phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục đề tài Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) và công chúng Hà Nội đƣợc kết cấu với 3 chƣơng cụ thể: Chƣơng 1: Tổng quan về truyền thông đại chúng, công chúng Hà Nội và Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) 13 z Chƣơng 2: Công chúng Hà Nội và hoạt động tiếp nhận thông tin trên Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) Chƣơng 3: Nhận định của công chúng Hà Nội về các chƣơng trình Kênh truyền hình Đài Tiếng nói Việt Nam (VOVTV) và giải pháp thu hút công chúng của Kênh 14 z Chƣơng 1 TỔNG QUAN VỀ XÃ HỘI HỌC TRUYỀN THÔNG ĐẠI CHÖNG, CÔNG CHÖNG HÀ NỘI VÀ KÊNH TRUYỀN HÌNH VOVTV 1. Lý luận về xã hội học truyền thông đại chúng, công chúng báo chí, báo chí truyền hình TTĐC (tiếng Anh gọi là mass communication) là quá trình truyền tải thông tin một cách rộng rãi hƣớng đến mọi ngƣời trong xã hội thông qua các PTTTĐC nhƣ sách, báo chí, phát thanh, truyền hình, internet, điện ảnh, băng đĩa, áp-phích… TTĐC là một quá trình xã hội, còn PTTTĐC chỉ là những công cụ kỹ thuật hay những kênh mà phải nhờ vào đó ngƣời ta mới có thể thực hiện quá trình TTĐC, tức là việc tiến hành việc phổ biến, loan truyền thông tin đến mọi ngƣời. Xác định một hành vi có nằm trong quá trình TTĐC hay không không phải ở cái màn hình tivi hay đầu máy video mà xem xét hành vi ấy có nằm trong quá trình truyền tải thông tin rộng rãi ra công chúng thông qua các PTTTĐC hay không. Trong xã hội hiện đại, TTĐC đƣợc sử dụng ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Các nhà kinh doanh, các nhà hoạt động văn hóa - xã hội… đều quan tâm khai thác và sử dụng TTĐC nhƣ một công cụ và phƣơng thức không thể thiếu trong quá trình hoạt động của mình. Do đó, “TTĐC ngày càng chi phối sâu sắc và toàn diện đến mọi tiến trình và lĩnh vực đời sống xã hội và việc hình thành nhân cách mỗi con ngƣời. Đó là quá trình tƣơng tác giữa các yếu tố ngƣời gửi, ngƣời nhận, thông điệp và kênh truyền nhằm tạo ra sự thay đổi nhất định về thái độ, nhận thức, hành vi ở mỗi cá nhân và toàn xã hội” [17, tr. Vì thế, nhiệm vụ quan trọng của ngành xã hội học trong lĩnh vực TTĐC là làm sáng tỏ mối liên hệ giữa TTĐC và xã hội.
Nghiên cứu báo chí học về TTĐC là nghiên cứu đặc điểm, đối tƣợng, cơ chế tác động của TTĐC; nghiên cứu chức năng cơ bản, nguyên tắc hoạt động, hiệu lực và hiệu quả của TTĐC. Theo Trần Hữu Quang, có bốn lĩnh vực căn bản cần nghiên cứu trong TTĐC là: công chúng, nhà truyền thông, nội dung truyền thông và những tác động xã hội của TTĐC. Trong đó, nghiên cứu công chúng đóng vai trò quan 15 z trọng. Bởi kết quả này giúp các nhà truyền thông đƣa ra chiến lƣợc thông tin phù hợp và có phƣơng cách thiết kế và chuyển tải thông điệp tới công chúng sao cho đạt hiệu quả nhất.
Đây là căn cứ để các đơn vị có những hoạch định trong việc thực hiện vấn đề kinh tế truyền thông. Khái niệm thông tin, truyền thông, truyền thông đại chúng 1. Thông tin và truyền thông Hoạt động truyền thông nào cũng chứa thông tin. Thông tin thƣờng đƣợc hiểu là tin tức hay những gì thời sự, trung thực và hấp dẫn công chúng, là những chuyện khác thƣờng trong cuộc sống nhƣ câu nói nổi tiếng của Charles Anderson Dana: “Chó cắn ngƣời không phải là tin nhƣng ngƣời cắn chó là tin” [29, tr.
