CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN VỀ ĐỊA BÀN, CỘNG ĐỒNG NGHIÊN CỨU 1. Khái niệm * Văn hóa Đây là khái niệm phức tạp với nhiều định nghĩa khác nhau. Ngay từ Năm 1952, hai nhà nhân học văn hóa Mỹ là A.Kluckhohn, trong cuốn Văn hóa: Tổng thuật có phê phán các quan điểm và định nghĩa đã thống kê được hơn 160 định nghĩa khác nhau về văn hóa. Điều đó cho thấy, khái niệm văn hóa rất phức tạp.
Tùy theo từng chuyên môn, các nhà khoa học sẽ đưa ra định nghĩa về văn hóa khác nhau. Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng định nghĩa văn hóa của UNESCO. Theo đó, định nghĩa văn hóa của UNESCO đưa ra bởi hai nghĩa: - Nghĩa rộng: “Văn hóa là một phức hệ - tổng hợp các đặc trưng diện mạo về tinh thần, vật chất, tri thức và tình cảm… khắc họa nên bản sắc của một cộng đồng gia đình, xóm làng, vùng, miền, quốc gia, xã hội… Văn hóa không chỉ bao gồm nghệ thuật, văn chương mà còn cả lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống giá trị, những truyền thống, tín ngưỡng”[28]. - Nghĩa hẹp: “Văn hóa là tổng thể những hệ thống biểu trưng (ký hiệu) chi phối cách ứng xử và giao tiếp trong cộng đồng, khiến cộng đồng đó có đặc thù riêng”[29].
* Truyền thống Theo từ điển của Từ Hải, khái niệm truyền thống “Là sức mạnh của tập quán xã hội được lưu truyền lại từ lịch sử. Nó tồn tại ở các lĩnh vực chế độ (chế độ xã hội), tư tưởng, văn hóa, đạo đức. Truyền thống có tác động khống 21 chế vô hình đến hành vi xã hội của con người, truyền thống là biểu hiện tính kế thừa của lịch sử” [41]. Trong Từ điển Tiếng Việt, truyền thống có nghĩa là “Thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền lại từ thế hệ này qua thế hệ khác” [49].
Hay, theo Nguyễn Trọng Chuẩn, truyền thống là “những yếu tố của di tồn văn hóa, xã hội thể hiện trong chuẩn mực hành vi, tư tưởng, phong tục, tập quán, thói quen, lối sống và cách ứng xử của một cộng đồng người được hình thành trong lịch sử và đã trở thành ổn định, được truyền từ đời này sang đời khác và được lưu giữ lâu dài” [6]. Như vậy, truyền thống của một dân tộc được hình thành từ chính những điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội mà dân tộc đó đã trải qua. Có thể hiểu truyền thống là tập hợp những tư tưởng, tình cảm, thói quen, tập quán, lối sống và cách ứng xử, ý chí… của một cộng đồng người nhất định, được hình thành và phát triển trong lịch sử, đã trở nên ổn định và lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. * Văn hóa truyền thống Khái niệm này được hiểu như là văn hóa gắn với xã hội tiền công nghiệp, phân biệt với văn hóa hiện đại (Modern Culture) thời đại công nghiệp hóa.
Tất nhiên, khái niệm văn hóa truyền thống để chỉ những hiện tượng, những giá trị hình thành từ lâu đời, mang tính bền vững và được trao truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, không chỉ trong xã hội tiền công nghiệp, mà kể cả trong xã hội công nghiệp, xã hội hiện đại. Hơn thế nữa, nó còn là sự kết nối hữu cơ giữa văn hóa truyền thống với văn hóa hiện đại, và sự kết hợp đó thể hiện trong từng hiện tượng hay giá trị văn hóa [41, tr. * Bảo tồn và phát huy Khái niệm “bảo tồn và phát huy” văn hóa truyền thống đã xuất hiện trong nhiều công trình nghiên cứu cũng như trong các văn kiện của Đảng và Nhà nước Việt Nam từ các thập kỷ 70, 80 của thế kỷ XX. 22 Theo đó, khái niệm bảo tồn (preservation) được hiểu như là những nỗ lực nhằm gìn giữ các giá trị, bản sắc văn hóa truyền thống của mỗi dân tộc, quốc gia.
