Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Trước sự cạnh tranh thông tin từ truyền hình và mạng Internet, báo phát thanh tại Việt Nam phải tìm kiếm các phương thức biểu đạt mới nhằm duy trì và thu hút công chúng thính giả. Công nghệ phát thanh trực tiếp (PTTT) được các cơ quan báo nói từ trung ương đến địa phương ứng dụng nhằm phát huy lợi thế truyền tải thông tin đồng thời với sự kiện và tăng cường tính tương tác hai chiều. Tại thành phố Đà Nẵng, tình hình lây nhiễm HIV/AIDS có nhiều diễn biến phức tạp: từ ca nhiễm đầu tiên phát hiện vào tháng 4 năm 1993, tính đến tháng 10 năm 2007 toàn thành phố đã ghi nhận 929 người nhiễm HIV (trong đó 389 người chuyển sang giai đoạn AIDS và 265 người đã tử vong), dịch lan rộng ra 54/56 xã, phường và độ tuổi trung bình của người nhiễm mới có xu hướng trẻ hóa từ 40–49 tuổi xuống còn 26 tuổi.

Trong bối cảnh đó, chương trình phát thanh trực tiếp "60 phút - Bạn và tôi" được triển khai tại Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng (DRT). Đây là hoạt động nằm trong khuôn khổ dự án "Phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên" do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Trung ương Đoàn tài trợ, Tổng cục Dân số/Kế hoạch hoá gia đình (Bộ Y tế) phối hợp thực hiện tại 14 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Tại Đài DRT, đây là chương trình phát thanh trực tiếp duy nhất được duy trì sản xuất tính đến thời điểm tác giả thực hiện khóa luận.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài được tác giả xác định cụ thể như sau:

  1. Kiểm nghiệm trên thực tế các kiến thức lý luận về báo phát thanh đã được đào tạo trong nhà trường.
  2. Khẳng định các đặc tính cơ bản của công nghệ sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp.
  3. Khảo sát, phân tích thực trạng tổ chức sản xuất chương trình "60 phút - Bạn và tôi" tại Đài DRT nhằm rút ra các kết quả đạt được và những hạn chế còn tồn tại.
  4. Đề xuất các giải pháp thực tế nhằm nâng cao chất lượng chương trình cả về nội dung thông tin và hình thức thể hiện.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là nội dung và hình thức thể hiện của chương trình phát thanh trực tiếp "60 phút - Bạn và tôi" trên sóng của Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng. Phạm vi không gian nghiên cứu tập trung tại Đài DRT và địa bàn tiếp sóng thành phố Đà Nẵng; phạm vi thời gian nghiên cứu giới hạn khảo sát các chương trình được phát sóng trong năm 2011 (từ tháng 1 năm 2011 đến tháng 7 năm 2011).

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, tác giả hệ thống hóa các định nghĩa và đặc trưng của phát thanh trực tiếp dựa trên các tài liệu chuyên ngành:

  • Giáo trình Phát thanh trực tiếp do GS.TS. Vũ Văn Hiền và TS. Đức Dũng chủ biên (NXB Lý luận chính trị, 2007).
  • Giáo trình Báo phát thanh của Phân viện Báo chí và Tuyên truyền phối hợp Đài Tiếng nói Việt Nam (NXB Văn hóa – Thông tin, 2003).
  • Tài liệu Báo chí – Những vấn đề lý luận và thực tiễn (NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005).
  • Tài liệu tập huấn nghiệp vụ Cẩm nang đào tạo – 2000 do Đài Tiếng nói Việt Nam phát hành với sự hỗ trợ của hai chuyên gia Thụy Điển thuộc tổ chức SIDA (Leif Eriksson và Peder Gustafsson - Bouvin).
  • Định nghĩa thuật ngữ "trực tiếp" và "trực tuyến" theo Từ điển tiếng Việt năm 2008 của Trung tâm Từ điển học Vietlex (NXB Đà Nẵng).