Theo Nguyễn Văn Hà: “Thông tin là nội dung của thông điệp đƣợc truyền tải giữa chủ thể phát tin và chủ thể nhận tin. Một thông điệp rõ ràng, mới lạ, hấp dẫn, hữu ích là một thông điệp có thông tin. Một bài báo ngắn nhƣng để lại ấn tƣợng mạnh nơi độc giả là một bài báo có thông tin. Ngƣợc lại, một bài báo dài nhƣng đọc xong không thấy điều gì mới lạ và hữu ích thì đó là một bài báo không có thông tin” [29, tr.
Nhƣ vậy, thông tin là phƣơng thức, phẩm chất và là đặc trƣng của hoạt động báo chí truyền thông. Truyền thông theo nghĩa nghĩa Hán Việt là sự chuyển tải thông tin khiến hai bên hiểu nhau (truyền là “chuyển đi, trao cho”; thông có nghĩa là “đi suốt qua, hai bên hiểu nhau”). Trong tiếng Anh, truyền thông (communication) có nghĩa giao tiếp, là một dạng hoạt động căn bản của bất cứ một tổ chức nào mang tính xã hội. Truyền thông nghĩa là sự truyền tải thông tin giữa hai hoặc nhiều đối tƣợng để đạt đƣợc hiệu quả giao tiếp nhất định.
Có nhiều kiểu truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, vận động hành lang và có thể truyền thông bằng nhiều cách nhƣ truyền thông bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ. Trần Hữu Quang cho rằng: “Sự truyền thông thƣờng đƣợc thực hiện thông qua lời nói hay chữ viết, tức là ngôn ngữ, nhƣng cũng có thể thông qua cử chỉ, điệu bộ, hay hành vi để biểu tỏ thái độ hoặc cảm xúc”. Truyền thông có 16 z vai trò là yếu tố quan trọng hàng đầu làm cho con ngƣời - từ con ngƣời tự nhiên trở thành con ngƣời xã hội thông qua sự hiểu biết lẫn nhau, liên hệ và cố kết lẫn nhau. Khi nói về quá trình truyền thông, học giả Mỹ George Hertbert Mead (1863- 1931) nhấn mạnh đến tính tƣơng tác.
Ông khẳng định chính sự tƣơng tác giúp con ngƣời nhận thức thế giới và nhận thức bản thân cách sâu sắc và toàn diện hơn: “Sự tƣơng tác, ngay cả ở mức sinh vật cũng là một dạng truyền thông, bằng không sẽ không thể có hành động chung”. Quá trình truyền thông cũng đƣợc Harold Lasswell (1902 - 1978) mô tả bằng câu nói nổi tiếng năm 1948: “Who say what in which channel to whom with what effect? Ai nói cái gì, bằng kênh nào, cho ai và nhằm mục đích gì” với các yếu tố cơ bản là nguồn phát, thông điệp, kênh truyền và ngƣời nhận. Tuy nhiên, truyền thông trong mô hình của Harold Lasswell chỉ mang tính một chiều từ ngƣời phát đến ngƣời nhận mà chƣa đề cập ý kiến phản hồi của ngƣời nhân. Ngƣời nhận vẫn ở vai trò thụ động do đó chƣa mang lại hiệu quả tích cực.
Về sau, nhà ngôn ngữ học Roman Jakobson cho rằng truyền thông là dạng đƣờng vòng tròn khép kín bao gồm bốn giai đoạn chính: phát tin (emission), truyền tin (transmission), nhận tin (reception) và phản hồi (feedback). Lúc này ngƣời nhận tin cũng trở thành ngƣời phát tin và hoạt động này diễn ra liên tục. Năm 1973, kỹ sƣ điện tử Claude Shannon (1907 - 1987) đƣa ra 6 yếu tố cần có để thực hiện quá trình truyền thông: Nguồn: (S - source): Ngƣời sáng tạo (originator) thông tin, ngƣời gửi (sender) thông tin, Thông điệp (M - message): Nội dung thông tin, tin tức đƣợc đƣa ra trao đổi, Kênh truyền - mạch truyền (C - channel): Phƣơng tiện “chuyên chở” thông điệp từ ngƣời phát đến ngƣời nhận, Người nhận (R - receiver): Nơi đến của thông tin, Sự phản hồi (F - feedback): Sự tác động ngƣợc chiều từ ngƣời nhận đến ngƣời phát tin, Tạp nhiễu (N - noise): Các hiện tƣợng gây nên sự méo mó hay sự sai biệt nội dung thông điệp. Thông điệp từ ngƣời gửi đến ngƣời nhận ít khi đƣợc biểu hiện một cách trọn vẹn mà luôn có một rào cản nhất định do điều kiện khách quan và chủ quan thƣờng gọi là yếu tố “nhiễu”.