Tuy nhiên, cũng phải hiểu rằng trong những việc làm, hành động nhằm bảo tồn, giữ gìn hay kế thừa ấy, còn hàm nghĩa sự lựa chọn chủ quan của chủ thể văn hóa, tức là lựa chọn những gì là giá trị, là bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đặc biệt là những giá trị, bản sắc ấy đã và còn tiếp tục tạo nên nội lực, động lực cho sự phát triển văn hóa, xã hội hiện tại và tương lai của mỗi dân tộc và quốc gia ấy. Bởi vậy nguyên tắc quan trọng của bảo tồn, giữ gìn hay kế thừa phải trên quan điểm phát triển, cho phát triển và vì phát triển. Bảo tồn văn hóa truyền thống là hướng đến việc bảo tồn bản sắc của văn hóa hơn là những biểu hiện bên ngoài dễ thay đổi. Khái niệm phát huy (promotion) trong định đề bảo tồn và phát huy văn hóa truyền thống được hiểu với hai ý nghĩa.
Thứ nhất, là những hành động nhằm đưa văn hóa vào thực tiễn xã hội, coi đó như là nguồn nội lực, tiềm năng góp phần thúc đẩy sự phát triển xã hội, mang lại những lợi ích vật chất, tinh thần cho con người, thể hiện tính mục tiêu của văn hóa đối với phát triển xã hội. Thứ hai, là bảo tồn và làm giàu chính bản thân văn hóa trong môi trường xã hội cụ thể. Chính trong môi trường xã hội cụ thể, văn hóa sẽ được nuôi dưỡng, bảo tồn, được sinhh sôi, nảy nở như một cơ thể sống. * Hôn nhân Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, hôn nhân là thể chế xã hội kèm theo những nghi thức xác nhận quan hệ tính giao giữa hai hay nhiều người thuộc hai giới tính khác nhau (nam, nữ), được coi nhau là chồng và vợ, quy định mối quan hệ và trách nhiệm giữa họ với nhau và giữa họ với con cái của họ.
Sự xác nhận đó, trong quá trình phát triển của xã hội, dần dần mang thêm những yếu tố mới [21, tr. 23 Trong xã hội nguyên thủy, hôn nhân tiến hành theo luật tục. Trong các xã hội có giai cấp và nhà nước, hôn nhân phải được pháp luật công nhận, do đó quyền hạn và nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ chồng, con cái cũng được pháp luật xác định và bảo đảm. Có những trường hợp hôn nhân phải được tiến hành ở nhà thờ, phải tuân theo những nghi thức tôn giáo nhất định để được Giáo hội công nhận.
Theo cách phân loại của các nhà Nhân học, hôn nhân có các dạng như: - Đơn hôn (monogamy): tức là hôn nhân một vợ một chồng, đây là hình thức hôn nhân phổ biến nhất, ở hầu hết mọi nơi trong xã hội ngày nay. Hôn nhân này bao gồm hôn nhân phụ hệ (trai đi cưới vợ) và hôn nhân mẫu hệ (gái đi cưới chồng). - Phức hôn (polygamy): là hình thức một người chồng có thể lấy nhiều vợ hoặc một người vợ có thể lấy nhiều chồng cùng một lúc. Phức hôn có các loại hình như nhất phu đa thê (polygyny), nhất thê đa phu (polyandry).
