Chương 1: Những van đề lý luận của quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa Chương 2: Thực trạng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa của đài PT-TH Vĩnh Long từ tháng 1 năm 2019 đến tháng 6 năm 2019 Chương 3: Những vấn đề đặt ra và giải pháp nâng cao chất lượng quản trị quy trình sản xuất các chương trình truyền hình xã hội hóa. NHUNG VAN DE LÝ LUẬN CUA QUAN TRI QUY TRÌNH SAN XUAT CAC CHUONG TRINH TRUYEN HINH XA HOI HOA 1. Những khái niệm, thuật ngữ liên quan 1. Quản trị Khi nói về quản trị, người ta thường đặt nó trong mối liên hệ so sánh với “quản lý”.
Theo từ điển tiếng Việt, quản lý là “ông nom, chịu trách nhiệm trước một công việc ” [29, tr.98] và quản trị được biết đến với tính chất rộng lớn hơn. Có rất nhiều quan niệm về quản tri. Trong giáo trình “Quản tri học căn bản” do T. Trần Đăng Thịnh chủ biên, đã đưa ra hai khái nệm về quản trị của hai nhà nghiên cứu khoa học quan tri: Theo F.Taylor (1856-1915), tác giả của học thuyết “Quản trị khoa học”, “Quản trị là nghệ thuật của sự hiểu rõ mình muốn làm gi và sau đó thấy được cách để làm việc đó một cách rẻ và tốt nhất” [39, tr.Fayol (1841-1925), tác giả của học thuyết “Quản trị hành chính”, “Quản trị là dự báo, lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phái hợp và kiểm soát” [39, tr.
Trong quyền “Quản trị ngành công tác xã hội” do Trịnh Thị Chinh chủ biên, đã đề cập đến khái niệm về quản tri của một số học giả nước ngoài: James H.Gibson va John M.Ivancevich cho rang: “Quản trị là một quá trình do một hay nhiễu người thực hiện, nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác dé đạt được những kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thé nào dat duoc” [5, tr.13] Hai tác giả là James Stoner và Stephen Robbins vào những năm 80 của thé kỷ XX cho rằng: “Quản trị là một tiễn trình bao gốm việc hoạch định, tổ chức, quản tri con người va kiểm tra các hoạt động trong một đơn vị một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu của đơn vị đó”.14] Từ hai khái niệm trên, tác giả Trịnh Thị Chinh cũng đã đưa ra nhận định khái quát: “Quản trị là một phương pháp, một tiễn trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, 12 điều khiển, kiém tra và đánh giá các hoạt động của một hay nhiễu người nhằm hoàn thành mục tiêu và kết quả mong đợi” [5, tr.14] Sau khi tham khảo qua một số định nghĩa về quản tri, có thể rút ra một định nghĩa riêng được sử dụng trong luận văn này: “Quản trị là quá trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo, kiểm soát những hoạt động trong một đơn vị, tổ chức một cách có hệ thống nhằm hoàn thành mục tiêu và kết quả mong đợi của đơn vị, tổ chức đó ” Như vậy, khi đặt trong sự so sánh đơn giản, có thé nhận thấy quản trị có quy mô và tính chất rộng lớn hơn quản lý. Quản lý thể hiện sự trông nom, chịu trách nhiệm trước một công việc, một nhiệm vụ cụ thé trong khi quan tri lại có trách nhiệm dự báo, lập kế hoạch, và triển khai thực hiện một nhiệm vụ trước khi kiêm soát, giải quyết các van dé phát sinh khi thực hiện và đánh giá hiệu quả của nhiệm vụ đó. Các chương trình truyền hình xã hội hóa hiện nay là sản phâm truyền hình được sản xuất bởi sự liên kết giữa đài truyền hình và các đơn vị, tô chức, cá nhân ngoài ngành thường được biết đến một cách phô biến là các công ty truyền thông. Khi tham gia vào hoạt động liên kết này, đài truyền hình không chỉ “#ồng nom” quá trình sản xuất và “chiu trách nhiệm ” kiểm tra sản phẩm mà dai truyền hình cần tham gia với một vai trò to lớn, linh hoạt và quan trọng hon là quản tri các quy trình sản xuất.
