Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị - Huế thuộc chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật (mã số 9210101), do nghiên cứu sinh Nguyễn Vũ Lân thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Phan Thanh Bình tại Trường Đại học Mỹ thuật Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành năm 2023. Công trình được triển khai theo định hướng nghiên cứu định tính, kết hợp tiếp cận liên ngành giữa mỹ thuật học, lịch sử và văn hóa học.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng trong hệ thống kiến trúc lăng tẩm thời Nguyễn tại Huế, lăng Thiệu Trị (Xương lăng) đánh dấu giai đoạn chuyển đổi trong nghệ thuật tạo hình trang trí sau hai công trình tiền nhiệm là lăng Gia Long và lăng Minh Mạng. Tuy nhiên, trước thời điểm luận án được thực hiện, các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước chủ yếu tiếp cận quần thể di tích này dưới góc độ lịch sử hoặc giới thiệu văn hóa khái quát, chưa có công trình nào đi sâu khảo sát, phân tích toàn diện nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị về mặt tạo hình, chất liệu, đề tài và các giá trị biểu đạt thẩm mỹ. Do đó, việc nghiên cứu chuyên sâu về đề tài này là yêu cầu cấp thiết nhằm bổ sung tư liệu khoa học và phục vụ công tác trùng tu, bảo tồn di tích.

Mục đích nghiên cứu của luận án là dựa trên cơ sở lý thuyết mỹ thuật học để xác định và phân tích nghệ thuật tạo hình trang trí mang tính đặc thù ở lăng Thiệu Trị, qua đó khẳng định vị trí của công trình trong sự tiếp nối của mỹ thuật thời Nguyễn giai đoạn thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX trong dòng chảy mỹ thuật truyền thống Việt Nam; đồng thời cung cấp nguồn dữ liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và hoạt động phục hồi, trùng tu di tích.

Để đạt được mục đích trên, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu:

  1. Hệ thống hóa các tài liệu liên quan đến nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị.
  2. Tìm hiểu nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị qua các mô típ trang trí, phong cách, hình tượng, đặc trưng, ý nghĩa nhân văn và tính tượng trưng của các đề tài.
  3. Xác định những giá trị tạo hình tiêu biểu trong trang trí kiến trúc lăng vua Thiệu Trị; đối chiếu, so sánh với các hệ thống lăng tẩm khác dưới thời Nguyễn nhằm làm rõ nét riêng biệt và đóng góp của di sản này.
  4. Xây dựng luận cứ khoa học cho hoạt động trùng tu, tôn tạo lăng Thiệu Trị nói riêng và di sản kiến trúc thời Nguyễn ở Huế nói chung.

Tác giả đặt ra 4 câu hỏi nghiên cứu:

  1. Nghệ thuật trang trí thời Thiệu Trị có những đặc điểm nổi bật gì so với trang trí lăng tẩm khác dưới thời Nguyễn?
  2. Nho giáo là tư tưởng chủ đạo, nhưng tại sao Phật giáo và Đạo giáo có ảnh hưởng khá rõ nét đến nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị? Yếu tố Phật giáo in đậm nét trong hệ thống trang trí kiến trúc qua ý nghĩa đề tài và cách thức thể hiện như thế nào?
  3. Yếu tố Champa đã xuất hiện như thế nào trên các công trình kiến trúc trang trí lăng Thiệu Trị?
  4. Nét đặc sắc và nổi bật của nghệ thuật trang trí dân gian ở lăng Thiệu Trị đã thể hiện sự tiếp biến và tương tác qua lại như thế nào?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu gồm 4 nội dung tương ứng:

