Chương 1. VÀI NÉT VỀ VẤN ĐỀ “TRUYỀN THỐNG”, “HIỆN ĐẠI” VÀ VỊ TRÍ CỦA LƯU QUANG VŨ TRONG VĂN HỌC KỊCH NHỮNG NĂM 80 THẾ KỈ XX 1. Vài nét về vấn đề “truyền thống” và “hiện đại” 1. Khái niệm “truyền thống” và “hiện đại” Luận văn tìm hiểu hai khái niệm “truyền thống” và “hiện đại”, chỉ ra bản chất cũng như mối quan hệ giữa hai yếu tố này trong văn học nghệ thuật nhằm tạo cơ sở luận cho những phân tích cụ thể ở các chương sau.
Theo Hoàng Phê trong Từ điển Tiếng Việt, “truyền thống” có nghĩa là “thói quen hình thành đã lâu đời trong lối sống và nếp nghĩ, được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác” [36, tr.1018]; “hiện đại” nghĩa là “thuộc về thời ngày nay” [36, tr. Dựa vào khái niệm nền tảng này, người viết đi tìm hiểu “truyền thống” và “hiện đại” văn học nghệ thuật nói chung và trong kịch Lưu Quang Vũ nói riêng. Từ cách lý giải của Hoàng Phê, có thể hiểu truyền thống trong văn học dùng để chỉ những đặc trưng văn học được chắt lọc, lưu giữ, truyền từ đời này sang đời khác. Truyền thống thể hiện ở việc sử dụng kế thừa vào phát huy đề tài, tư tưởng, quan điểm, các hình tượng, biểu tượng quen thuộc trong văn học truyền thống.
Phải nói thêm rằng, ở một góc độ nhất định, truyền thống gắn liền với bản sắc. “Bản sắc dân tộc bao gồm những giá trị bền vững, những tinh hoa của cộng đồng các dân tộc Việt Nam được vun đắp nên qua lịch sử hàng ngàn năm đấu tranh dựng nước và giữ nước” [65, tr. Theo dòng chảy lịch sử, có thể thấy, văn học truyền thống Việt được hòa trộn và liên kết giữa ba lớp văn hóa chính: Lớp văn hóa bản địa (Nền văn hóa Nam Á và Đông Nam Á); Lớp thứ hai chịu sự ảnh hưởng của khu vực (Văn hóa Trung Hoa); Lớp thứ ba là sản phẩm của sự chuyển mình đầy mạnh mẽ và dữ Luan van 14 dội (Văn hóa phương Tây). Trong lớp văn hóa bản địa nền, chính nghề nông trồng lúa nước đã có sự chi phối đến mọi mặt như đời sống vật chất (phương thức và kĩ thuật nông nghiệp, địa hình đất đai sông hồ quyết định giao thương…), đời sống tinh thần (tính cộng đồng, tính khép kín trong bộ phận làng, xã…), nhận thức (tư duy tổng hợp, tư duy biện chứng với triết lí âm dương và lối sống quân bình trọng ổn định, âm tính…), sự năng động và linh hoạt của con người trên nền tảng cơ bản là sự ổn định.
Về sau, lớp tính cách bản địa chịu sự ảnh hưởng của văn hóa Trung Hoa, tiếp thu từ cưỡng chế đến chọn lọc những văn hóa vật chất (kĩ thuật luyện sắt, làm thuốc…), lĩnh vực tinh thần (ngôn ngữ và Hán tự, cách tổ chức chính quyền, tư tưởng…), về tôn giáo – nghệ thuật (Nho, Phật, Đạo,…), một số phong tục tập quán cũng thâm nhập và bén rễ ở nước ta. Từ khi nền văn hóa phương Tây thâm nhập đất nước ta trên mọi nẻo đường, cùng lúc là sự suy thoái của nền văn hóa Trung Hoa, thì chính nền văn hóa bản địa Việt lớp thứ hai có sự chuyển mình đầy mạnh mẽ, trên mọi hướng tích cực và tiêu cực. Nền văn hóa Việt lớp thứ ba này có sự hòa trộn và ảnh hưởng đến từ Đông – Tây, kim – cổ trong từng nếp sinh hoạt, ăn ở, nếp sống, nếp nghĩ. Qua sự sàng lọc của thời gian và trí tuệ, có nhiều yếu tố đã bị loại bỏ, nhưng cũng có nhiều yếu tố đã được giữ lại và cải biên vừa mang nét truyền thống vừa mang nét hiện đại.
