Chương 1: Một số van đề lý luận - thực tiễn về phát triển nội dung số trong lĩnh vực truyền hình Chương 2: Thực trạng phát triển nội dung số của Đài Phát thanh truyền hình Vinh Long Chương 3: Van dé đặt ra và một số giải pháp, khuyến nghị nhằm phát triển hiệu quả nội dung số ở Đài PTTH Vĩnh Long Nội dung của luận văn sẽ được trình bày theo các chương nói trên 15 CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VÀ THỰC TIEN VE PHÁT TRIEN NOI DUNG SO TRONG LINH VUC TRUYEN HINH 1. Các khái niệm liên quan đến đề tài 1. Nội dung số Nội dung số là khái niệm được nhắc đến nhiều trong thời đại bùng nỗ thông tin hiện nay. Tuy nhiên, hiện chưa có một định nghĩa thống nhất về khái niệm này.
Theo Từ điển tiếng Việt, “nội dung” là mặt bên trong của sự vật, cái được hình thức chứa đựng hoặc biểu hiện [29, tr. Còn “số hóa” nghĩa là chuyền cách biểu diễn tín hiệu (âm thanh, hình ảnh, xung điện.) sang dạng số [29, tr. Như vậy có thé hiểu, nội dung số là nội dung tồn tại dưới dạng dit liệu số mà người dùng có thé đọc, nghe, xem và tải về được bang thiết bị điện tử Theo Liên minh viễn thông thế giới (ITU), khái niệm nội dung số hiện nay rat rong lon, bao gom tat cả các hình thức text (chữ), đồ họa, hình ảnh, nhạc, video, streamlive và thực tế ảo, thực tế tăng cường và tất cả nội dung này được phân phối bởi tất cả người dùng Internet cũng như các tổ chức, doanh nghiệp. Khái niệm về nội dung số cũng được trình bày trong một số văn bản quy phạm pháp luật được ban hành trong thời gian qua.
Khoản 11, điều 3 Nghị định 71/2007/NĐ-CP quy định sản phẩm nội dung số là “sản phâm nội dung, thông tin bao gồm văn bản, dữ liệu, hình ảnh, âm thanh được thé hiện dưới dạng số, được lưu giữ, truyền đưa trên môi trường mạng”. [25] Sau khi tham khảo qua một số định nghĩa về nội dung số, có thê rút ra một định nghĩa riêng được sử dụng trong luận văn này. “Nội dung số” trong lĩnh vực truyền hình là tat cả những sản phẩm như video, âm thanh, hình ảnh 16 được truyền tải và lưu trữ trong môi trường internet. Khi tham gia vào lĩnh vực nội dung số, các đài truyền hình, sau khi đã phat sóng những sản pham của mình trên các kênh sóng thì còn phân phối chúng sang môi trường internet với đối tượng khán giả và cách thức tiếp cận khác hăn so với truyền hình truyền thống.
Công nghiệp nội dung số Xét về lý luận và thực tiễn, việc triển khai sản xuất, cung cấp và kinh doanh các dịch vụ nội dung số ở mức chuyên sâu và đạt được quy mô lớn sẽ hình thành nên ngành công nghiệp nội dung số. Tại hội thảo "WTO - cơ hội và thách thức cho công nghiệp, công nghệ thông tin — truyền thông Việt Nam” năm 2007, Bộ Thông tin và Truyền thông cho rằng: “Công nghiệp nội dung số (CNNDS) là ngành giao thoa giữa 3 nhóm ngành: công nghệ thông tin (CNTT), viễn thông và ngành sản xuất nội dung. Công nghiệp nội dung số là ngành thiết kế, sản xuất, xuất bản, lưu trữ, phân phối, phát hành các sản phẩm nội dung số và dịch vụ liên quan. Nó bao gồm nhiều lĩnh vực như: tra cứu thông tin, đữ liệu số, giải trí số, nội dung giáo dục trực tuyến, học tập điện tử, thư viện và bảo tàng SỐ, phát triển nội dung cho mạng di động, giải trí số (trò chơi trực tuyến, trò chơi tương tác), thương mại điện tử.