Theo đó, đài truyền hình sẽ thực hiện các chức năng cơ bản của quản trị trong dự báo, hoạch định, định hướng các mục tiêu kế hoạch cần thực hiện; tổ chức, quản lý, giám sát quy trình sản xuất; lãnh đạo giải quyết các vấn đề phát sinh và kiểm tra, đánh giá thành phẩm của các chương trình liên kết thông qua quá trình làm việc, trao đổi, bàn bạc cùng các công ty truyền thông.Từ đó đi đến sự đồng thuận, thống nhất chung nhằm đảm bảo hoàn thành có hiệu quả quy trình sản xuất đã đề ra. Tất cả các chương trình truyền hình xã hội hoá khi lên sóng truyền hình đều là những chương trình chất lượng, hội đủ tiêu chí về nội dung, tư tưởng, hình thức.đáp ứng những yêu cầu khắt khe về nhiều mặt đối với các sản phẩm truyền hình theo quy định của Đảng và Nhà nước. Quy trình sản xuất Theo từ điển tiếng Việt, quy trình “Ja trinh tự phải tuân theo dé tiến hành một công việc nào đó” [29,tr. Con sản xuất là “hoạt động tạo ra vật phẩm cho xã hội bằng cách dùng tw liệu lao động tác động lên đối tượng lao động” [29,tr.
Như vậy có thé hiểu quy trình sản xuất là trình tự các bước tiễn hành có tính chất bắt buộc theo một trình tự nhất định, can phải trải qua dé làm ra một sản phẩm nào đó. O mỗi quy trình sản xuất, người ta phải quan tâm và xác định rõ ràng các yêu tố: nguyên liệu đầu vào là những gì? ở trạng thái như thế nào? Quy trình sản xuất gồm những công đoạn nào? Theo trình tự ra sao? Làm gì và làm như thế nào tại mỗi công đoạn? Thành phẩm của quá trình sản xuất ấy là gì? Mức độ đạt được thế nào? Từ quan niệm về quy trình như trên, đối với quy trình sản xuất chương trình truyền hình được hiểu là: các công đoạn thao tác, xử lý chuyên môn, nghiệp vụ bắt buộc dé sản xuất ra một chương trình truyền hình (như chương trình thời sự, chuyên mục, giải trí, phim truyện.) bắt đầu từ khâu sáng tạo tác phẩm cho đến khi sản phẩm được công chúng tiếp nhận, thưởng thức.theo một trình tự các bước nhất định. Do các chương trình truyền hình luôn phong phú, đa dạng về thê loại nên quy trình sản xuất sản phẩm được đưa ra là khác nhau dé phù hợp với đặc trưng của từng thể loại. Xã hội hóa truyền hình Thuật ngữ “Xã hội hóa” xuất hiện vào những năm đầu của thế kỷ XX.
Từ đó đến nay, thuật ngữ này được dùng trong nhiều lĩnh vực với nhiều ý nghĩa và cách hiểu không hoàn toàn giống nhau. Macionis John: “Xã hội hóa là một khái niệm của nhân loại học và xã hội học được định nghĩa là một qua trình tương tác xã hội kéo dai suốt đời qua đó cá nhân phát triển khả năng con người và học hỏi các mẫu văn hóa của mình” [26,tr. Day là quan điểm, khái niệm được đưa ra từ cách phân tích quá trình vận động, biến đôi nhận thức, hành động của con người. Tuy đã đề cập được đặc 14 điểm của xã hội hoá nhưng khái niệm nay chưa xác định được nội hàm trọng tâm của thuật ngữ xã hội hoá.