Trên cơ sở kế thừa các quan điểm học thuật, tác giả tổng hợp khái niệm phát thanh trực tiếp qua công thức: Phát thanh trực tiếp bằng chương trình phát thanh cộng thời điểm hỏi - đáp trực tiếp và các phương tiện kỹ thuật kết nối qua sóng điện thoại. Tác giả nhấn mạnh bốn đặc điểm cốt lõi của loại hình này: thông tin phát đi đồng thời với diễn biến sự kiện; thông tin mang tính hai chiều với sự tham gia trực tiếp của thính giả vào quy trình sản xuất; độ tin cậy và tính khách quan cao; quy trình sản xuất đòi hỏi sự phối hợp đồng bộ của cả êkíp làm việc. Khóa luận cũng tổng quan các xu hướng kỹ thuật phát thanh hiện đại như phát thanh số DAB (với các tiêu chuẩn Eureka-147, IBOC, Worldspace, DRM) và phát thanh qua mạng Internet (Webcasting).

Phương pháp nghiên cứu được tác giả chia làm hai nhóm chính:

  • Nhóm phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Thu thập, đọc, tra cứu và tổng hợp tài liệu lý luận báo chí, nghiệp vụ phát thanh trực tiếp từ sách giáo trình, chuyên đề chuyên ngành và tài liệu mạng Internet.
  • Nhóm phương pháp khảo sát thực tiễn: Thống kê văn bản kịch bản, nghe lại các băng ghi âm âm thanh lưu trữ của chương trình, phỏng vấn sâu có ghi âm đối với các nhà báo, biên tập viên, kỹ thuật viên trực tiếp tham gia sản xuất tại Đài DRT; tổng hợp báo cáo chuyên môn của đài; kết hợp trải nghiệm trực tiếp với tư cách thính giả theo dõi chương trình.

Nguồn dữ liệu thực nghiệm bao gồm: 26 số chương trình phát thanh phát sóng trong năm 2011 được lưu trữ tại Đài DRT; số liệu dịch tễ HIV/AIDS tại Đà Nẵng giai đoạn 1993–2007; số liệu điều tra ý kiến của gần 100 phóng viên tại Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ IX (năm 2010); tài liệu quy hoạch phát triển kỹ thuật và công tác truyền thông của Đài DRT.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề về phát thanh và phát thanh trực tiếp

Chương 1 khái quát tiến trình lịch sử phát thanh thế giới từ các phát minh kỹ thuật truyền dẫn tín hiệu không dây của Alexander Graham Bell (1875), Rudolf Hertz (1887), Alexander Popov (1895), Guglielmo Marconi đến van ba cực (triode) của Lee De Forest (1906). Tác giả phân tích sự chuyển dịch từ phát thanh sóng analog truyền thống (AM, FM) sang công nghệ phát thanh số DAB và phát thanh Internet (Webcasting, dẫn chứng Đài Tiếng nói Việt Nam đưa chương trình lên mạng từ tháng 10 năm 1999).

Đối với loại hình phát thanh trực tiếp, chương 1 chỉ rõ thực trạng nhận thức tại các cơ quan báo chí địa phương thông qua số liệu điều tra tại Liên hoan Phát thanh toàn quốc lần thứ IX (2010): trong gần 100 phiếu điều tra, có 45% người làm báo cho rằng phát thanh trực tiếp đơn thuần là bỏ qua khâu thu thanh trước, và 10% nhận định toàn bộ nội dung phát sóng phải làm trực tiếp. Tác giả khẳng định phát thanh trực tiếp là công nghệ sản xuất đồng thời với phát sóng, cho phép xen kẽ các sản phẩm đóng gói trước (phóng sự ngắn, băng tư liệu, âm nhạc) nhưng hạt nhân thông tin chi phối phải diễn ra trực tiếp tại hiện trường hoặc phòng thu.