  1. Luận án chỉ ra phong cách riêng của nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị so với các lăng tẩm khác thời Nguyễn qua nghệ thuật nề họa, pháp lam, chạm khắc gỗ thô mộc, đồ đồng, và hệ thống bát bửu đan xen theo lối bố cục “Nhất thi, nhất họa” chạm nổi trên gỗ.
  2. Đặc điểm riêng về nghệ thuật tạo hình, kiến trúc, mô típ trang trí hoa văn phản ánh sự ảnh hưởng của văn hóa Champa hoặc Trung Hoa cùng quá trình Việt hóa.
  3. Ảnh hưởng Phật giáo trong trang trí lăng Thiệu Trị tạo nên nét riêng trong nghệ thuật thời Nguyễn; các hoa văn được chọn lọc hài hòa, gắn kết với tư tưởng Phật giáo, làm sáng tỏ các giá trị tư tưởng và đặc trưng thẩm mỹ.
  4. Tính dân gian trong trang trí lăng Thiệu Trị góp phần định hình phong cách tạo hình, bố cục và không gian họa tiết gần gũi với đời sống, làm tăng tính chất đặc trưng trong kiến trúc lăng.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị - Huế, tập trung vào các khía cạnh chất liệu tạo hình, nội dung đề tài và hiệu quả biểu đạt thẩm mỹ.
  • Phạm vi không gian: Không gian ngoại thất và nội thất gắn liền với kiến trúc tại lăng Thiệu Trị (hội họa, điêu khắc, trang trí chất liệu); mở rộng liên hệ, đối chiếu với một số lăng tẩm và công trình kiến trúc liên quan thời Nguyễn tại Huế.
  • Phạm vi thời gian: Trọng tâm là thời gian xây dựng và hoàn thiện lăng Thiệu Trị (năm 1848), đồng thời mở rộng khảo sát giai đoạn trị vì của vua Thiệu Trị (1841 - 1847), các thời kỳ tiền nhiệm (Gia Long, Minh Mạng) và kế nhiệm (Tự Đức, Khải Định) để nhận diện sự tiếp biến tạo hình.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tổng quan tài liệu trong luận án được phân chia theo hai giai đoạn lịch sử chính:

Giai đoạn trước năm 1975:

  • Nguồn tư liệu thời Pháp thuộc gắn liền với tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Hué (BAVH) hoạt động từ năm 1913 đến năm 1944 (gồm 31 tập, khoảng 15.000 trang), trong đó bộ đầu tiên do Léopold Cadière chủ biên đã tập hợp nhiều bài khảo cứu về mỹ thuật và văn hóa Huế. Đáng chú ý có bài viết "Lăng Thiệu Trị" của G. Langrand đăng trên BAVH tập XXVI, khảo sát cấu trúc địa lý, cảnh quan và vị trí phong thủy của công trình.
  • Các khảo cứu của học giả người Pháp về mỹ thuật truyền thống Việt Nam: H. Bernanose với Les Arts décoratifs au Tonkin (1922), C. Gravelle với L’Art Annamite (1925), H. Gourdon với L’Art de L’Annam (1932), và L. Bezacier với L’Art Vietnamien (1954). Trong đó, Bezacier xếp mỹ thuật cổ Huế vào giai đoạn phong cách cuối cùng của mỹ thuật truyền thống Việt Nam.

Giai đoạn sau năm 1975:

