Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN, THỰC TIỄN VÀ TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGHỆ THUẬT TRANG TRÍ Ở LĂNG THIỆU TRỊ 1. Cơ sở lý luận và một số khái niệm về vấn đề nghiên cứu 1.Cơ sở lý luận Nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị từ góc độ thẩm mỹ với tư cách là đối tượng nghiên cứu của đề tài luận án được nhìn nhận là một hiện tượng văn hóa, ở đó thể hiện mối tương tác giữa các lĩnh vực mỹ thuật - kiến trúc trên nền tảng văn hóa Việt Nam, nó tồn tại và vận động trong một khu vực/vùng địa lý - văn hóa (tiểu vùng văn hóa xứ Huế nằm trong vùng văn hóa Trung Bộ của Việt Nam), với quan niệm như vậy NCS đã chọn một số lý thuyết, luận điểm làm cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình, đó là: 1.1 Lý thuyết nghiên cứu văn hoá vùng và phân vùng văn hóa Các nhà nghiên cứu Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Ngô Đức Thịnh. đã bàn về lý thuyết phân vùng văn hóa và nêu ra những khái niệm, luận điểm khoa học về vấn đề này. Dựa trên lý thuyết của các nhà nghiên cứu đi trước, cho thấy vùng văn hóa không hoàn toàn là vùng địa lý, càng không phải là vùng hành chính, bởi thế, ranh giới của nó không phải bao giờ cũng trùng với vùng hành chính.
Tuy nhiên, khi xem xét vùng văn hóa, nhất là các thành tố tác động tới vùng văn hóa cũng cần thiết xem xét thêm yếu tố hành chính, bởi vì ở mọi thời đại, khi phân chia địa giới hành chính từ xã, phường, huyện, tỉnh. đều rất chú trọng về yếu tố địa - văn hóa, địa - chính trị của các vùng đất ấy, góp phần tạo nên sự khác biệt văn hóa giữa vùng hành chính này với vùng hành chính khác. Các nghiên cứu thể hiện tính đặc thù của vùng văn hóa đã được xác định tạo nên cái hồn khí và tính cách riêng của vùng, và tập hợp các đặc trưng văn hóa ấy chính là tiêu chí để phân biệt các vùng văn hóa khác nhau. Để trở 13 thành một vùng văn hóa, các nhà nghiên cứu đều cho rằng: những giá trị đặc trưng (nổi trội) biểu hiện như một không gian văn hóa với những giá trị đồng dạng.
Theo những nguyên tắc và tiêu chí ấy, các nhà khoa học đã có nhiều công trình nghiên cứu về vùng văn hóa, không gian văn hóa riêng biệt của Việt Nam như: vùng văn hóa Nghệ Tĩnh, vùng văn hóa Bình - Trị - Thiên, đồng bằng sông Cửu Long, Tây Bắc, Việt Bắc, Tây Nguyên. Xuất phát từ vị thế địa lý - văn hóa có phần đặc biệt, Huế được các nhà nghiên cứu xem như một tiểu vùng văn hóa khá độc đáo mà thiên nhiên ban tặng cho xứ Huế một diện mạo, một giá trị thẩm mỹ riêng. Về mặt lịch sử, Huế là vùng đất hết sức đặc biệt trong vai trò là nơi địa đầu giao lưu với văn hóa Champa, với một số di tích còn lưu lại cho đến ngày nay. Từ những đặc điểm về điều kiện tự nhiên và lịch sử đã in dấu vào văn hóa của người dân xứ Huế.
