Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về thông tin dự báo thời tiết trên truyền hình Chương 2: Thực trạng các bản tin dự báo thời tiết trong các chƣơng trình thời sự trên Kênh VTV1 và Kênh VTC14 Chương 3: Kinh nghiệm, giải pháp nâng cao chất lƣợng bản tin dự báo thời tiết trên kênh VTV1 và Kênh VTC14 10 z Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THÔNG TIN DỰ BÁO THỜI TIẾT TRÊN TRUYỀN HÌNH 1. Một số khái niệm cơ bản: 1. Các khái niệm cơ bản: + Dự báo: Dự báo là một khoa học và nghệ thuật tiên đoán những sự việc sẽ xảy ra trong tƣơng lai, trên cơ sở phân tích khoa học về các dữ liệu đã thu thập đƣợc. Khi tiến hành dự báo cần căn cứ vào việc thu thập, xử lý số liệu trong quá khứ và hiện tại để xác định xu hƣớng vận động của các hiện tƣợng trong tƣơng lai nhờ vào một số mô hình toán học Định lƣợng.
Tuy nhiên dự báo cũng có thể là một dự đoán chủ quan hoặc trực giác về tƣơng lai Định tính và để dự báo định tính đƣợc chính xác hơn, ngƣời ta cố loại trừ những tính chủ quan của ngƣời dự báo. + Thời tiết: Thời tiết là trạng thái khí quyển tại một địa điểm nhất định đƣợc xác định bằng tổ hợp các yếu tố: nhiệt độ, áp suất, độ ẩm, tốc độ gió, nắng, mƣa, sƣơng mù,… Thời tiết thƣờng dễ thay đổi trong một thời gian ngắn, có thể là một buổi, một ngày hoặc vài ngày. + Khí hậu: Khí hậu là thuật ngữ mô tả các trạng thái thời tiết đã từng xảy ra tại một nơi nào đó trong một khoảng thời gian nhất định. Khác với thời tiết, khí hậu có tính ổn định tƣơng đối.
+ Biến đổi khí hậu: Biến đổi khí hậu là sự thay đổi của khí hậu diễn ra trong một khoảng thời gian dài, do nguyên nhân tự nhiên hoặc hoạt động của con ngƣời. 11 z + Khí nhà kính: Bầu khí quyển của Trái đất chứa một số loại khí đặc biệt gọi là khí nhà kính, vì cách mà chúng làm ấm Trái đất tƣơng tƣ nhƣ các ngƣời ta giữ nhiệt cho các ngôi nhà làm bằng kính để trồng cây. Khí nhà kính chủ yếu bao gồm: hơi nƣớc H2O ; cacbon đioxit CO2 ; metan CH4 ; các khó CFC; các khí đi nitơ oxit N2O ; khí ozon trong tầng đối lƣu O3 ; những khí này giống nhƣ một chiếc khăn có độ dày vừa đủ, giúp giữ ấm cho Trái Đất ở trong khoảng nhiệt độ thích hợp, khiến sự sống có thể phát triển và sinh sôi nảy nở. Nếu không có những khí này, nhiệt từ Mặt trời sẽ không đƣợc giữ lại và bề mặt Trái đất sẽ trở nên lạnh lẽo.
Dự báo có các đặc điểm sau: - Không có cách nào để xác định tƣơng lai là gì một cách chắc chắn tính không chính xác của dự báo. Dù phƣơng pháp chúng ta sử dụng là gì thì luôn tồn tại yếu tố không chắc chắn cho đến khi thực tế diễn ra. - Luôn có điểm mù trong các dự báo. Chúng ta không thể dự báo một cách chính xác hoàn toàn điều gì sẽ xảy ra trong tƣơng tƣơng lai.