  • Nhóm công trình nghiên cứu lịch sử, văn hóa, kiến trúc và mỹ thuật Huế: Thái Văn Kiểm với Cố đô Huế (1984); Lê Văn Hảo với Huế (1985); Nguyễn Quân với bài viết "Tiếng nói của hình và sắc" (1986); Chu Quang Trứ với Kiến trúc truyền thống (1996) và Văn hóa Việt Nam nhìn từ mỹ thuật (2002); Phan Cẩm Thượng với Văn minh vật chất của người Việt (2011); Nguyễn Quân và Phan Cẩm Thượng trong Mỹ thuật của người Việt (1989); Thi Long với Huế đẹp và Thơ (2009); Vũ Tam Lang với Bố cục tạo hình trong kiến trúc truyền thống; Lê Phục Quốc với Bách khoa thư Kiến trúc, Hội họa, Điêu khắc, Đồ họa, Nghệ thuật Trang trí; Trần Lâm Biền (2000) với nghiên cứu về hình tượng rồng; Trần Ngọc Thêm trong Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam; Lưu Trần Tiêu (2003); Nguyễn Phước Hải Trung (2003) khảo cứu về di sản Hán Nôm; Nguyễn Hữu Thông với Huế - Nghề và làng nghề thủ công truyền thống (1994) và Mỹ thuật Huế nhìn từ góc độ ý nghĩa và biểu tượng; Phan Thuận An với Kinh Thành Huế.
  • Nhóm bài viết đánh giá lại giá trị mỹ thuật triều Nguyễn: Lê Nam với "Ghi chép ở Huế" (1976); Nguyễn Tiến Cảnh với "Về vấn đề nghiên cứu mỹ thuật Huế" (1988) và "Mỹ thuật Huế, trung tâm mỹ thuật Việt Nam thế kỷ XX" (1993); Đặng Văn Bài với bài viết trong sách kỷ niệm 30 năm Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam (1996); Vĩnh Phối với "Những kiểu thức trang trí Huế" (1999); Dương Trung Quốc với bài viết về cách tiếp cận lịch sử triều Nguyễn (2001); chuyên đề "Đồ đồng Bảo tàng Cổ vật cung đình Huế" của Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế; Trần Đình Sơn với nghiên cứu về đồ sứ men lam Huế (2003); Đinh Hồng Hải với Nghiên cứu biểu tượng một số hướng tiếp cận lý thuyết; Trần Thị Hoài Diễm với luận án tiến sĩ về nghệ thuật chạm khắc đá tại lăng các bà hoàng thời Nguyễn (2014); Nguyễn Thiện Đức (2008) về kỹ thuật chạm khắc gỗ; Vĩnh Cao (2003) và Phùng Phu (2003) về bảo tồn di sản Huế.
  • Các công trình học giả quốc tế gần đây: Catherine Noppe và Jean-François Hubert với Art of Vietnam (2003); Martin Kemlein với An Dinh Hue’s Hidden Pearl (2010); Bảo tàng Quốc gia Hàn Quốc với Treasures of the Vietnamese Nguyen dynasty (2010) và Vietnam life & Culture (2010); Nancy Tingley với Arts of Ancient Viet Nam: From River Plain to Open Sea (2009).

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các nghiên cứu trước đây chỉ đề cập đến lăng Thiệu Trị một cách khái quát trong bức tranh chung của kiến trúc cố đô Huế, hoặc khảo sát riêng lẻ từng yếu tố chất liệu (như đồ đồng, đồ gỗ, đồ sứ) mà chưa có một công trình nào khảo sát hệ thống, chuyên biệt và toàn diện về ngôn ngữ tạo hình trang trí tại lăng Thiệu Trị. Luận án định vị nghiên cứu của mình vào việc giải mã toàn diện các đặc trưng tạo hình, phân loại đề tài, kỹ thuật chất liệu và các yếu tố tiếp biến văn hóa (Phật giáo, dân gian, Champa) hiện diện trên kiến trúc lăng Thiệu Trị.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của luận án được xây dựng từ hai trục lý thuyết chính:

  1. Lý thuyết nghiên cứu văn hóa vùng và phân vùng văn hóa: Dựa trên quan điểm học thuật của Trần Quốc Vượng, Trần Ngọc Thêm, Ngô Đức Thịnh, luận án nhìn nhận lăng Thiệu Trị như một hiện tượng nghệ thuật hình thành trong không gian tiểu vùng văn hóa xứ Huế thuộc vùng văn hóa Trung Bộ. Không gian này mang tính chất đặc thù do điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý - chính trị, và lịch sử giao lưu tiếp xúc văn hóa với văn hóa Champa.
  2. Lý thuyết mỹ thuật học: Được sử dụng để phân tích sâu các thuộc tính ngôn ngữ tạo hình trang trí, bao gồm cấu trúc đường nét, hình mảng, sắc độ, hình khối, nhịp điệu, không gian và thủ pháp xử lý chất liệu trên bề mặt kiến trúc.

Hệ thống khái niệm công cụ được tác giả định nghĩa và thao tác hóa gồm:

  • Tính biểu tượng (symbol): Trích dẫn quan điểm của Jean Chevalier, Alain Gheerbrant trong Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới, cùng các khảo cứu của Nguyễn Hữu Thông và Đinh Hồng Hải, luận án phân tích biểu tượng như một hệ thống ký hiệu thẩm mỹ đa nghĩa mang chức năng biểu đạt vương quyền và các ước vọng cát tường.
  • Hình tượng (image): Phân biệt với biểu tượng, hình tượng được xác định là phương thức tái hiện và khái quát hóa hiện thực khách quan thông qua các phương tiện tạo hình cụ thể, đóng vai trò là hạt nhân biểu đạt tư tưởng và giá trị nhân văn của tác phẩm.
  • Trang trí và hoa văn trang trí: Dựa trên phân tích từ tài liệu Những nền tảng của mỹ thuật, tác giả phân định trang trí thành hai hình thức (trang trí bề mặt hai chiều bằng đường nét và trang trí đắp nổi, chạm nổi, chạm lộng không gian ba chiều); xác định hoa văn là tổ hợp họa tiết có tính quy ước cao nhằm biểu đạt bản chất của đối tượng.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp tiếp cận liên ngành với các kỹ thuật cụ thể:

  • Khảo sát điền dã thực địa tại quần thể lăng Thiệu Trị và các di tích đối chiếu tại Huế; kết hợp phương pháp quan sát tham dự và điều tra hồi cố.
  • Phương pháp mỹ thuật học trong phân tích tạo hình, phân tích bố cục, đường nét, mảng khối và sự chuyển dịch màu sắc.
  • Phương pháp phân tích, tổng hợp, thống kê tư liệu thư tịch Hán Nôm, chính sử triều Nguyễn (Đại Nam nhất thống chí, Đại Nam thực lục, Đại Nam liệt truyện), hương ước, văn bia và các tài liệu khảo cứu đã công bố.
  • Phương pháp so sánh lịch sử - mỹ thuật nhằm làm rõ sự tiếp nối và biến đổi phong cách giữa lăng Thiệu Trị với các công trình thời Gia Long, Minh Mạng, Tự Đức.

Nguồn tư liệu thực tế của luận án bao gồm hệ thống đo đạc, ghi hình hiện trạng kiến trúc, điêu khắc, đồ án trang trí tại lăng Thiệu Trị, văn bia đá (Thánh Đức Thần Công), các bản dập hoa văn, cùng hệ thống cổ vật và hiện vật kiến trúc liên quan được khảo sát trực tiếp tại hiện trường.

Nội dung chính theo từng chương

Công trình / Hạng mục Thời gian xây dựng Vật liệu / Chất liệu chính Đặc điểm cấu trúc và đề tài trang trí tiêu biểu
Lăng Thiệu Trị (Xương lăng) 1848 (thi công dưới 10 tháng) Gỗ lim, đá Thanh, đồng, pháp lam, nề vữa, gốm, tranh gương Hai trục lăng và tẩm song song, không có la thành khép kín; diện tích 475 ha; trang trí rồng uốn lượn ít khúc mây chồng, bát bửu, bố cục “Nhất thi, nhất họa”.
Điện Biểu Đức (lăng Thiệu Trị) 1848 Gỗ lim sơn son thếp vàng, trần mai cua Kết cấu trùng thiềm điệp ốc, máng thừa lưu; cột gỗ thếp vàng hình tượng "long ẩn vân"; khám thờ chạm lộng tinh xảo; tranh gương đóng khung thếp vàng.
Nghi môn đồng (lăng Thiệu Trị) 1848 Đồng, đá, pháp lam Đặt trên cầu đá qua hồ; trụ đồng đúc nổi hình tượng rồng cuộn ôm thân trụ; kết hợp ô hộc pháp lam trên đỉnh.
Điện Long An (Bảo Định Cung) 1845 Gỗ lim để mộc (không sơn thếp) Nền cao 1,10m; kích thước 35,70m x 28m; 128 cột gỗ lim; chạm khắc 35 bài thơ chữ Hán của vua Thiệu Trị; mái trùng thiềm điệp ốc.
Chùa Diệu Đế 1842 Gỗ sơn thếp, nề vữa, khảm sành sứ Hoành phi "Diệu Đế Quốc Tự" (dài 2,15m, rộng 1,12m); chạm khắc rồng 5 móng; hoa văn hoa sen, hoa cúc, chữ Vạn, ô hộc "Nhất thi, nhất họa".
Tháp Phước Duyên (Chùa Thiên Mụ) 1844 Gạch mộc, đá Thanh, pháp lam Tháp hình bát giác 7 tầng, cao 22,26m; 56 cù dao bằng chất liệu pháp lam mang kiểu thức "vân hóa long" gắn ở góc đao mái.
Lăng Hiếu Đông (Tá Thiên Nhân hoàng hậu) 1841 - 1843 Gạch vữa, đá Thanh Bửu thành cao 3,6m, rộng 80m; cổng đá vòm cung; bình phong chạm rồng 5 móng kiểu long ẩn vân; đỉnh mái chạm hình tượng long hồi.
Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) 1840 - 1843 Đá Thanh, đồng, pháp lam, gỗ Quy hoạch trục thần đạo duy nhất; bia đá cao 3m, rộng 1,8m; nghi môn đồng chạm rồng uốn lượn; hơn 600 ô hộc thơ chữ Hán ngự chế.