Khi nhắc đến Huế, trước hết người ta hình dung ngay tới vùng đất mà nhà Nguyễn tạo dựng nên một hệ kinh thành còn lưu giữ được tương đối hoàn chỉnh với Kinh thành, cùng hệ thống các lăng tẩm… Tất cả những di sản văn hóa vật thể ấy đã thể hiện một nét riêng biệt, đồng thời thích ứng với thiên nhiên vốn khắc nghiệt xứ Huế. Bên cạnh đó, Huế còn nổi tiếng là trung tâm thu hút nhân tài của mọi miền đất nước, cũng là trung tâm giáo dục, sinh hoạt văn hóa của nhà Nguyễn. Ngoài ra, còn có các di sản văn hóa phi vật thể như: biểu diễn, lễ hội, tín ngưỡng, cách ăn mặc, ở… Tất cả các thành tố ấy đã tạo nên một kho tàng văn hóa quý giá của vùng đất Cố đô nói riêng và Việt Nam nói chung. Việc nghiên cứu vùng văn hóa Huế dựa trên luận điểm của lý thuyết giúp NCS nghiên cứu và lý giải về các giá trị nghệ thuật, thẩm mỹ trong trang trí lăng Thiệu Trị.
Với tư cách là một lăng tiêu biểu của thời Nguyễn, được hình thành, phát sinh, tồn tại trong văn hóa vùng miền xứ Huế vào thế kỉ XIX. Lý thuyết, luận điểm về mỹ thuật học Có thể nói, các yếu tố thẩm mỹ trong nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị chính là sự thể hiện theo một cách riêng - điều kiện lịch sử - văn hoá, phần nào thể hiện được quan niệm thẩm mỹ, tính đặc thù về phong cách sống của chủ thể đó. Trong phạm vi đề tài luận án, khi nghiên cứu về nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị chúng ta có thể thấy rằng giá trị tạo hình và hoa văn trang trí độc đáo, đặc trưng cùng ý nghĩa nhân văn và tượng trưng của đề tài mang một phong cách riêng in đậm dấu ấn, thể hiện những khát vọng và lý tưởng của một thời kỳ lịch sử với sự biến đổi phù hợp theo quan niệm thẩm mỹ cũng như ý nghĩa biểu hiện vương quyền của triều đại. Từ các luận điểm mỹ thuật học đã phần nào giúp NCS tiếp cận trực tiếp đến đối tượng nghiên cứu từ góc độ mỹ thuật mang tính chuyên ngành của nghệ thuật tạo hình tác động của phương pháp đến đối tượng nghiên cứu một cách hiệu quả.
Nghiên cứu mỹ thuật có một lợi thế là bám sát và xoáy sâu vào được các thuộc tính ngôn ngữ trong nghệ thuật tạo hình trang trí, tạo cơ sở cho việc lý giải một cách thuyết phục các kỹ thuật, các thủ pháp xử lý ngôn ngữ và biểu hiện hình tượng, trong đó cấu trúc hình thái của ngôn ngữ trang trí được nhận diện rõ nét nhất cả về chiều sâu không gian tạo hình, về đặc trưng thẩm mỹ ngôn ngữ và các thuộc tính của đường nét, hình mảng, nhịp điệu, trang trí, đồng thời nó cũng giúp NCS có thể đúc rút được những đặc điểm nổi bật tiêu biểu và bản chất nhất của đối tượng nghiên cứu. Tuy nhiên phương pháp mỹ thuật học có những hạn chế nhất định khi đánh giá về những đặc trưng văn hóa, lịch sử, tư tưởng thẩm mỹ và đời sống nội tâm, đặc trưng sáng tạo của nghệ nhân. Điều đó cũng cho thấy lý thuyết, luận điểm về mỹ thuật học nếu được vận dụng một cách nhuần nhuyễn đúng lúc và tạo nên bình diện tác động đa chiều thì sẽ góp phần vô cùng quan trọng đối với người nghiên cứu khi tiếp cận một cách có chiều sâu các nôi dụng cơ 15 bản. Mặt khác, luận điểm mỹ thuật học cũng không thể đứng độc lập một cách tuyệt đối mà nó phải có sự chia sẻ, tương tác với các phương pháp như: phương pháp thông tin, , phương pháp thống kê, điền dã thực địa, phân tích, đánh giá, so sánh, đối chiếu… Việc đánh giá, xác định là những phương pháp định hướng cho việc nghiên cứu của đề tài, ngoài ra giúp cho luận án đi vào tìm hiểu giá trị nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị ở Huế dưới góc độ chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật nên tác giả đã lựa chọn thêm một số lý thuyết, luận điểm khác của các nhà nghiên cứu mỹ thuật trong hệ thống cơ sở lý luận cho nghiên cứu của mình.
