Chương 1 của Luật số 12/1999/QH10 ngày 12/06/1999 về sửa đôi bô sung, một sô điêu của Luật Báo Chí được Quéc Hội nước Cộng Hòa 16 Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam thông qua ngày 28/12/1999 cũng đề cập đến thuật ngữ “báo điện tử” (được thực hiện trên mạng thông tin máy tính bảng tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiêu số Việt Nam, tiếng nước ngoài) dé chỉ rõ loại hình báo chí này. Tuy nhiên, khái niệm Báo điện tử có nghĩa rất chung chung, không giúp hiểu rõ đặc điểm của loại hình báo chí phát hành trên mạng, tờ báo được sản xuất trong vòng khép kín trên mạng LAN, của tòa soạn hay báo được chạy trên môi trường mạng toàn cầu Internet. Đồng thời, đã có thời gian chúng ta sử dụng cách gọi này, dé chi phát thanh và truyền hình, nên nếu dùng lại rất dễ gây nhằm lẫn. Đặc điểm cơ bản của báo điện tử: Nếu như những tờ báo giấy ra đời từ cách đây hàng trăm năm, hay các loại hình báo chí khác xuất hiện cũng đã lâu, khăng định được chỗ đứng của mình trong toàn bộ đời sống báo chí thế giới; thì báo mạng điện tử, hay còn gọi là báo trực tuyến phải đến tận cuối thế ki XX mới ra đời.
Báo mạng điện tử càng ngày càng thé hiện được những ưu thế, những đặc trưng của mình. Trong phạm vi giới hạn của đề tài cũng như khả năng của tác giả luận văn sử dụng các đặc điểm cơ bản của báo điện tử được dẫn theo các đặc điểm của TS. Nguyễn Thị Trường Giang: Báo mạng điện tử - Những vấn đề cơ bản [10, tr. *Tính đa phương tiện: Báo mạng điện tử là một loại hình báo chí tổng hợp, tích hợp nhiều công nghệ (multimedia).
Trên một tờ báo mạng, thậm chí ngay trong một tác pham báo mạng có thê tích hợp cả báo viết, báo phát thanh và báo hình. Một sản phẩm báo chí đa phương tiện phải bao gồm những thành phan sau: văn bản, hình ảnh tĩnh và đồ họa, âm thanh, hình ảnh động, các chương trình tương tác. Hay nói cách khác, đa phương tiện trên báo mạng điện tử là việc sử dụng nhiều phương tiện (ngôn ngữ văn tự và phi van tự) dé thực hiện 1 sản phẩm báo chí. Chính vì vậy khi đọc báo mạng độc giả có thé chủ động xem những tác phẩm mình quan tâm ở bắt kì trang nào giống như báo in.
Đồng thời 17 cũng được trực quan những hình ảnh, video clip, lắng nghe những âm thanh mà không hề bị phụ thuộc vao các yếu tố thời gian, không gian. Có thể nói đa phương tiện là 1 trong những ưu điểm vượt trội của báo mạng điện tử so với các loại hình báo chí truyền thông khác. Sự tích hợp đa dạng này giúp cho báo mạng điện tử có được những yếu tô hấp dẫn của các loại hình báo chí khác, vì thế mà trở nên sinh động hơn, hấp dẫn hơn. *Tinh tức thời va phi định ki: Bao mang điện tử đã vượt qua các rào cản ma các loại hình bao chí khác vướng phải, nội dung thông tin không bị giới hạn bởi khuôn khổ của trang báo, thời lượng phát sóng hay thời gian tuyến tính.