Về địa bàn khảo sát, tác giả trình bày lịch sử Đài PT–TH Đà Nẵng (tiền thân thành lập ngày 31/3/1975). Đến thời điểm khảo sát, đài phát sóng bình quân 710 phút/ngày, chương trình thời sự - tuyên truyền chiếm 30% thời lượng. Cơ sở hạ tầng kỹ thuật phát thanh bao gồm máy phát sóng FM công suất 5KW đặt tại núi Sơn Trà; đài chính thức chuyển đổi tần số phát sóng FM từ 106 MHz sang 96,3 MHz từ ngày 25/3/2010. Hệ thống truyền thanh cơ sở phủ sóng 50/56 xã, phường với 951 bộ thu sóng FM và 1.903 cụm loa công suất 25W.

Chương này cũng làm rõ sự hình thành chương trình "60 phút - Bạn và tôi" hướng đến hơn 262.000 thanh niên độ tuổi 16–24 trên địa bàn thành phố (với 13 trường cao đẳng, 6 trường đại học, 21 trường trung học phổ thông). Đồng hồ phát sóng định dạng 60 phút được phân bổ cụ thể:

Phân đoạn nội dung Thời lượng Tỷ lệ thời gian Hình thức thể hiện
Đàm thoại và kết nối trực tiếp 35 phút 60% – 70% Giao lưu, giải đáp trực tiếp với thính giả qua điện thoại
Phóng sự đề dẫn, âm nhạc bổ trợ 25 phút 20% – 25% Phát các bài hát theo yêu cầu, phát phóng sự ngắn dựng sẵn, phỏng vấn hiện trường
Tin tức, thông điệp truyền thông, đố vui 5 phút 7% – 10% Cập nhật thông tin dự án, phát thông điệp phòng chống HIV/AIDS, câu hỏi có thưởng

Cơ cấu nhân sự sản xuất chương trình gồm: Ban chỉ đạo chung (Giám đốc đài Phương Hồng), Phụ trách sản xuất (Trưởng Ban Chuyên đề Nguyễn Minh Ánh), Đạo diễn chính (Lê Hoa Chi), Trợ lý chương trình (Nguyễn Thị Thu Phương), Kỹ thuật viên âm thanh (Nguyễn Thị Quang, Đỗ Thị Kim Yến) cùng nhóm người dẫn chương trình gồm 4 nhân sự chính (Nguyễn Ngọc Khoa Nhi, Lê Thị Bích Liên, Châu Quang Thắng, Diễm Hương). Khách mời tham gia chương trình được phân loại thành 3 nhóm: thanh niên có trải nghiệm thực tế tương đồng với chủ đề, nhân vật thanh niên điển hình/nghệ sĩ nổi tiếng, và chuyên gia tư vấn y tế - tâm lý (nhóm chuyên gia được bố trí xuất hiện định kỳ 10 lần trong tổng số 125 số phát sóng).

Chương 2: Thực trạng chương trình phát thanh trực tiếp “60 phút - Bạn và tôi” của Đài Phát thanh truyền hình Đà Nẵng

Chương 2 đánh giá thực trạng phát sóng chương trình thông qua bảng thống kê chi tiết 26 chủ đề được thực hiện trong 6 tháng đầu năm 2011 (từ ngày 02/01/2011 đến ngày 03/07/2011).