Khái niệm về tính biểu tượng, hình tượng, hoa văn trang trí 1. Khái niệm về tính biểu tượng Trong một số nghiên cứu về nghệ thuật trang trí kiến trúc truyền thống của một số tác giả đã trình bày luận điểm về tính biểu tượng trong nghệ thuật trang trí kiến trúc, biểu tượng là những tính chất đặc thù tiêu biểu nhất, tác phẩm nghệ thuật thông qua các tính chất đặc thù này để biểu hiện nội dung muốn truyền tải. Ước lệ là sự hiện thực hoá một cách cô đọng trong sáng tạo thẩm mỹ, khả năng biểu đạt cùng một nội dung của nhiều hệ thống ký hiệu bằng những phương tiện cấu trúc khác nhau. Biểu tượng là hình ảnh cụ thể trong đó bao hàm nhiều ý nghĩa, gây được ấn tượng sâu sắc đối với người xem.
Biểu tượng nghệ thuật được coi là ký hiệu thẩm mỹ đa nghĩa, bao gồm cái biểu đạt và cái được biểu đạt. Ước lệ và biểu tượng thường được dùng nhiều trong nghệ thuật và dần trở thành phương tiện diễn đạt có tính cô đọng, hàm súc, có sức khai mở rất lớn trong sự tiếp nhận của người xem. Các yếu tố được sử dụng trong nghệ thuật trang trí thường mang tính ước lệ với những mức độ khác nhau, một số được nhìn từ góc độ của mối liên hệ giữa việc sử dụng chúng một cách thông thường bên ngoài nghệ thuật và một số khác được nhìn vào ý nghĩa mà chúng có được đằng sau sự biểu hiện của các hình thức đã được sắp đặt theo chủ ý có yếu tố ước lệ. Theo đó, một 16 hệ thống biểu đạt ước lệ được sử dụng cho các yếu tố trong nghệ thuật trang trí, tạo hình nếu thành công, tất yếu sẽ dẫn dắt và chuyển tải những nội dung, những quy định mà đôi lúc người tiếp nhận không nhận ra, thay vào đó những nội dung, những quy định được xem là một cái gì đó vốn dĩ tự nhiên, phi ước lệ.
Chẳng hạn, con rồng thời Nguyễn ở nhiều công trình kiến trúc các nghệ nhân thể hiện sâu sắc, vẻ đẹp uy nghiêm, huyền diệu đặc trưng của biểu tượng. Nhưng hình tượng rồng lăng Thiệu Trị lại mang những điểm khác biệt so với hai thời kỳ trước như: sừng dài có chạc vòng cung cuộn tròn như ngọn sóng, mắt lồi to tròn với những đường nét sắc nhọn, râu và bờm căng đầy, vây lưng chạy dài suốt thân mình, móng rồng diễn tả sắc nhọn, hai chân trước ôm lấy quả cầu được mô phỏng theo hoa văn mai rùa, đuôi uốn lượn với những đường nét chạm sâu dài thẳng, với thân mập tròn đầy đặn, ít khúc kết hợp với những hoa văn mây chồng lên nhau, tạo cho hình tượng rồng bay bổng, nhẹ nhàng, thanh thoát và mang một vẻ đẹp hiền hòa nhưng vẫn không mất đi vẻ uy nghiêm, đặc trưng của biểu tượng chốn cung đình. Rồng chủ yếu là cách điệu thành hoa văn mây chồng nhiều lớp, những hình tượng đó chúng ta rất dễ bắt gặp trong quần thể lăng Thiệu Trị đúng với tinh thần như trong Từ điển biểu tượng văn hóa Thế giới, tác giả Jean Chevalier, Alain Gheerbrant đã đề cập: Là sức mạnh thần thánh, sáng tạo, xếp đặt, rồng đương nhiên là biểu tượng của đế vương… Thật vậy, rồng được gắn với sét (nó khạc ra lửa) và với sự phì nhiêu (nó mang mưa đến).