CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE THONG DIEP VE BẢO HIẾM XÃ HỘI TỰ NGUYEN TREN BAO ĐIỆN TU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Thông điệp Thông điệp là một yếu tô quan trọng, giữ vai trò không thê thiếu trong quá trình truyền thông, cùng với nguồn, kênh truyền thông, người nhận là các yếu tố cơ bản của quá trình truyền thông. Ở nước ngoài, nghiên cứu về thông điệp xuất hiện trong các mô hình truyền thông của nhiều tác giả như Harold Lasswell, Claude Shannon, David Berlo, Charles Osgood và Wilbur Schramm.
Theo mô hình truyền thông của nhà chính tri học người Mỹ Harold Lasswell (1927), quá trình truyền thông bao gồm năm yếu tố: Nguồn phát (Source) - Thông điệp (Message) - Kênh (Channel) - Người nhận (Receiver) - Hiệu quả (Effect). Trong đó, thong điệp được hiểu là nội dung thông báo [18, tr. Sau đó, nhà thông tin và điều khiến hoc Claude Shannon và các nhà nghiên cứu khác bổ sung thêm hai yếu tố: Nhiễu (Noise) và Phản hồi (Feedback). Do đó, mô hình truyền thông hoàn chỉnh bao gồm bảy yếu tổ thành phần, có mối quan hệ tác động trực tiếp.
Trong mô hình truyền thông hai chiều của Shannon và Weaver năm 1948, khái niệm “Thông điệp (nội dung): là nội dung thông tin dược trao đổi, chia sẻ từ nguồn phát đến đổi tượng tiếp nhận. Có thể bằng tin hiệu, mã số, lời nói, cử chỉ, thái độ, chữ viết. hoặc bắt cứ tín hiệu nào mà con người có thể hiểu được và trình bay một cách có ý nghĩa. Nói cách khác, thông điệp được diễn ta bang ngôn ngữ mà người cung cấp và người tiếp nhận có thé hiểu được” [5, tr.
Còn trong “Giáo trình cơ sở lý luận báo chi? của tac giả Nguyễn Văn Hà (2012), Nxb Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, có đề cập tới mô hình truyền thông của Charles Osgood và Wilbur Schramm. Theo đó, “théng 15 điệp là nội dung thông tin, tin tức được đưa ra trao đổi. Đó là những tin hiệu, mã số, ký hiệu được thể hiện bằng mực trên giấy, sóng trên không trung. Thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ quy ước, mang tính cộng dong, khiến người gửi và người nhận có thé hiểu nhau” [13, tr.
Ở Việt Nam, nghiên cứu về thông điệp cũng được hiểu theo nhiều ý nghĩa khác nhau. Theo nhóm tác giả Dương Xuân Sơn, Định Văn Hường, Tran Quang (2011) trong sách “Cơ sở lý luận báo chí truyền thông”, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội, “7hông điệp có thé bằng tín hiệu, ký hiệu, mã số, bang mực trên giấy, sóng trên kho trung hoặc bang bắt cứ tín hiệu nào mà người ta có thể hiểu được và được trình bày ra một cách có ý nghĩa. Diéu quan trọng là thông điệp phải được diễn tả bằng thứ ngôn ngữ mà người cung cấp (nguồn) và người tiếp nhật déu hiểu được” [20, tr. Với quan niệm này, hệ thống ký hiệu có ý nghĩa như là phương tiện để chuyên hóa thông điệp.
Đó có thé là các hệ thống tiếng nói, chữ viết trong ngôn ngữ, hệ thống màu sắc, hình vẽ, biển báo trong hệ thống chỉ huy giao thông, hệ thống các cử chỉ biểu đạt của con người. Còn trong sách Truyén thông - Ly thuyết và kỹ năng cơ bản của tác giả Nguyễn Văn Dững, Đỗ Thị Thu Hang thì: “Thông điệp là nội dung thông tin được trao đổi từ nguôn phát đến đổi tượng tiếp nhận. Thông điệp chính là những tâm tư, tình cảm, mong muốn, đòi hỏi, y kién, hiéu biét, kinh nghiém song, tri thức khoa hoc - kỹ thuật.được mã hóa theo một hệ thống kỷ hiệu nào đó ”[9, tr. Quan niệm này đã chỉ ra thông điệp có thé khả năng giải mã qua tiếng nói, chữ viết, hệ thống biển báo, hình ảnh, cử chỉ, biểu đạt.
của con người. Qua nghiên cứu, tác giả nhận thấy, nghiên cứu về “thông điệp” được quan tâm và có nhiều góc nhìn khác nhau về thuật ngữ nay, nhưng tựu chung đều có điểm giống nhau khi cho rằng thông điệp (Message) là thành phần quan trọng trong mô hình truyên thông. Tác giả luận văn xin được chọn khái niệm vê 16 thông điệp của nhóm tác giả Nguyễn Văn Dững - Đỗ Thị Thu Hăng trong sách “Truyên thông - Lý thuyết và kỹ năng cơ ban” dé kê thừa, làm khái niệm công cụ nghiên cứu cho luận văn của mình, bởi khái niệm ngắn gọn, nêu được bản chất cũng như mối liên hệ giữa các thành tố trong chu trình truyền thông thông điệp bao gồm: Nguôn, thông điệp, kênh, nhiễu, tiếp nhận và phản hồi. Bảo hiểm xã hội Theo Từ điển Collins (bản online), “bảo hiểm xã hội” (tiếng Anh là “Social Insurance”), được hiểu như sau: “Bảo hiểm xã hội” là khoản đảm bảo mà chính phú cung cấp để hỗ trợ cho người thất nghiệp, bị thương và người già, thường được đóng gop bởi người sw dụng lao động va NLD, cũng như từ nguon thu ngân sách nhà nước” [6].