Phát thanh và nội dung số về phát thanh * Khái niệm phát thanh Phát thanh là loại hình báo chí sử dụng kỹ thuật sóng điện từ và hệ thống truyền thanh, truyền đi âm thanh, trực tiếp tác động vào thính giác của đối tượng tiếp nhận [29, tr.75] Theo Từ điển Tiếng Việt, phát thanh là phát và truyền đi âm thanh bằng song vô tuyên điện [29, tr987] 17 Phát thanh sử dụng phương tiện chuyên tải thông tin duy nhất là âm thanh tổng hợp gồm lời nói, tiếng động, âm nhạc, tác động trực tiếp vào thính giác đối tượng tiếp nhận. Có thể mô hình hóa phương thức tác động của báo phát thanh: Se M ‹.C€C c R c E và E =S Đây là mô hình truyền thông chung nhất. Trong lĩnh vực phát thanh, có thê diễn giải ngăn gọn quy trình này như sau: Thông qua kênh phát thanh (C: Chanel), một thông điệp (M: message) sẽ được chuyền tải từ nguồn phát (S: Source) đến người nghe (R: Receiver). Thông điệp sẽ có tác động (E: Effect) đến người tiếp nhận và họ có thé phản hồi, tác động trở lại đối với nguồn phát.
Trong bối cảnh hiện đại ngày nay, phát thanh không chỉ phát sóng bằng kỹ thuật sóng điện từ, mà còn phát sóng qua vệ tinh, phát trên mạng Internet. Trong tương quan so sánh với cách thức thông tin của các loại hình báo chí khác như báo in, truyền hình, báo mạng, phát thanh có những đặc thù nồi bật là chỉ tiếp nhận bằng thính giác. Thính giả có thể vừa làm việc, vừa nghe đài. Bằng phương thức sử dung âm thanh tổng hợp dé đưa thông tin trực tiếp tới tai người nghe, phát thanh có khả năng kích thích trí tưởng tượng vĩ đại của thính giả.
Nhưng phương thức tiếp nhận lời nói bằng thính giác cũng vấp phải những hạn chế nhất định. Trước hết là tính thoảng qua của thông tin. Cũng vì tính thoảng qua, nên mật độ thông tin đọng lại trong tâm trí người nghe không nhiều. Theo điều tra của Đài Phát thanh Mat-xco-va: Nếu nói 1-3 phút, người nghe tiếp nhận 100% lượng thông tin; từ 4-5 phút: 80%, và từ 6-8 phút: chỉ còn 60% [7, tr.Thứ hai, dòng tin phát thanh dễ bị đứt đoạn, gãy khúc do người nghe dé bị xao nhãng.
Thứ ba, thính giả chỉ có thé tiếp nhận được thông tin với cách nói và tôc độ nói phù hợp. Nêu nhà báo nói quá 18 nhanh hay quá chậm, nếu cách nói không truyền cảm, lôi cuốn, nếu từ ngữ sử dụng không đúng, không hay, thì tai thính giả sẽ “đóng” lại. * Nội dung số về phát thanh Khi xu hướng số hóa phát triển mạnh, các đài phát thanh hiện nay cũng đã và đang chuyền đổi sang công nghệ số và coi đó là xu hướng tất yếu từ khâu thu thập thông tin đến khâu sản xuất chương trình, truyền âm, khống chế, lưu trữ âm thanh, truyền dẫn và phát sóng. giúp nâng cao hiệu quả lao động, chất lượng công việc va chất lượng phục vụ.
Khi Internet và mạng xã hội phát triển, phát thanh đã phát huy những lợi thế để thực hiện những phương thức phát sóng trực tuyến, on-demand, podcast, livestream. tạo ra những “đài phát thanh không cần ăng-ten”, đáp ứng nhu cầu nghe theo yêu cầu, nghe bất cứ lúc nào, nghe bất cứ cái gì và có thê “nhìn” thấy phát thanh. Các đài phát thanh cũng đã tạo ứng dụng (APP) trên điện thoại thông minh để công chúng chỉ một cái “click” có thé nghe được chương trình của các đài phát thanh. không giới hạn về địa lý, thời gian, văn hóa hay ngôn ngữ.