Quy trình sản xuất thông tin đơn giản, dé dàng nên có thé cập nhật, bổ sung bat kì lúc nào với số lượng bao nhiêu. Thông tin trên báo mạng điện tử có thé sống động, nóng hồi đến từng giờ, từng phút, thậm chí là từng giây. Có người gọi báo mạng điện tử là “báo giờ” là vì tính cập nhật tức thời, khả năng cập nhật thông tin của nó. Việc cập nhật thông tin có thé diễn ra liên tục nhiều lần trong ngày, chính vì vậy , trên báo mạng điện tử, “giới hạn cuối cùng” của 1 bài báo chỉ là tam thời và tương đối vì bat cứ lúc nào thông tin cũng có thé được cập nhật, bố sung.
*Tinh tương tác cao: Tương tác là sự tác động qua lại, có ảnh hưởng lẫn nhau giữa độc giả và đội ngũ làm báo. Tương tác có vai trò rất quan trọng trong hoạt động truyền thông nói chung và trong hoạt động báo chí nói riêng. Tương tác là đặc điểm chính của công nghệ mới, đòi hỏi mô hình đa chiều trong truyền thông. Người đọc có thể chủ động tìm kiếm và lựa chọn thông tin hơn chỉ là đơn thuần nhận thông tin từ nhà báo.
Ngoài ra độc giả còn tham gia vào quá trình cung cấp thông tin, vì thế khoảng cách giữa nhà báo, tờ báo và người đọc được rút ngắn lại, là động lực thúc đây sự phát triển và góp phần nâng cao hiệu quả truyền thông. 18 Quá trình tương tác trên báo mạng điện tử nhanh chóng và thuận tiện hơn nhiều so với các loại hình báo chí khác. Tính tương tác trên báo mạng điện tử có nhiều ưu điểm như nhận sự phản hồi rất nhanh qua hệ thống thư điện tử, là chiếc cầu nối thân thiện kết nối tòa soạn với độc giả thông qua thiết lập các cuộc giao lưu trực tuyến, phỏng vấn trực tuyến. ngoai ra báo mạng điện tử còn có lợi thế trong việc thiết lập các diễn đàn nhằm thu hút sự quan tâm, trao đôi, tăng mối quan hệ giữa tòa soạn với độc giả, độc giả với độc giả.
*Khả năng lưu trữ và tìm kiếm thông tin: Báo mạng điện tử không bị giới hạn bởi số trang, khuôn khổ hay thời lượng, chương trình như các loại hình báo chí khác. Thông tin được lưu trữ dưới dạng đĩa từ có dung lượng cực lớn. nên nó thực sự là 1 kho thông tin khổng lồ. Báo mạng điện tử cho phép lưu trữ bài viết theo hệ thống khoa học, với một lượng khống lồ thông tin lưu trữ.
Đồng thời với đó là khả năng tìm kiếm dễ đàng nhờ vào các mục tìm kiếm với các từ khoá được đính kèm trên mỗi trang báo mạng điện tử. Có thể xem theo ngày, xem theo bài, hoặc theo chủ đề. Nếu không có điều kiện đọc ngay lúc online, độc giả báo mạng có thé lưu bài viết lại để đọc sau, hoặc là độc giả cũng có thể đọc lại nhiều lần tuỳ thích, mà thao tác hoàn toàn đơn giản. Điều này với truyền hình hay phát thanh là vô cùng khó.
Tính xã hội hóa cao, khả năng cá thé hóa tốt.Nhờ vào sự phủ sóng của mạng toan cầu Internet, báo mạng điện tử không có giới hạn về khoảng cách, thêm vào đó là tính tương tác cao, do đó dé dàng có thé thay tính xã hội hoá rat cao ở loại hình báo chí mới mẻ này.2 Khái niệm chân dung Chân dung là thuật ngữ được sử dụng nhiều trong lĩnh vực nghệ thuật như hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh, văn học. Và từ lâu khái niệm chân dung cũng được sử dụng phô biến trong lĩnh vực báo chí. 19 Theo Tir điển Tìiéng Việt, “chân dung” được định nghĩa là “tác phẩm hội họa, điêu khắc, nhiếp ảnh thể hiện đúng diện mạo, thần sắc, hình dáng một người nào đó” [33, tr 193]. Theo định nghĩa nay, chân dung được hiểu là diện mạo, thần sắc và hình dang của con người được thé hiện thông qua một bức tranh, ảnh hay một tác phẩm điêu khắc có hình khối cụ thé.