Nghiên cứu của chúng tôi, người Rơ-măm theo loại hình đơn hôn mẫu hệ, nghĩ là hôn nhân một vợ - một chồng, và theo chế độ mẫu hệ. * Gia đình Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam: Gia đình là thiết chế xã hội dựa trên cơ sở kết hợp những thành viên khác giới, thông qua hôn nhân, để thực hiện các chức năng sinh học, kinh tế, văn hóa, xã hội, tín ngưỡng… Khi gia đình đã có con cái thì các thành viên trong gia đình được liên kết với nhau vừa bằng quan hệ hôn nhân (không cùng huyết thống) vừa bằng quan hệ huyết thống (theo dòng mẹ hoặc dòng bố). Gia đình là một phạm trù lịch sử, thay đổi cùng với sự phát triển của xã hội [21, tr. Gia đình hiện nay được phân thành hai loại gia đình: - Gia đình hạt nhân: gia đình gồm có bố, mẹ và con cái còn nhỏ tuổi.
Đây là một loại gia đình hẹp, thường gọi là gia đình sơ đẳng. Gia đình hạt 24 nhân xuất hiện từ thời đại cách mạng công nghiệp và đô thị hoá. Trong loại gia đình này có thêm khái niệm gia đình hạt nhân kiếm khuyết (chỉ có vợ chồng; hoặc chỉ có mẹ với con, cha với con; hay đơn thân). - Đại gia đình: gia đình gồm từ ba thế hệ trở lên cùng chung sống.
Loại gia đình này cũng có thêm khái niệm đại gia đình mở rộng, có thêm những gia đình cùng thế hệ sống chung với nhau. Trong xã hội truyền thống của người Rơ-măm thường tồn tại loại hình đại gia đình mở rộng, hiện nay đang chuyển dần sang gia đình hạt nhân. Quan điểm tiếp cận, lý thuyết và câu hỏi nghiên cứu * Quan điểm tiếp cận Hôn nhân và gia đình là một bộ phận của văn hóa mang đậm yếu tố truyền thống. Xuất phát từ sự khác nhau về điều kiện tự nhiên, xã hội, văn hóa và tôn giáo mà nghi thức hôn nhân và hình thức, cấu trúc gia đình của các cộng đồng dân tộc sẽ khác nhau.
Do đó, khi nghiên cứu về văn hóa truyền thống của người Rơ-măm ở tỉnh Kon Tum trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình, chúng tôi chọn hướng tiếp cận theo bối cảnh văn hóa. Tuy các quan niệm, nghi thức, tập tục, nếp sinh hoạt truyền thống trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình là sản phẩm do con người tạo ra, nhưng bối cảnh văn hóa lại là yếu tố chi phối đến hình thức tổ chức và ý nghĩa của chúng. Bối cảnh văn hóa được biết đến bằng những khía cạnh như tính truyền thống – hiện đại và tính cộng sinh văn hóa. Trong đó tính truyền thống – hiện đại được dựa trên cơ sở tích lũy, lưu truyền và tái tạo những giá trị văn hóa trong cộng đồng.
Như vậy, văn hóa truyền thống trong hôn nhân và gia đình của người Rơ-măm cũng đã được trao truyền qua nhiều thế hệ, chủ yếu bằng hình thức truyền miệng và thực hành các nghi thức ấy. Tuy nhiên, trải qua thời gian dài yếu tố văn hóa ấy không còn nguyên vẹn như truyền thống, mà nó đã được tái tạo trên cơ sở cái cũ. Cộng đồng, đã tiếp thu những yếu tố văn 25 hóa khác thông qua quá trình giao lưu cả về văn hóa, kinh tế, xã hội. Bởi một nền văn hóa không bao giờ tồn tại trong sự bất biến, mà luôn trải qua những biến đổi, nhất là trong thời kỳ hội nhập kinh tế, giao lưu, hợp tác được đẩy mạnh như hiện nay.
Lối sống thay đổi, quan điểm sống thay đổi, các yếu tố truyền thống vì thế cũng luôn bị tác động, và văn hóa ắt cũng vận động để thích nghi với hoàn cảnh mới.