Hay nói cách khác, không phải cái gì cũng có thể dự báo đƣợc nếu chúng ta thiếu hiểu biết về vấn đề cần dự báo. - Dự báo cung cấp kết quả đầu vào cho các nhà hoạch định chính sách trong việc đề xuất các chính sách phát triển kinh tế, xã hội. Chính sách mới sẽ ảnh hƣởng đến tƣơng lai, vì thế cũng sẽ ảnh hƣởng đến độ chính xác của dự báo. Vai trò của các bản tin dự báo thời tiết trên truyền hình: Khí hậu Việt Nam nằm trong vành đai nội chí tuyến, quanh năm có nhiệt độ cao và độ ẩm lớn.
Phía Bắc chịu ảnh hƣởng của lục địa Trung Hoa nên ít nhiều mang tính khí hậu lục địa. Biển Đông ảnh hƣởng sâu sắc đến tính chất nhiệt đới gió mùa ẩm của đất liền. Khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm không thuần nhất trên toàn lãnh thổ Việt Nam, hình thành nên các miền và vùng khí hậu 12 z khác nhau rõ rệt. Khí hậu Việt Nam thay đổi theo mùa và theo vùng từ thấp lên cao, từ bắc vào nam và từ đông sang tây.
Do chịu sự tác động mạnh của gió mùa đông bắc nên nhiệt độ trung bình ở Việt Nam thấp hơn nhiệt độ trung bình nhiều nƣớc khác cùng vĩ độ ở Châu Á. Việt Nam có thể đƣợc chia ra làm hai đới khí hậu lớn: 1 Miền Bắc từ đèo Hải Vân trở ra là khí hậu nhiệt đới gió mùa, với 4 mùa rõ rệt xuân-hạ- thu-đông , chịu ảnh hƣởng của gió mùa Đông Bắc từ lục địa châu Á tới và gió mùa đông Nam, có độ ẩm cao. 2 Miền Nam từ đèo Hải Vân trở vào do ít chịu ảnh hƣởng của gió mùa nên khí hậu nhiệt đới khá điều hòa, nóng quanh năm và chia thành hai mùa rõ rệt mùa khô và mùa mƣa. Tính cấp bách của biến đổi khí hậu tại Việt Nam Việc biến đổi khí hậu trong thời gian qua cũng đã gây cho nhiều địa phƣơng trên cả nƣớc những thiệt hại nặng nề và ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là những vùng có địa lý và khí hậu phức tạp đồi núi, ven biển.
Việc phòng chống, đối phó với biến đổi khí hậu là điều hết sức cần thiết. Trung bình mỗi năm Việt Nam có 392 ngƣời chết và thiệt hại hơn 1% GDP do các thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu. Với địa hình đa dạng, đƣờng bờ biển dài và các đồng bằng sông rộng lớn, hoạt động nông nghiệp Việt Nam là những lĩnh vực đang phải chịu ảnh hƣởng lớn từ những thay đổi của khí hậu cùng các thảm họa tự nhiên nhƣ bão, lụt, hạn hán. Vì vậy, có 2 vấn đề đặt ra: - Thứ nhất là làm giảm tác động của biến đổi khí hậu đến các lĩnh vực đời sống - Thứ hai là thích ứng với khí hậu.
Những ảnh hƣởng của biến đổi khí hậu ở Việt Nam thực tế đang diễn ra nhanh hơn nhiều so với dự báo và diễn biến khó lƣờng. Mƣa, tố, lốc, hạn hán, 13 z xâm nhập mặn diễn ra thƣờng xuyên và ngày càng khốc liệt hơn trên khắp các vùng, miền đất nƣớc ta, gây thiệt hại nặng nề và tiếp tục đe dọa nghiêm trọng đến sản xuất và đời sống của nhân dân. Chính vì vậy, việc dự báo thời tiết là dự báo quan trọng bởi vì nó cung cấp thông tin nhằm bảo vệ cuộc sống con ngƣời cũng nhƣ tài sản và các hoạt động ngoài trời, đặc biệt là lĩnh vực nông nghiệp và khai thác thủy, hải sản và làm muối. Biến đổi khí hậu ở Việt Nam đã trở thành vấn đề truyền thông lớn và nhạy cảm Trái đất nóng lên, nƣớc biển dâng cao và biến đổi khí hậu đến nay không còn là vấn đề riêng của một nƣớc nào mà đó là vấn đề chung, là trách nhiệm của toàn cầu.