Người xem có thé nhìn thấy trực tiếp diện mạo, thần sắc, hình dáng đó, dễ đàng hình dung ra con người có thật ngoài thực tế. Trong lĩnh vực văn học, khái niệm chân dung cũng được sử dụng khi nói về một thể loại văn học lấy con người làm đối tượng chủ yếu dé phản ánh. Khi đó, nha văn phát huy sở trường quan sát, lựa chon chi tiết, cử chỉ, ngôn luận, ké cả tác phẩm, tư thế, hồi tưởng dé dung lai b6 mat tinh thần của một con người. Có thể nói, chân dung văn học là việc dựng lại những bóng dáng thần thái văn nhân, những câu nói cái cười, bước đi dang đứng của họ mà mình từng thấy từng biết.
Chân dung con người trong văn học, nghệ thuật khác với chân dung trong lĩnh vực báo chí. Chân dung con người trong văn học, nghệ thuật có thé mang yếu tô hư cấu, còn trong báo chí, chân dung đó phải là người thật, việc thật, được phản ánh chân thực thông qua tác phẩm báo chí. Việc dùng báo chi dé khắc họa chân dung không giống như người họa sĩ vẽ chân dung, coi chân dung là mục đích cuối cùng. Mà khái quát hơn, sâu sắc hơn là nhà báo làm toát lên chân dung một con người với cuộc sống thực của họ, từ đó khái quát lên thành những vấn đề xã hội, những thông điệp xã hội muốn gửi tới độc giả.
Bàn về khái niệm của thể loại ky chân dung - thé loại báo chí tiêu biểu khi phản ánh chân dung con người, con người trong tác phẩm ký chân dung phải có dia chỉ sát thực, tiêu biểu, đáp ứng được yêu cầu tuyên truyền thời sự. Con người phải được đặc tả ở diện mạo, dang vẻ bề ngoài hoặc thông qua những hành động, những việc làm tiêu biểu. Trong cuốn Tac phẩm báo chí, khi nói về chân dung con người trong thé loại phóng sự báo chí, các tác giả cho rằng: “Mỗi bức chân dung cụ thé có thé 20 nói lên một mảng hiện thực nào đó: hoặc minh chứng cho một truyền thống lịch sử, một phong tục tập quán, một nếp nghĩ, nếp làm ăn của một địa phương, một tộc người hoặc một khuynh hướng xã hội nào đó. Chân dung con người có thể là tích cực hoặc tiêu cực, hạnh phúc hay bất hạnh, đáng biểu dương hay đáng phê phán.
Trong khái niệm về thê loại ký chân dung, tác giả Dương Xuân Sơn cho rằng: Ký chân dung là một thê loại thuộc thể ký báo chí có đối tượng phản ánh là những con người hay một tập thé người có thật, được coi là tiêu biểu vào những thời điểm nhất định, đáp ứng yêu cầu thông tin thời sự. Đó là những con người hay tập thé người có hành động, việc làm hoặc suy nghĩ nội tâm đáp ứng nhu cầu thông tin của công chúng.84] Chân dung con người trên báo chí được phản ánh đa dạng, nhiều chiều, có những chân dung tích cực, tiêu biểu và cũng có những chân dung đáng phê phán. Nhưng về cơ bản, chân dung con người đó phải đáp ứng được các yêu cầu, đó là có tính chân thực, tiêu biểu, điển hình và tính thời sự. Khai niệm người lao động Tại Việt Nam, Khoản 1 Điều 3 Bộ luật lao động (BLLĐ) năm 2012 định nghĩa: Người lao động là người từ đủ 15 tuổi trở lên, có khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của người sử dung lao động.