CHƯƠNG 1 CAC VAN ĐÈ LÝ LUẬN CHUNG VE TRUYEN THONG VE VAN DE XÂY DỰNG NONG THON MỚI 1.1 Các khái niệm 111, Truyén thong “Truyén thông là quá trình liên tục trao đôi thông tin, kiến thức, tư tưởng, tình cảm,. chia sẻ kỹ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nham tăng cường hiểu biết lẫn nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới điều chỉnh hành vi và thái độ phù hợp với nhu cầu phát triển của cá nhân/nhóm/cộng đồng xã hội”. - Thứ nhất, truyền thông là hiện tượng xã hội phổ biến ra đời và phát triển cùng sự phát triên của xã hội loài người, tác động và liên quan đên mọi con người xã hội. - Thứ hai, truyền thông là thiết chế kiến tạo xã hội.
Thiết chế xã hội có tính độc lập tương đôi và có tác động trở lại đôi với cơ sở kinh tê - xã hội. Truyền thông Tuyên Truyền Dé cao công chúng Đề cao tuyệt đôi hoá chủ thé tuyên truyền Dé cao tương tác bình đăng Coi trọng áp đặt, một chiều Coi trọng chia sẻ, tôn trọng sự khác biệt Tiên tới tương đông, đồng nhất bang cách xoá bỏ sự khác biệt Mô hình truyền thông hai chiều, đa Mô hình truyền thông một chiêu từ trên chiêu xuông Là ngành kinh tê dịch vụ xã hội (tập Chủ yêu bao cấp vì mục đích chính trị đoàn truyền thông) Phương tây chủ yếu dùng trong chính Các nước theo CNXH: phô biến dùng sách đối ngoại (đôi lúc dùng trong hình trong cả chính sách đôi nội và đôi ngoại. thức đối nội) Bảng 1.1: So sánh đặc điểm “truyền thông” & “Tuyên truyền ” Trong thời đại bùng nỗ công nghệ thông tin, có rất nhiều hình thức truyền 12 thông, tuy nhiên, không thể nào phủ nhận được vai trò của báo chí, đặc biệt là báo in. Hiện nay, có thé khang định báo chí đã và dang có những đóng góp tích cực cho sự phát triển chung của xã hội.
Ở mỗi loại hình, báo chí đều bám sát vào đặc điểm, tình hình thực tiễn của mỗi địa phương dé thông tin, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội, với phương châm “hướng mạnh về cơ sở”, hướng tới quần chúng nhân dân. Báo chí Báo chí được trình bày và quan niệm theo nhiều khái niệm khác nhau. Báo chí theo quan điểm truyền thống được hiểu là phương tiện thông báo, thông tin về những sự việc mới diễn ra hàng ngày cho nhiều người biết đến. Ở khía cạnh khác, báo chí là phương tiện thông tin thời sự, phương tiện giao tiếp xã hội; là diễn đàn cung cấp, trao đối và chia sẻ thông tin công khai.
Luật Báo chí được Quốc hội ban hành năm 2016 đã đưa ra những quy định chung của báo chí Việt Nam cụ thể như sau: - Báo chí là sản phẩm thông tin về các sự kiện, van dé trong đời sống xã hội, thể hiện bằng chữ viết, hình ảnh, âm thanh, được sáng tạo, xuất bản định kỳ và phát hành, truyền dẫn tới đông đảo công chúng thông qua các loại hình như báo in, báo nói, báo hình, báo điện tử. - Chức năng của báo chí: Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Dang, cơ quan nha nước, tô chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân. - Nhiệm vụ, quyền hạn của báo chí: + Thông tin trung thực về tình hình đất nước và thế giới phù hợp với lợi ích của đất nước và của Nhân dân; + Tuyên truyền, phổ biến, góp phần xây dựng và bảo vệ đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước, các thành tựu của đất nước và thế giới theo tôn chỉ, Mục đích của co quan báo chí; góp phan ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao dan tri, đáp ứng nhu cầu văn hóa lành mạnh của Nhân dân, bảo vệ và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc, xây dựng và phát huy dân chủ xã hội chủ 13 nghĩa, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; + Phản ánh và hướng dẫn dư luận xã hội; làm diễn đàn thực hiện quyền tự do ngôn luận của Nhân dân; + Phát hiện, nêu gương người tốt, việc tốt, nhân tố mới, điển hình tiên tiến; đâu tranh phòng, chống các hành vi vi phạm pháp luật và các hiện tượng tiêu cực trong xã hội; + Góp phan giữ gìn sự trong sáng và phát triển của tiếng Việt, tiếng của các dân tộc thiểu số Việt Nam; + Mo rộng sự hiểu biết lẫn nhau giữa các nước và các dân tộc, tham gia vào sự nghiệp của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững.3 Nông thôn Theo Từ điền Bách khoa, Viện Từ điển học và Bách khoa thư Việt Nam định nghĩa: Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thô đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh kinh tế xã hội, điều kiện sông khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp. Theo quy định tại thông tư số 54/2009/TT — BNNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn, “Nông /hồn” là phần lãnh thé không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là ủy ban nhân dân xã.
