Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ Ở LĂNG THIỆU TRỊ Mỹ thuật thời Nguyễn nói chung và ở lăng Thiệu Trị nói riêng đã được nghiên cứu, đánh giá qua nhiều công trình khoa học, bài báo, các hội thảo khoa học trong nhiều năm qua. Trong quá trình đó, nhiều khái niệm, thuật ngữ về văn hóa Huế đã được hình thành và ứng dụng, triển khai trong nghiên cứu văn hóa mỹ thuật thời Nguyễn, trong đó có một phần đáng kể được sử dụng trong nghiên cứu, đánh giá về mỹ thuật thời Thiệu Trị ở bình diện thẩm mỹ, nghệ thuật với những giá trị đích thực của nó. Trong nghiên cứu trang trí ở lăng Thiệu Trị, những cơ sở học thuật, khái niệm, thuật ngữ và những vấn đề nghiên cứu tổng quan đó đã được các nhà nghiên cứu vận dụng thành công khi tiếp cận nghiên cứu mỹ thuật ở lăng Thiệu Trị. Từ đó hình thành nên một hệ thống lý luận và cơ sở lịch sử xã hội, văn hóa giúp cho việc nghiên cứu nghệ thuật Nguyễn được triển khai có kết quả.
Cơ sở lý luận và một số khái niệm về vấn đề nghiên cứu 1.Cơ sở lý luận Nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị từ góc độ tạo hình với tư cách là đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được nhìn nhận là một hiện tượng văn hóa mỹ thuật, ở đó thể hiện mối tương tác giữa các lĩnh vực mỹ thuật - kiến trúc trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nó tồn tại và vận động trong một khu vực/vùng địa lý - văn hóa cụ thể, với quan niệm như vậy NCS đã chọn một số lý thuyết, luận điểm làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình, đó là: 1.1 Lý thuyết tiếp biến văn hóa Lý thuyết tiếp biến văn hóa, là một lĩnh vực nghiên cứu văn hóa, xã hội, tập trung vào sự phát triển và thay đổi của văn hóa qua thời gian. Nó được áp dụng để hiểu quá trình tiến hóa văn hóa, không những chỉ tồn tại 14 trong mỗi cá nhân mà còn được truyền đạt và thay đổi qua các thế hệ. Đồng thời, nó được xem như một hệ thống thông tin, kiến thức, giá trị và thực hành mà con người học hỏi chia sẽ với nhau trong phong cách sống, kỹ thuật, quy tắc xã hội, truyền đạt tạo nên sự thay đổi và phát triển của văn hóa. Lý thuyết tiếp biến văn hóa đóng vai trò rất lớn trong quá trình tiếp xúc và trao đổi văn hóa giữa các thời kỳ với nhau bao gồm ngôn ngữ, phong cách thời trang, quá trình phát triển và thay đổi các yếu tố văn hóa trong lĩnh vực nghệ thuật tạo hình trang trí.
Đây là quá trình mà phong cách, kỹ thuật, ý tưởng và hình thức nghệ thuật tiếp xúc thay đổi và phát triển theo thời gian thông qua tương tác với các yếu tố văn hóa khác. Lĩnh vực nghệ thuật tạo hình thường bị ảnh hưởng bởi các yếu tố văn hóa xung quanh nó và điều này thể hiện sự ảnh hưởng từ các nền văn hóa truyền thống, giá trị xã hội, tôn giáo. Từ sự tiếp xúc và tương tác với các yếu tố văn hóa có thể tạo ra sự thay đổi và phát triển trong nghệ thuật. Tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật trang trí thời Nguyễn cho thấy đã in dấu sâu đậm trong nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị và tạo ra dấu ấn sâu sắc trong nghệ thuật trang tri thời kỳ này.