Theo từ điển tiếng Anh: “socialize: act in a sociable manner” với nghĩa “làm một việc gì đó theo cách hoà đồng, hoà mình vào cách chung của xã hội” hay “make social”: làm thành của chung của tập thể, hoặc “organize on socialistic principles” tổ chức theo cách chung của xã hội [34,tr1036]. Còn theo từ điển tiếng Việt, “xã hội hoá” là: “Làm cho trở thành của chung của xã hội ” [29. Dù mỗi dân tộc về mặt ngôn ngữ có định nghĩa khác nhau về cụm từ “xã hội hoá” nhưng nhìn chung có sự tiệm cận ở việc cho rằng: xã hội hoá đó là biến một hoạt động hay một sự vật nào đó thành của chung, mang tính quần chúng rộng rãi. Ở nước ta, cụn từ xã hội hoá xuất hiện vào khoảng cuối thập niên 90 của thế kỷ trước và trở thành một thuật ngữ được sử dụng rộng rãi, phô biến và được hiểu là huy động các nguồn lực của cả xã hội vào một lĩnh vực, một hoạt động nào đó mà trước kia chỉ có đơn vị nhà nước tham gia, thực hiện trên cơ sở các quy định, các quy chuẩn theo yêu cầu của nhà nước.
Khi nghiên cứu về “Vấn đề xã hội hóa sản xuất chương trình truyền hình ở Việt Nam hiện nay”, tác giả Định Thị Xuân Hòa quan niệm: “Xã hội hóa quá trình huy động mọi nguôn lực của xã hội vào một hay nhiễu lĩnh vực hoạt động nào đó, mà trước đây do một tổ chức có chức năng quản lý và thực hiện nhằm đem lại lợi ích cho cộng đồng ” 113, tr. Có thé nói đây là quan niệm có nội dung được xem là gần gũi với cách hiểu phổ biến về “xa hội hóa” hiện nay và cũng là cơ sở cho quá trình nghiên cứu về vấn đề xã hội hóa của luận văn này. Với cách hiểu trên, xã hội hóa truyền hình thực chat là “sự ham gia vào quá trình sản xuất chương trình từ bên ngoài ngành truyền hình”. Nếu như trước kia, các chương trình truyền hình lên sóng đều là những sản phẩm của cán bộ, viên chức thuộc đài truyền hình, được tô chức sản xuất băng vốn, thiết bị kỹ thuật và các điều kiện khác của chính đài truyền hình đó thì hiện nay, các đơn vị “bên ngoài ngành truyền hình” gồm các công ty truyền thông tư nhân, các đơn vị cung ứng thiết bị, kỹ 15 thuật.đều có thé tham gia từ một phần đến toàn phan trong quy trình sản xuất, tạo ra các sản phâm phát sóng, các chương trình truyền hình đặt dưới sự quản trị một phần hoặc toàn phần của các đài truyền hình.
Tại Liên hoan truyền hình toàn quốc lần thứ 25 (Nha Trang - Khánh Hòa), Ông Trần Đăng Tuấn - Phó Tổng giám đốc thường trực Đài truyền hình Việt Nam khẳng định: “Bản chất của xã hội hoá không phải là vì tiền, mà là việc lôi kéo nhiễu đơn vi, tổ chức tham gia vào quá trình sản xuất chương trình, nhằm giảm tải cho nhà Đài cũng như tạo ra hiệu quả tốt nhất cho các chương trình truyền hình. Và nó sé thu hút được sự quan tâm và ung hộ cua công chung”. Mang nội hàm đó, khái niệm xã hội hóa truyền hình đã hàm chứa trong nó cả mục tiêu xây dựng một nền truyền hình hiện đại nhờ phát huy tối đa các nguồn lực của xã hội. Đây cũng là con đường để việc sản xuất các chương trình truyền hình đi theo hướng chuyên môn hóa, chất lượng và năng suất cao hơn.
Chương trình truyền hình xã hội hóa Theo GS.