Hiện đại là một phạm trù văn hoá và văn học có nhiều nghĩa. “Tính hiện đại trong sáng tác văn học là sự hình thành những nguyên tắc sáng tác mới trong các trường phái văn học nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa. Trong văn hoá, xã hội học, chính trị học, triết học tính hiện đại là một sự phản tư về các giá trị hiện đại. Nhìn chung, tính hiện đại là sự thay đổi hệ hình tư duy, hệ thống giá trị, sự hình thành một giai đoạn văn hóa mới trong đời sống dân tộc và nhân loại.
Tuỳ theo bối cảnh của mỗi nền văn hóa mà tính hiện đại có nội dung khác nhau” [78, tr. Cần hiểu rằng, hiện đại không chỉ đơn thuần là những yếu tố du Luan van 15 nhập từ phương Tây, mà nó gắn liền với nhu cầu cụ thể của xã hội đương thời. Hiện đại là nền tảng của sự phát triển, bao gồm toàn bộ những đặc trưng, yêu cầu của một xã hội hiện đại, ví dụ như: tự do, dân chủ, cá nhân, cái tôi, đối thoại,. Văn học hiện đại đi vào khai thác những khái niệm, phạm trù ấy.
Vấn đề xử lý mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại là vô cùng cần thiết để có thể phát triển một nền văn học nghệ thuật phát triển và mang dấu ấn dân tộc. Quá trình hiện đại hoá văn hoá, văn học cần có thời gian để hoàn thành. Điều cần làm là tiếp nhận những tư duy mới, hiện đại, khắc phục những cái cũ kỹ, không hợp thời, nhưng đồng thời cũng phải nâng cao ý thức dân tộc, gìn giữ và phát huy sáng tạo những giá trị dân tộc lên ngang tầm thời đại. Nói rõ hơn về mối quan hệ giữa truyền thống và hiện đại, hai khái niệm này vốn không đối lập, mà ngược lại, có quan hệ gắn bó, kế thừa và phát triển.
Trên một phương diện nào đó, mối quan hệ ấy là biểu hiện của tính dân tộc trong thơ ca, vì “Tính hiện đại thực chất cũng là tính dân tộc hình thành từ truyền thống, mang đặc điểm và giá trị văn hóa truyền thống với những bản sắc độc đáo của mỗi dân tộc, nhưng nó đã được phát triển, hiện đại hóa cho phù hợp với nhu cầu xã hội mới” [67, tr. Như đã giải thích ở trên, truyền thống là những nét đặc trưng, giàu bản sắc của từng dân tộc, xét rộng ra, truyền thống là một phần của tính dân tộc. “Nếu như tính dân tộc là diện mạo tinh thần trong văn học của một dân tộc thì tính truyền thống là những nét đặc trưng và đặc sắc nhất trong diện mạo tinh thần của dân tộc ấy. Nó không chỉ được bảo lưu mà còn luôn tiếp biến và phát triển trong mối quan hệ hữu cơ với tính hiện đại” [67, tr.
Không chỉ nói riêng trong đời sống hay văn học trong bất cứ lĩnh vực nào, nếu hiện đại phủ nhận truyền thống sẽ đánh mất đi cái riêng bản sắc của một dân tộc, ngược lại truyền thống cần được tiếp biến và phát triển cho phù hợp với đời sống hiện đại. Truyền thống và hiện đại như vậy, không hề xung đột, mâu thuẫn nhau. “Tính dân tộc luôn luôn là động lực bên trong của tính hiện đại và tính hiện đại là hệ giá trị, phương hướng nâng cao tính dân tộc” [78, tr. Theo quy luật tự nhiên, Luan van 16 văn học vẫn phát triển theo phương châm truyền thống và hiện đại song đôi.