STT Ngày phát sóng Tên chủ đề Trọng tâm nội dung trao đổi
1 02/01/2011 Một năm nhìn lại 60 phút bạn và tôi Tổng kết hoạt động phát sóng, ghi nhận ý kiến và cảm xúc của thính giả
2 09/01/2011 Ứng xử trong tình yêu Quan niệm của giới trẻ về tình yêu bền vững và cách ứng xử văn minh
3 16/01/2011 Kết hôn với người nước ngoài Các khía cạnh thực tế và điều kiện bảo đảm hạnh phúc hôn nhân xuyên biên giới
4 23/01/2011 Dự định của bạn trong năm mới Kế hoạch học tập, công việc của thanh niên trong năm mới
5 30/01/2011 Tặng quà ngày Tết Ý nghĩa văn hóa và ứng xử xã hội của việc tặng quà dịp Tết
6 06/02/2011 Phong tục ngày Tết Giữ gìn và nhìn nhận các phong tục cổ truyền trong đời sống hiện đại
7 13/02/2011 Tình yêu tiến tới hôn nhân Sự khác biệt tâm lý giữa nam và nữ khi chuyển từ tình yêu sang đời sống gia đình
8 20/02/2011 Thủy chung Giá trị của sự thủy chung trong các mối quan hệ tình cảm
9 27/02/2011 Thói quen xấu có hại đến sức khỏe Nhận diện thói quen tiêu cực của giới trẻ và các biện pháp từ bỏ
10 06/03/2011 Bạn gái thời nay Hình mẫu nữ thanh niên hiện đại và góc nhìn của nam giới
11 13/03/2011 Lời cảm ơn Văn hóa ứng xử, cách thức và thời điểm biểu đạt lời cảm ơn
12 20/03/2011 Thanh niên với ước mơ và hành động Trách nhiệm cống hiến nhân Tháng Thanh niên và 80 năm ngày thành lập Đoàn
13 27/03/2011 Giờ Trái Đất Ý thức bảo vệ môi trường và hành động hưởng ứng sự kiện Giờ Trái Đất
14 03/04/2011 Những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao Nhận diện nhóm đối tượng nguy cơ cao và biện pháp giảm thiểu rủi ro lây truyền
15 10/04/2011 Nhớ về đất tổ Giáo dục truyền thống cội nguồn nhân dịp Giỗ Tổ Hùng Vương
16 17/04/2011 Niềm tin và nghị lực Rèn luyện ý chí vượt qua các khó khăn, biến cố trong cuộc sống
17 01/05/2011 Hướng nghiệp Tư vấn lựa chọn ngành nghề phù hợp năng lực và nhu cầu xã hội
18 08/05/2011 Âm nhạc và cuộc sống Tác động của âm nhạc đối với đời sống tinh thần của thanh niên
19 15/05/2011 Lưu bút Kỷ niệm học đường và tình cảm tuổi học trò cuối cấp
20 22/05/2011 Bạn trẻ với trách nhiệm công dân Nhận thức quyền và nghĩa vụ công dân của người trẻ
21 29/05/2011 Mùa thi Chia sẻ áp lực thi cử và kinh nghiệm ôn tập vượt qua các kỳ thi
22 05/06/2011 Bạn trẻ với cuộc sống hiện đại Xử lý thông tin mạng Internet và lối sống của sinh viên
23 12/06/2011 Tuổi dậy thì và vấn đề tình dục Kiến thức sức khỏe sinh sản, an toàn tình dục vị thành niên
24 19/06/2011 Ma túy và con đường lây nhiễm Mối liên hệ giữa tiêm chích ma túy và nguy cơ lây truyền HIV
25 26/06/2011 Vai trò gia đình Vị trí của gia đình đối với sự hình thành nhân cách của người trẻ
26 03/07/2011 60 phút bạn và tôi Số phát sóng khép lại chuỗi chương trình, tổng kết các thông điệp

Tác giả phân tích nội dung chương trình cho thấy trong 26 chủ đề năm 2011, có 2 chủ đề trực tiếp tập trung vào chuyên môn y tế phòng chống HIV/AIDS (chủ đề 14 và chủ đề 24); các chủ đề còn lại mở rộng sang các mảng kỹ năng sống, tình yêu, gia đình, mùa thi và lối sống văn hóa. Sự đan xen này giúp diễn đàn không bị khô cứng, tạo điều kiện để thanh niên tiếp cận các vấn đề nhạy cảm một cách tự nhiên.

Về hình thức thể hiện, chương trình thiết lập được kênh tương tác trực tiếp qua đường dây điện thoại nóng. Tác giả trích dẫn các đoạn ghi âm đối thoại thực tế để chứng minh tính chất tâm tình của diễn đàn:

  • Chương trình ngày 05/06/2011 (chủ đề "Bạn trẻ với cuộc sống hiện đại"): Bác sĩ Trần Thanh Thủy (Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS thành phố Đà Nẵng) trực tiếp đối thoại với thính giả tên Phúc (gọi điện từ TP. Hồ Chí Minh), giải đáp các tiêu chí sàng lọc thông tin chính thống từ Internet và các tổ chức đoàn thể để xây dựng giá trị sống lành mạnh.
  • Chương trình ngày 20/03/2011 (chủ đề "Thanh niên với ước mơ và hành động"): Người dẫn chương trình Diễm Hương trao đổi với sinh viên Tấn Tài (Đại học Y Dược Huế) về trách nhiệm xã hội của thanh niên nhân kỷ niệm 80 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.
  • Chương trình ngày 09/01/2011 (chủ đề "Ứng xử trong tình yêu"): Thính giả nữ tên Hoa (TP. Hồ Chí Minh) chia sẻ kinh nghiệm giữ gìn mối quan hệ tình cảm lứa đôi với hai MC Thúy Hà và Quang Thắng.
  • Chương trình ngày 02/01/2011 (chủ đề "Một năm nhìn lại"): Thính giả Quốc Thái (khu vực phía Nam) phản hồi về sự đồng cảm và sức lan tỏa của chương trình phát thanh Đà Nẵng đối với thính giả ngoài địa bàn.

Tác giả nhận định đội ngũ người dẫn chương trình đóng vai trò điều hành nhịp điệu buổi phát sóng, thực hiện chức năng như một "đạo diễn nội dung" tại chỗ: vừa biên tập, kết nối đường dây điện thoại, vừa phản biện và xử lý các tình huống lỗi kỹ thuật hoặc sự cố phát ngôn bất ngờ của người gọi đến.

Chương 3: Giải pháp tiếp tục nâng cao chất lượng Chương trình phát thanh trực tiếp ở Đài Phát thanh Truyền hình Đà Nẵng

Trên cơ sở đánh giá thực trạng, chương 3 đề xuất hệ thống giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình phát thanh trực tiếp tại Đài DRT:

  • Nhóm giải pháp về nội dung: Cần xây dựng kế hoạch chủ đề bám sát nhu cầu tâm lý lứa tuổi thanh thiếu niên; cân đối hợp lý tỷ lệ giữa các chủ đề kỹ năng sống tổng quát và các chủ đề chuyên sâu về phòng chống HIV/AIDS, sức khỏe sinh sản; đa dạng hóa góc nhìn tiếp cận sự kiện để tăng tính thuyết phục của thông điệp truyền thông.
  • Nhóm giải pháp về tổ chức sản xuất và nhân lực: Tổ chức tập huấn định kỳ kỹ năng phát thanh trực tiếp cho biên tập viên và kỹ thuật viên; nâng cao bản lĩnh chính trị, vốn tri thức văn hóa xã hội và khả năng ứng biến ngôn ngữ của người dẫn chương trình; xây dựng quy chế phối hợp đồng bộ giữa đạo diễn, tổ kỹ thuật đường dây và MC phòng thu để hạn chế tối đa các khoảng lặng (dead air) và lỗi âm thanh trên sóng.
  • Nhóm giải pháp về kỹ thuật và truyền thông liên kết: Nâng cấp thiết bị chuyển mạch tổng đài và hệ thống xử lý âm thanh điện thoại; bảo dưỡng máy phát sóng FM tại Sơn Trà bảo đảm độ phủ sóng ổn định; phối hợp chặt chẽ với các tổ chức tài trợ và dự án truyền thông (như BBC World Service Trust, Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS) nhằm duy trì nguồn chuyên gia tư vấn có thẩm quyền và kết nối chương trình phát thanh với các sản phẩm truyền thông khác.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp các số liệu định lượng về hoạt động của chương trình "60 phút - Bạn và tôi" tại Đài DRT:

  • Qua gần 3 năm phát sóng định kỳ (từ năm 2008 đến thời điểm kết thúc dự án vào tháng 7 năm 2011), chương trình đã thực hiện được 125 số phát sóng với tổng thời lượng đạt 8.700 phút.
  • Diễn đàn thu hút hơn 23.000 lượt thính giả tham gia đăng ký, gọi điện thoại kết nối, chia sẻ tâm sự và nhận tư vấn trực tiếp trên sóng.
  • Ghi nhận và phân tích chi tiết kết cấu của 26 số phát sóng năm 2011, phản ánh sự đa dạng về chủ đề xã hội và phân bổ thời lượng theo chuẩn đồng hồ phát thanh (đàm thoại trực tiếp chiếm tỷ trọng áp đảo 60%–70%).