Và trong quá trình này chủ thể và khách thể đƣợc chuyển đổi một cách linh 17 z hoạt nhờ có yếu tố “phản hồi”. Vì thế, muốn truyền thông hiệu quả, phải chú ý đến việc hạn chế, loại bỏ các nguyên nhân gây nhiễu nhƣ rào cản về ngôn ngữ, văn hóa, thiết bị kỹ thuật, thời tiết, tâm lý, trình độ ngƣời gửi và ngƣời tiếp nhận. Tác giả luận văn áp dụng khung lý thuyết này để thực hiện đề tài nghiên cứu của mình. Dƣới góc nhìn xã hội học TTĐC, Mai Quỳnh Nam khẳng định: “Hoạt động truyền thông chỉ có ý nghĩa khi nó kích thích đƣợc lợi ích của đối tƣợng tiếp nhận, thuyết phục họ về mặt nhận thức, tạo cho họ hành động chung.
Từ đó, ngƣời ta nhận thấy khả năng truyền bá rộng lớn của hoạt động truyền thông trong việc thực hiện các mục tiêu phát triển” [Mai Quỳnh Nam (2003), “Mấy vấn đề về truyền thông và phát triển”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 3, tr. Tạo lập sự hiểu biết dẫn đến hành động chung để phát triển xã hội là mục đích mà các nhà truyền thông hƣớng tới. Từ góc nhìn báo chí học, nhóm tác giả Đinh Văn Hƣờng, Dƣơng Xuân Sơn cho rằng: “Truyền thông là một quá trình liên tục trao đổi hoặc chia sẻ thông tin, tình cảm, kỹ năng nhằm tạo sự liên kết lẫn nhau để dẫn tới sự thay đổi trong hành vi và nhận thức” [40, tr. Muốn tạo nhận thức đúng, hành động đúng trong công chúng, nhà hoạt động truyền thông cần lƣu ý việc tạo ra thông điệp có giá trị, chuẩn mực cùng với quy trình truyền thông đầy đủ, toàn diện.
Là lĩnh vực có mối liên hệ chặt chẽ với hoạt động của mỗi cá nhân, nhóm, cộng đồng nên truyền thông đƣợc nhiều ngƣời nghiên cứu trong và ngoài nƣớc đƣa ra khái niệm. Từ những cách tiếp cận khác nhau về truyền thông của học giả trong và ngoài nƣớc, tác giả luận văn đƣa ra khái niệm: “Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, kiến thức, kỹ năng, tình cảm giữa cá nhân, cộng đồng nhằm tạo thay đổi về nhận thức, thái độ, hành vi cá nhân phù hợp với sự phát triển bền vững của xã hội”. Truyền thông đại chúng Thuật ngữ TTĐC đƣợc dùng trong Lời nói đầu của Hiến chƣơng Liên hiệp quốc về văn hóa, khoa học và giáo dục (UNESCO) năm 1946: Thông qua các phƣơng tiện TTĐC, ngƣời dân thực hiện đƣợc quyền đƣợc biết, đƣợc thông tin và quyền tự do ngôn luận của mình. 18 z Từ góc nhìn xã hội học TTĐC, Mai Quỳnh Nam cho rằng: “TTĐC là toàn bộ những phƣơng tiện lan truyền thông tin nhƣ báo chí, truyền hình, phát thanh… tới những nhóm công chúng lớn”.
Với đặc trƣng bản chất là nhiều ngƣời tham gia, TTĐC giúp ngƣời tiếp cận ở nhiều lãnh thổ khác nhau có thể tham gia thảo luận, trao đổi về những chủ đề mà họ quan tâm, cùng nhau giải quyết các vấn đề xã hội đặt ra.