Với nghĩa này, BHXH có thể hiểu là khoản cấp cho người tham gia chính sách và được đóng góp từ NLĐ, người sử dụng lao động và hỗ trợ từ Nhà nước (nếu có). Ở Việt Nam, BHXH là một trong những nhóm chính sách quan trọng của hệ thong ASXH nham muc dich cham lo, bao vé va phat trién con nguoi, đảm bao 6n định chính trị, an toàn xã hội, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Trong sách “Giáo trình Bảo hiểm xã hội” của PGS.TS Nguyễn Tiệp (Chủ biên), 2010, Nxb Lao động - Xã hội, cho rằng: “BHXH là sự đảm bảo thay thé hoặc bù đắp một phan thu nhập cho NLD và gia đình họ khi NLD tham gia BHXH bị giảm hoặc mat thu nhập từ lao động do các sự kiện bao hiểm xảy ra và trợ giúp các dich vụ việc làm, chăm sóc y tế cho họ trên cơ sở quỹ BHXH do các bên tham gia đóng góp, nhằm ồn định đời sống cho NLD và gia đình NLD, đảm bảo ASXH”[22, tr. Còn trong Luật BHXH số 58/2014/QH14, khái niệm về BHXH được nêu rõ: BHXH là sự dam bảo thay thế hoặc bù đắp một phan thu nhập của NLD khi họ bị giảm hoặc mat thu nhập do 6m dau, thai sản, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, hết tuổi lao động hoặc chết, trên cơ sở đóng vào quỹ BHXH [38].
Trong luận văn nảy, tác giả xin được kế thừa khái niệm BHXH theo Luật 17 BHXH số 58/2014/QH14 dé làm khái niệm công cu cho nghiên cứu của mình bởi khái niệm này bao quát được những nội dung cốt lõi, bản chất của BHXH. Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH tự nguyện là một loại hình của chính sách BHXH. Về khái niệm này, Luật BHXH 2014 nêu rõ: “BHXH tự nguyện là loại hình BHXH do Nha nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của minh và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH dé người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tudt” [38]. Vì đây là khái niệm đã được luật hóa và sử dụng thống nhất trong các văn bản trong lĩnh vực BHXH và liên ngành, nên tác giả luận văn sẽ sử dụng khái niệm theo Luật BHXH số 58/2014/QH14 dé sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu.
Báo điện tử Báo điện tử được công chúng biết đến với nhiều tên gọi khác nhau như: báo điện tử (Electronic newspaper), báo Internet (Internet newspaper), báo web (web newspaper), báo mạng (Network newspaper), báo trực tuyến (Online newspaper). Ở Việt Nam, loại hình báo chí này gắn với các tên gọi như “báo trực tuyến”, “báo điện tử”, “báo mạng điện tử”. Trong các tên này, cách định danh “báo điện tử” đã đi vào nhiều văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, và được sử dụng rộng rãi. Trong cuén “Báo mạng điện tử - Những van dé cơ ban” của TS Nguyễn Thị Trường Giang cho rằng: “Bao mạng điện tử là một loại hình báo chí được xdy dựng dưới hình thức cua một trang web và phát hành trên mang Internet.
Ngày nay, trong các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước ta cũng su dụng thuật ngữ “báo điện tử ”"° [11, tr. Còn trong giáo trình “Báo truc tuyến” của nhóm tác giả Huỳnh Văn Thông, Phan Văn Tú, Huỳnh Minh Tuấn, Triệu Thanh Lê, Ngô Thị Thanh Loan (2015), Nxb. Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh, khái niệm báo trực 18 tuyến được nêu như sau: “Báo rực tuyến là một loại hình báo chí, phát hành trên mạng Internet, có tính đa phương tiện, và được công chúng tiếp cập thông qua các thiết bị có kết nối Internet. Định nghĩa này được dua ra dựa trên những đặc tính cốt lõi nhất của loại hình báo chí này.
Đó là: nội dung truyền tải tin tức báo chí; gắn với nên tang (platform) phát hành cũng như tiếp cận là Internet; mang tính đa phương tiện ” (21, tr. Trong Luật Báo chí 2016, khái niệm báo điện tử được định nghĩa như sau: “Báo điện tử là loại hình bdo chí su dụng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được truyền dan trên môi trường mạng gồm báo điện tử và tap chí điện tử” [37]. Trong khuôn khổ luận văn, tác giả xin phép dùng khái niệm “báo điện tử” này dé thống nhất về định nghĩa cũng như phù hợp với các văn bản quy phạm pháp luật chính thức của Nhà nước. Ngày 19/11/1997 ghi dấu mốc Việt Nam chính thức hòa mạng Internet toàn cầu.
Sự kiện này đã tạo ra dấu ấn phát triển khởi đầu của báo điện tử Việt Nam. Tới nay, quá trình phát triển báo điện tử ở Việt Nam đã trải qua hơn 23 năm phát triển, với ba giai đoạn chủ yếu. Quy mô báo điện tử ở Việt Nam ngày càng phat triển vượt bậc, vì thế, mức độ cạnh tranh của các tòa soạn báo điện tử cũng trở nên khốc liệt hơn. Theo số liệu của Ban Tuyên giáo Trung ương, tính đến cuối năm 2020, cả nước có 779 cơ quan báo chí, giảm 80 cơ quan báo chí so với năm 2016.
Trong số này, 210 cơ quan báo chí có hoạt động báo điện tử, tạp chí điện tử và 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập [46].