Về giải pháp và kiến nghị, tác giả chỉ rõ các đài địa phương cần định vị chính xác bản chất của phát thanh trực tiếp, phân biệt rõ ràng giữa phát thanh trực tiếp thực sự với hình thức đọc bản tin trực tiếp hoặc phát lại các chương trình dàn dựng sẵn. Đối với công tác tổ chức, tác giả kiến nghị duy trì tỷ lệ tham gia cố định của chuyên gia tư vấn y tế (trong văn bản ghi nhận tần suất 10 lần trong 125 số) nhằm bảo đảm tính định hướng chuyên môn cho thanh niên.

Đóng góp của khóa luận thể hiện ở việc cung cấp một khảo sát trường hợp cụ thể về mô hình sản xuất chương trình phát thanh trực tiếp tại một đài địa phương khu vực miền Trung. Công trình bổ sung tư liệu thực tiễn cho môn học Báo phát thanh, làm sáng tỏ cách thức vận hành đồng hồ phát thanh (format clock) và vai trò điều phối của người dẫn chương trình trong thể loại phát thanh tương tác.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận tồn tại một số hạn chế do tác giả tự xác định:

  • Phạm vi khảo sát chi tiết bị giới hạn trong 26 số phát sóng của năm 2011 do điều kiện thời gian thực tập tốt nghiệp ngắn, chưa thể tiến hành thống kê toàn diện toàn bộ 125 số phát sóng trong suốt gần 3 năm vận hành của dự án.
  • Tác giả chưa thực hiện được các cuộc điều tra xã hội học quy mô rộng đối với công chúng nghe đài tại 14 tỉnh, thành phố cùng triển khai dự án, mà chủ yếu dựa vào nguồn băng âm thanh lưu trữ và các cuộc gọi của thính giả kết nối trực tiếp về Đài DRT.

Hướng nghiên cứu tiếp được gợi mở từ phạm vi đề tài là theo dõi sự chuyển dịch của các chương trình phát thanh tương tác tại Đài DRT sau khi dự án do ADB tài trợ kết thúc, đồng thời nghiên cứu khả năng tích hợp công nghệ phát thanh trực tiếp truyền thống với các nền tảng phát thanh số đa phương tiện và mạng xã hội.

Giá trị tham khảo

Báo cáo nghiên cứu của khóa luận mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho:

  • Sinh viên chuyên ngành Báo chí, Truyền thông đại chúng và Xã hội học khi nghiên cứu về nghiệp vụ báo phát thanh, thể loại phát thanh trực tiếp, hoặc các chiến dịch truyền thông y tế công cộng hướng đến đối tượng thanh thiếu niên.
  • Đội ngũ biên tập viên, phóng viên, người dẫn chương trình và kỹ thuật viên tại các Đài Phát thanh – Truyền hình địa phương trong việc tham khảo phương pháp xây dựng khung giờ phát thanh tương tác (format clock 60 phút) và kỹ thuật phân vai xử lý tình huống trong phòng thu trực tiếp.

Phần có giá trị tham khảo cao nhất trong văn bản là bảng thống kê phân loại 26 chủ đề năm 2011, hệ thống tiêu chí tuyển chọn người dẫn chương trình phát thanh trực tiếp, và các trích đoạn đối thoại mẫu thể hiện phương pháp giao tiếp thấu cảm giữa người làm chương trình và thính giả nghe đài.