Do đặc điểm địa lý dân cư, Việt Nam phát triển từ nông nghiệp lúa nước nên nông thôn vẫn còn ton tại mật độ dày đặc ở các tỉnh. Nhìn chung, vùng nông thôn thường là vùng sinh sống, làm việc và định cư lâu dài chủ yếu là nông dân. Nông thôn trong độ tuổi lao động từ 30 -45 tuổi, thường có tỷ lệ, mật độ dân số thấp, có kiến trúc kém tăng trưởng hơn, có trình độ dân trí, trình độ tiếp cận thị trường và sản xuất sản pham & hàng hóa kém hơn. So với thành phố hoặc các vùng kinh tế phát triển, nông thôn phát triển chậm hơn, mức độ thích ứng với môi trường, sự thay đôi cũng chậm hơn.
Đặc diém cua nông thôn 14 Từ định nghĩa nông thôn là gì, chúng ta có thé rút ra được các đặc trưng cơ bản của vùng nông thôn như sau: - Một là, Nông thôn là vùng sản xuất nông nghiệp, ngoài những hoạt động giải trí sản xuất và phi sản xuất còn có giao hàng nông nghiệp. Do đó, những người sinh sống ở nông thôn đa phan là nông dân. - Hai là, Nông thôn có kiến trúc kém tăng trưởng, trình độ sản xuất sản phẩm & hàng hóa và tiếp cận thị trường thấp hơn, do đó, nhiều dân cư ở nông thôn đến những thành phó lớn đề tìm kiếm những thời cơ việc làm. - Ba là, Nông thôn có thu nhập và đời sống thấp hơn, trình độ văn hóa truyền thống, trình độ khoa học công nghệ tiên tiến kỹ thuật thấp hơn.
- Bốn là, Nông thôn giàu tài nguyên và những tiềm năng vạn vật thiên nhiên, ví dụ điển hình như đất đai, nguồn nước, khí hậu,. Điều đó yêu cầu dé tăng trưởng kinh tế tài chính — xã hội vùng nông thôn cần khai thác tốt tiềm năng của từng địa phương.4 Nông thôn moi Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học do Hoàng Phê chủ biên (1994): “Nông thôn là khu vực dân cư tập trung chủ yếu làm nông, phân biệt với thành thị”. Theo Thông tư số 54/TT-NNPTNT ngày 21/08/2009 của Bộ NN&PTNT: “Nông thôn là phần lãnh thé không thuộc nội thành, nội thị các thành phó, thị xã, thi tran, được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là UBND xã”. Nông thôn mới được đề cập lần đầu tiên trong Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Hội nghị Trung ương 7 (khóa X) về nông nghiệp, nông dân, nông thôn là: - Có kết cau hạ tang kinh tế - xã hội hiện đại; - Cơ cau kinh tế và hình thức tô chức sản xuất hợp lý, gan nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; - Xã hội nông thôn én định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; - Dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; 15 - Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng Cường.
Quyết định 491 — QĐ/TTg ngày 14 thang 04 năm 2009 “Về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới ” chia nhỏ nông thôn mới theo các cấp hành chính: xã nông thôn mới , huyện nông thôn mới và tỉnh nông thôn mới. Nông thôn mới là vùng nông thôn có kinh tế phát bền vững, cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ theo quy hoạch; gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp và công nghiệp, dịch vụ và đô thị, nông thôn ồn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc, môi trường sinh thái trong lành, đảm bảo giữ vững an ninh chính trị và trật tự xã hội. Song song với đó là đời sống người dân không ngừng được nâng cao cả về vật chất lẫn tinh thần, được đào tạo và tiếp thu các tiễn bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh chính trị vững vàng và đóng vai trò quan trọng trong việc làm chủ nông thôn mới.5 Sự khác biệt trong công cuộc xây dựng nông thôn mới giai đoạn trước đây và giai đoạn hiện nay Xây dựng nông thôn trước đây: Ngày 5/8/2008, Hội nghị BCH TW Đảng khóa X đã ban hành Nghị quyết số 26 - NQ/TW về Nông nghiệp, Nông dân và Nông thôn. Tiếp đó, Thủ tướng Chính thủ đã bàn hành số 800/QD - TTg về phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng NTM giai đoạn 2010 - 2020 với mục tiêu chung: “Xây dung nông thôn có kết cầu hạ tang kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cầu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gan nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thai được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tỉnh thân của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa ”” Sau 10 năm thực hiện phong trào thi đua “Cả nước chung sức xây dựng NTM” giai đoạn 2010-2020, chúng ta đã đạt những kết quả to lớn, toan dân, toàn diện, mang tính lịch sử.