Người nghệ sĩ hiểu được mối quan hệ giữa hai yếu tố này sẽ tạo động lực cho sự đổi mới. Những năm cuối của thế kỉ XX, hiện đại hóa diễn ra trên mọi phương diện của cuộc sống. Trong bối cảnh vô cùng phức tạp của hội nhập quốc tế, văn hóa phương Tây du nhập ào ạt vào Việt Nam bằng nhiều con đường và chi phối nhiều mặt, trong đó có văn học nghệ thuật. Với định hướng xây dựng một nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, các nghệ sĩ có thể tự tin trong sáng tạo, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đồng thời khai thác triệt để tinh hoa truyền thống để làm nên những tác phẩm mới hơn, có giá trị hơn.
Từ những phân tích về truyền thống và hiện đại trong văn học, người viết đi vào lí giải khái niệm truyền thống và hiện đại trong kịch. Kịch là một thể loại mới trong tiến trình phát triển văn học của nước ta, chỉ mới xuất hiện từ những năm 20 của thế kỉ XX, nên trong lịch sử từ văn học dân gian đến trung đại, không có sự xuất hiện của thể loại kịch. Những ảnh hưởng từ truyền thống đến kịch đều bắt nguồn từ những loại hình biểu diễn sân khấu dân gian như tuồng, chèo,… Chính bởi những sự khác biệt từ hình thức đến nội dung khiến kịch Việt Nam trở nên đặc sắc, mang bản sắc dân tộc, khác với kịch của phương Tây. Về khía cạnh văn học, truyền thống thể hiện ở việc kế thừa vào phát huy đề tài, tư tưởng, quan điểm, các hình tượng quen thuộc trong văn học truyền thống, tất nhiên tác giả kịch đã có sự sáng tạo cho phù hợp hơn với thể loại và thời đại.
Những biểu hiện của hiện đại trong kịch, về nội dung, thể hiện qua việc phát triển đề tài mới mẻ, những tuyến nhân vật mới, thể hiện quan niệm về hiện thực đương thời. Còn dưới góc độ nghệ thuật, hiện đại thể hiện qua cách xây dựng ngôn ngữ kịch, phương thức biểu diễn, yếu tố thẩm mĩ của tác giả. Như vậy, hiện đại trong kịch Lưu Quang Vũ vừa chứa những biểu hiện của hiện đại trong kịch hiện đại Việt Nam nói chung, lại vừa có những sáng tạo riêng của tác giả. Luan van 17 Từ những khái niệm đã được giải thích ở trên, nhiệm vụ của luận văn là chỉ ra được những giá trị đặc sắc của kịch Lưu Quang Vũ trong tiến trình vận động từ truyền thống đến hiện đại.
Ngoài chỉ ra được biểu hiện của truyền thống và hiện đại, còn phải thấy được sự gắn kết hài hòa giữa hai yếu tố trên. Chỉ ra được truyền thống trong kịch Lưu Quang Vũ để thấy rằng, kịch của ông dù rất mới mẻ, hiện đại, đề cấp đến những vấn đề nóng hổi, nhưng chưa bao giờ mất đi bản sắc. Và cũng chính từ những nét truyền thống ấy, ông đã biến tấu, vận dụng tinh tế để không bị cũ mòn, nhàm chán mà ngược lại còn chứa đựng được nhiều vấn đề của cuộc sống đương thời. Đặc điểm kịch của Lưu Quang Vũ có rất nhiều cái đặc sắc, nhưng trong giới hạn của luận văn này, người viết sẽ chỉ tập trung vào những nét tiêu biểu trong nội dung và nghệ thuật mà theo người viết, ở đó thể hiện được sự thừa hưởng truyền thống và phát triển phù hợp với hiện đại của Lưu Quang Vũ.