Câu hỏi thường gặp

Chương trình "60 phút - Bạn và tôi" của Đài DRT được thành lập từ nguồn tài trợ nào và phát sóng trong khung giờ nào?
Chương trình ra đời từ dự án "Phòng chống HIV/AIDS cho thanh niên" do Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) và Trung ương Đoàn tài trợ, Tổng cục Dân số/Kế hoạch hoá gia đình (Bộ Y tế) triển khai tại 14 tỉnh, thành phố. Tại Đài DRT, chương trình được phát sóng trực tiếp từ 8 giờ đến 9 giờ sáng Chủ nhật hàng tuần trên sóng FM tần số 106 MHz (sau đó chuyển sang tần số 96,3 MHz từ ngày 25/3/2010).

Thời lượng 60 phút của chương trình được phân chia theo cơ cấu cụ thể như thế nào?
Đồng hồ chương trình 60 phút gồm: 35 phút dành cho các cuộc gọi điện thoại và trao đổi trực tiếp với thính giả (chiếm 60% – 70%); 25 phút dành cho phần giới thiệu, phát bài hát theo yêu cầu, phóng sự ngắn đề dẫn và phỏng vấn hiện trường (chiếm 20% – 25%); 5 phút dành cho việc cập nhật tin tức, phát thông điệp quảng cáo của dự án và đố vui có thưởng (chiếm 7% – 10%).

Êkíp trực tiếp tham gia sản xuất chương trình "60 phút - Bạn và tôi" tại Đài DRT gồm những vị trí nào?
Mỗi buổi phát sóng có sự tham gia của 1 đạo diễn chỉ đạo chung (Lê Hoa Chi), 1 người phụ trách kịch bản, 1 thư ký, 1 kỹ thuật viên âm thanh (Nguyễn Thị Quang hoặc Đỗ Thị Kim Yến), 2 nhân sự trực tiếp nhận điện thoại, và 2 người dẫn chương trình (được lựa chọn trong số 4 MC chính: Khoa Nhi, Bích Liên, Quang Thắng, Diễm Hương). Toàn bộ dự án do nguyên Giám đốc đài Phương Hồng phụ trách chung và Trưởng Ban Chuyên đề Nguyễn Minh Ánh phụ trách sản xuất.

Chuyên gia tư vấn xuất hiện với tần suất bao nhiêu trong suốt quá trình phát sóng?
Theo quy chế tổ chức sản xuất, các chuyên gia tư vấn (gồm 3 người cộng tác) không tham gia thường xuyên trong mọi số phát sóng, mà chỉ xuất hiện 10 lần trong tổng số 125 chương trình (trung bình định kỳ khoảng 12 số phát sóng sẽ có một buổi mời chuyên gia dự phòng thu để giải đáp thắc mắc chuyên sâu cho thính giả).

Trong năm 2011, chương trình đã triển khai bao nhiêu chủ đề và có những chủ đề nào đề cập trực tiếp đến lây nhiễm HIV/AIDS?
Trong 6 tháng đầu năm 2011, đài đã thực hiện 26 chủ đề phát sóng. Trong đó có 2 chủ đề tập trung trực tiếp vào nội dung chuyên môn phòng chống lây nhiễm HIV/AIDS là: chủ đề số 14 "Những người có nguy cơ lây nhiễm HIV cao" (phát sóng ngày 03/04/2011) và chủ đề số 24 "Ma túy và con đường lây nhiễm" (phát sóng ngày 19/06/2011).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Thương đã phản ánh chi tiết quy trình tổ chức và vận hành chương trình phát thanh trực tiếp "60 phút - Bạn và tôi" tại Đài Phát thanh – Truyền hình Đà Nẵng năm 2011. Công trình làm rõ các yêu cầu nghiệp vụ đặc thù của thể loại báo nói tương tác, từ việc cấu trúc đồng hồ phát thanh 60 phút, tổ chức êkíp phối hợp đa vị trí đến vai trò điều phối sóng trực tiếp của người dẫn chương trình. Thông qua việc phân tích thực tế 26 chủ đề phát sóng và các số liệu hoạt động của một dự án truyền thông y tế - xã hội cụ thể, nghiên cứu đã tổng kết các giá trị thực tiễn đạt được cũng như chỉ ra các điểm cần hoàn thiện trong sản xuất phát thanh trực tiếp tại cơ quan báo chí địa phương.