Sự tiếp xúc và tiếp biến văn hóa Champa và ảnh hưởng nghệ thuật Phật giáo là điều tất yếu của quá trình giao thoa, tiếp biến văn hóa. Nhờ sự tiếp biến sinh động đó mà ở nghệ thuật lăng Thiệu Trị đã tạo ra sự đa dạng và đặc sắc trong trang trí. Các nghệ nhận đã tìm ra cách sử dụng và biến đổi các vật liệu trước đó như gốm, sành sứ, đồng, gỗ… để tạo ra sự phù hợp cho những đề tài, kiểu thức, hoa văn trang trí rất tinh tế và độc đáo. Như vậy, tiếp biến văn hóa trong nghệ thuật trang trí đã phản ảnh sự phát triển, tương tác của nghệ thuật với môi trường xã hội qua các thời kỳ tạo nên một nền văn hóa mà đặc biệt là dưới thời Nguyễn đã khẵng định một phong cách, kỹ thuật, ý tưởng và hình thức thể hiện một nền văn hoá riêng biệt.
Lý thuyết, luận điểm về mỹ thuật học Có thể nói, các yếu tố thẩm mỹ trong nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị chính là sự thể hiện theo một cách riêng - điều kiện lịch sử - văn hoá, phần nào thể hiện được quan niệm thẩm mỹ, tính đặc thù về phong cách sống của chủ thể đó. Trong phạm vi đề tài luận án, khi nghiên cứu về nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị chúng ta có thể thấy rằng giá trị tạo hình và hoa văn trang trí độc đáo, đặc trưng cùng ý nghĩa nhân văn và tượng trưng của đề tài mang một phong cách riêng in đậm dấu ấn, thể hiện những khát vọng và lý tưởng của một thời kỳ lịch sử với sự biến đổi phù hợp theo quan niệm thẩm mỹ cũng như ý nghĩa biểu hiện vương quyền của triều đại. Từ các luận điểm mỹ thuật học đã phần nào giúp NCS tiếp cận trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu từ góc độ mỹ thuật mang tính chuyên ngành của nghệ thuật tạo hình tác động của phương pháp đến đối tượng nghiên cứu một cách hiệu quả. Nghiên cứu mỹ thuật có một lợi thế là bám sát và xoáy sâu vào được các thuộc tính ngôn ngữ trong nghệ thuật tạo hình trang trí, tạo cơ sở cho việc lý giải một cách thuyết phục các kỹ thuật, các thủ pháp xử lý ngôn ngữ và biểu hiện hình tượng, trong đó cấu trúc hình thái của ngôn ngữ trang trí được nhận diện rõ nét nhất cả về chiều sâu không gian tạo hình, về đặc trưng thẩm mỹ ngôn ngữ và các thuộc tính của đường nét, hình mảng, nhịp điệu, trang trí, đồng thời nó cũng giúp NCS có thể đúc rút được những đặc điểm nổi bật tiêu biểu và bản chất nhất của đối tượng nghiên cứu.
Tuy nhiên phương pháp mỹ thuật học có những hạn chế nhất định khi đánh giá về những đặc trưng văn hóa, lịch sử, tư tưởng thẩm mỹ và đời sống nội tâm, đặc trưng sáng tạo của nghệ nhân. Điều đó cũng cho thấy lý thuyết, luận điểm về mỹ thuật học nếu được vận dụng một cách nhuần nhuyễn đúng lúc và tạo nên bình diện tác động đa chiều thì sẽ góp phần vô cùng quan trọng đối với người nghiên cứu khi tiếp cận một cách có chiều sâu các nội dung cơ 16 bản. Mặt khác, luận điểm mỹ thuật học cũng không thể đứng độc lập một cách tuyệt đối mà nó phải có sự chia sẻ, tương tác với các phương pháp như: phương pháp thông tin, , phương pháp thống kê, điền dã thực địa, phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu… Việc đánh giá, xác định là những phương pháp định hướng cho việc nghiên cứu của đề tài, ngoài ra giúp cho luận án đi vào tìm hiểu giá trị nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị ở Huế dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật nên tác giả đã lựa chọn thêm một số lý thuyết, luận điểm khác của các nhà nghiên cứu mỹ thuật trong hệ thống cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình. Khái niệm về tính biểu tượng, hình tượng, hoa văn trang trí 1.