Các quốc gia trên thế giới đang rất nỗ lực xây dựng và thực hiện các hành động chiến lƣợc nhằm thích ứng với sự nóng lên toàn cầu, ngăn ngừa và hạn chế tác động của các hiện tƣợng khí hậu cực đoan do biến đổi khí hậu nhƣ nƣớc biển dâng. Biến đổi khí hậu đang thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia do những ảnh hƣởng hiện nay và hiểm họa trong tƣơng lai đối với xã hội loài ngƣời. Các hiện tƣợng khí hậu dị thƣờng và thiên tai liên tục diễn ra ở nhiều vùng trên thế giới. Báo cáo “Ảnh hƣởng của mực nƣớc biển dâng cao đối với các nƣớc đang phát triển: Phân tích so sánh” của Ngân hàng Thế giới (WB) công bố đầu năm 2007 cho biết: Mực nƣớc biển chỉ cần dâng thêm 1m thì sẽ gây hiểm họa lớn đối với các nƣớc có vùng dân cƣ và đời sống kinh tế tập trung ở các vùng đồng bằng thấp ở ven biển.
Theo Báo cáo Tình trạng môi trƣờng biển của Chƣơng trình hành động toàn cầu thuộc UNEP (2006), thì hiện nay, gần 40% dân số thế giới sống tại các vùng ven biển hẹp (chỉ chiếm 6,7% diện tích bề mặt Trái Đất) và phụ thuộc vào nguồn tài nguyên thiên nhiên. Mật độ dân số 14 z tại khu vực bờ biển có thể tăng từ 77 ngƣời/km2 năm 1990, lên tới 115 ngƣời/km2 năm 2025. Từ năm 1994 đến 2013, theo thống kê rủi ro lâu dài do biến đổi khí hậu, Việt Nam đứng thứ 7 trên toàn cầu với trung bình mỗi năm có 392 ngƣời chết và thiệt hại hơn 1% GDP do các thảm họa liên quan đến biến đổi khí hậu. Trong vấn đề về thích ứng với sự biến đổi khí hậu và nƣớc biển dâng ở Việt Nam Mới đây, tại Hội nghị Trung ƣơng 7 khóa XI của Đảng cũng đã chỉ ra và hƣớng đến những giả pháp cụ thể: Chính phủ đã ra Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng Chƣơng trình Mục tiêu Quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu toàn cầu, kêu gọi sự hỗ trợ của cộng đồng quốc tế cho chƣơng trình này.
Chƣơng trình đã xây dựng chính sách của quốc gia trong giảm nhẹ và thích ứng, lồng ghép vào các chiến lƣợc phát triển kinh tế - xã hội ở từng ngành từng địa phƣơng và các cam kết quốc tế. Đúc rút kinh nghiệm của các nƣớc và căn cứ vào thực tiễn, Việt Nam đã xây dựng và triển khai tích cực năm nhóm giải pháp chủ yếu: - Một là, nhóm giải pháp về chiến lƣợc, chính sách gồm: xây dựng, bổ sung, sửa đổi các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật, tổ chức quản lý, tổ chức thực hiện Công ƣớc về Biến đổi khí hậu, Nghị định thƣ Ky-o-to và Cơ chế Phát triển sạch (CDM). Biến đổi khí hậu đƣợc coi là vấn đề vừa có tính trƣớc mắt, vừa có tính lâu dài, phức tạp và liên quan đến tất cả các ngành, trên phạm vi khu vực và toàn cầu. - Hai là, nhóm giải pháp về khoa học và công nghệ nhằm đạt đƣợc các kết luận khoa học làm cơ sở cho việc hoạch định các quy hoạch, chiến lƣợc và chính sách cho sự phát triển bền vững.
- Ba là, nhóm giải pháp về tài chính nhằm tạo quỹ phục vụ cho các biện pháp làm sạch môi trƣờng, ứng phó với biến đổi khí hậu.