Xu hướng này sẽ còn một thời gian nữa mới có thé bùng nỗ trên thế giới và sẽ tập trung trước tiên ở các thị trường báo chí phát triển vốn đã có nên tảng hạ tầng công nghệ tốt, nhưng phát thanh truyền thống bắt buộc phải hướng đến công nghệ số, áp dụng công nghệ số dé mở rộng diện phủ sóng, thu hút thêm các thành phần thính giả trẻ vốn gắn chặt với thiết bị công nghệ, tăng chất lượng phục vụ cộng đồng và giảm chi phí hoạt động. Phát thanh không chỉ còn giới hạn trong việc nghe đài trên các làn sóng FM mà còn phải là tương tác trên web và trên mạng xã hội. Việc phát triển theo xu hướng này cũng đòi hỏi phải được thực hiện theo hướng đa nền tang, trong đó nền tảng di động là ưu tiên bởi trong năm 2016, các nền tảng di động (điện thoại thông minh, máy tinh bảng) chính thức vượt qua máy vi tính dé bàn dé trở thành 19 công cụ truy cập internetlớn nhất của người dùng internettoàn cầu (51,3% truy cập internetqua điện thoại thông minh va máy tính bang và 48,7% qua máy tinh dé bàn). Truyền hình và nội dung số về truyén hình * Khái niệm truyền hình Thuật ngữ truyền hình (Television) có nguồn gốc từ tiếng Latinh và tiếng Hy Lạp.
Theo tiếng Hy Lạp, từ “Tele” có nghĩa là "ở xa" còn “videre” là "thay được", còn tiếng Latinh có nghĩa là xem được từ xa. Ghép hai từ đó lại “Televidere” có nghĩa là xem được ở xa. Tiếng Anh là “Television”, tiếng Pháp là “Television”, tiếng Nga gọi là “Teneswenwe”. Như vậy, dù có phát triển bất cứ ở đâu, ở quốc gia nào thì tên gọi truyền hình cũng có chung một nghĩa.
Theo Từ điển Tiếng Việt, truyền hình là truyền hình ảnh, thường có cả âm thanh đi xa [29, tr 1346] Xét theo góc độ kỹ thuật truyền tải thì truyền hình là quá trình biến đổi từ năng lượng ánh sáng tác động qua ống kính máy thu hình thành năng lượng điện, nguồn tín hiệu điện được phát sóng truyền đến máy thu hình và lại biến đổi thành năng lượng ánh sáng tác động vào thị giác, người xem vì vậy mà thu nhận được hình ảnh. Xét về mặt nội dung, truyền hình là loại hình truyền thông mà thông điệp được truyền trong không gian tích hợp cả hình ảnh và âm thanh tạo cho người xem cảm giác sống động của hiện thực cuộc sống. Với hình ảnh chân thực và âm thanh sống động, truyền hình là một phương tiện truyền thông đại chúng chiếm ưu thế tuyệt đối trong thế kỷ XX. Trên thế giới, hình ảnh gia đình gồm cha mẹ, con cái cùng nhau tụ tập quanh chiếc tivi để cùng xem truyền hình trở nên khá quen thuộc, được tái hiện trong nhiều ấn phẩm quảng bá về truyền hình.
Truyền hình cuối thế kỷ XX đã 20 giữ vai trò quan trọng trong việc phục vụ nhu cầu thông tin, giải trí, nâng cao văn hóa, trải nghiệm thế giới của đại chúng và được xem là vị thống soái của các phương tiện truyền thông. Nội dung số của truyền hình Theo tác giả cuốn Truyền hình hiện đại — Những lát cắt 2015-2016, Truyền hình số là việc truyền dẫn âm thanh và hình ảnh được phát bằng những tín hiệu đã được mã hóa, đối lập hoàn toàn với truyền hình analog. Trong khi truyền hình analog được truyền tín hiệu qua dây cáp hoặc ăng ten thì muốn xem truyền hình số, khán giả phải có bộ giải mã riêng.