Khái niệm về tính biểu tượng Trong một số nghiên cứu về nghệ thuật trang trí kiến trúc truyền thống của một số tác giả đã trình bày luận điểm về tính biểu tượng trong nghệ thuật trang trí kiến trúc, biểu tượng là những tính chất đặc thù tiêu biểu nhất, tác phẩm nghệ thuật thông qua các tính chất đặc thù này để biểu hiện nội dung muốn truyền tải. Ước lệ là sự hiện thực hoá một cách cô đọng trong sáng tạo thẩm mỹ, khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống ký hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau. Biểu tượng là hình ảnh cụ thể trong đó bao hàm nhiều ý nghĩa, gây được ấn tượng sâu sắc đối với người xem. Biểu tượng nghệ thuật được coi là ký hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt.
Ước lệ và biểu tượng thường được dùng nhiều trong nghệ thuật và dần trở thành phương tiện diễn đạt có tính cô đọng, hàm súc, có sức khai mở rất lớn trong sự tiếp nhận của người xem. Các yếu tố được sử dụng trong nghệ thuật trang trí thường mang tính ước lệ với những mức độ khác nhau, một số được nhìn từ góc độ của mối liên hệ giữa việc sử dụng chúng một cách thông thường bên ngoài nghệ thuật và một số khác được nhìn vào ý nghĩa mà chúng có được đằng sau sự biểu hiện của các hình thức đã được sắp đặt theo chủ ý có yếu tố ước lệ. Theo đó, một 17 hệ thống biểu đạt ước lệ được sử dụng cho các yếu tố trong nghệ thuật trang trí, tạo hình nếu thành công, tất yếu sẽ dẫn dắt và chuyển tải những nội dung, những quy định mà đôi lúc người tiếp nhận không nhận ra, thay vào đó những nội dung, những quy định được xem là một cái gì đó vốn dĩ tự nhiên, phi ước lệ. Chẳng hạn, con rồng thời Nguyễn ở nhiều công trình kiến trúc các nghệ nhân thể hiện sâu sắc, vẻ đẹp uy nghiêm, huyền diệu đặc trưng của biểu tượng.
Nhưng hình tượng rồng lăng Thiệu Trị lại mang những điểm khác biệt so với hai thời kỳ trước như: sừng dài có chạc vòng cung cuộn tròn như ngọn sóng, mắt lồi to tròn với những đường nét sắc nhọn, râu và bờm căng đầy, vây lưng chạy dài suốt thân mình, móng rồng diễn tả sắc nhọn, hai chân trước ôm lấy quả cầu được mô phỏng theo hoa văn mai rùa, đuôi uốn lượn với những đường nét chạm sâu dài thẳng, với thân mập tròn đầy đặn, ít khúc kết hợp với những hoa văn mây chồng lên nhau, tạo cho hình tượng rồng bay bổng, nhẹ nhàng, thanh thoát và mang một vẻ đẹp hiền hòa nhưng vẫn không mất đi vẻ uy nghiêm, đặc trưng của biểu tượng chốn cung đình. Rồng chủ yếu là cách điệu thành hoa văn mây chồng nhiều lớp, những hình tượng đó chúng ta rất dễ bắt gặp trong quần thể lăng Thiệu Trị đúng với tinh thần như trong Từ điển biểu tượng văn hóa Thế giới, tác giả Jean Chevalier, Alain Gheerbrant đã đề cập: Là sức mạnh thần thánh, sáng tạo, xếp đặt, rồng đương nhiên là biểu tượng của đế vương… Thật vậy, rồng được gắn với sét (nó khạc ra lửa) và với sự phì nhiêu (nó mang mưa đến).