính, điện thoại di động, máy tính bảng. có kết nối internet.
Khác với báo in, tin tức trên báo điện tử được cập nhật thường xuyên, tin ngăn và thông tin từ nhiều nguồn khác nhau. Nó cũng khác so với trang thông tin điện tử về tần suất cập nhật. Báo điện tử cho phép mọi người trên khắp thé giới tiếp cận tin tức nhanh chóng không phụ thuộc vào không gian và thời gian, sự phát triển của báo điện tử đã làm thay đổi thói quen đọc tin và ít nhiều có ảnh 18 hưởng đến việc phát triển báo giấy truyền thống. Tuy ra đời muộn hơn so với các phương tiện như báo in, phát thanh và truyền hình nhưng phương tiện này đã chứng tỏ rất nhiều thế mạnh và tiện ích của mình.
Xét về dung lượng truyền tải, báo điện tử có những lợi thế mà báo in, thậm chí cả phát thanh - truyền hình cũng phải kính nể. Báo điện tử không bị giới hạn khuôn khổ, số trang nên có khả năng chuyền tải thông tin không giới hạn. Do đó, báo điện tử có thê cung cấp một lượng thông tin lớn, phong phú và chỉ tiết. Những thông tin trên báo điện tử được xâu chuỗi lại với nhau theo các chủ đề thông qua siêu liên kết, được lưu trữ lâu dài và khoa học theo ngày tháng, chủ đề, chuyên mục.