Chương 1. Cơ sở lý luận, thực tiễn và tổng quan tình hình nghiên cứu nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị

Chương 1 có dung lượng 46 trang, tập trung giải quyết ba nội dung chính:

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận về phân vùng văn hóa xứ Huế, lý thuyết mỹ thuật học, cùng hệ thống khái niệm công cụ về tính biểu tượng, hình tượng nghệ thuật và hoa văn trang trí kiến trúc.
  • Khái quát bối cảnh lịch sử - văn hóa thời Nguyễn và diện mạo lăng Thiệu Trị. Lăng được khởi công ngày 11/2/1848 và hoàn tất ngày 19/11/1848 dưới thời vua Tự Đức tại chân núi Thuận Đạo (làng Cư Chánh, huyện Hương Thủy), với diện tích 475 ha. Điểm đặc thù trong cấu trúc mặt bằng là sự phân tách thành hai tiểu khuôn viên độc lập đặt song song cách nhau khoảng 100m (khu lăng mộ bên phải và khu tẩm thờ bên trái), không xây dựng la thành bao bọc khép kín mà tận dụng địa hình đồi núi tự nhiên. Hướng lăng tọa Thìn hướng Tuất (hơi chênh Càn - Tốn), đón thế phong thủy "chi huyền thủy" của hồ Nhuận Trạch, hồ Điện và hồ Ngưng Thủy qua hệ thống cầu đá (Chánh Trung Kiều, Đông Hòa Kiều, Tây Định Kiều). Khu tẩm thờ nổi bật với bình phong nề họa, hồ bán nguyệt, Hồng Trạch Môn và trung tâm là điện Biểu Đức được xây theo kết cấu trùng thiềm điệp ốc bằng gỗ lim sơn son thếp vàng, nối hai mái bằng máng thừa lưu trần vòm mai cua.
  • Phân tích các công trình mang phong cách nghệ thuật thời Thiệu Trị để thiết lập mối liên hệ tạo hình: khảo sát điện Long An với 128 cột gỗ mộc chạm trổ tinh xảo và 35 bài thơ ngự chế; chùa Diệu Đế với sự xuất hiện của hình tượng rồng năm móng và hoành phi sơn thếp; tháp Phước Duyên cao 22,26m với 56 cù dao pháp lam kiểu thức vân hóa long; lăng Hiếu Đông với đồ án rồng ẩn mây và cổng đá Thanh; cùng việc tiếp nối hoàn thiện lăng Minh Mạng với hệ thống nghi môn đồng và hơn 600 ô chữ thơ ngự chế.
  • Tổng quan lịch sử nghiên cứu mỹ thuật thời Nguyễn và lăng Thiệu Trị từ thời Pháp thuộc (BAVH, Léopold Cadière, G. Langrand) đến các học giả trong nước sau năm 1975, chỉ rõ khoảng trống về mặt khảo cứu mỹ thuật tạo hình chuyên biệt tại Xương lăng.

Chương 2. Nhận diện nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị

Chương 2 có dung lượng 46 trang, đi sâu nhận diện diện mạo nghệ thuật trang trí lăng Thiệu Trị qua ba phương diện:

  • Nhận diện qua nội dung đề tài chủ đạo: Tác giả phân loại và phân tích hệ thống đề tài tứ linh (long, lân, quy, phụng), tứ thời (mai, lan, cúc, trúc hoặc đào, sen, cúc, tùng), bát bửu (bát bửu Nho giáo, Phật giáo, Đạo giáo) và các họa tiết hoa lá, chim muông, dơi ngậm kim tiền. Đáng chú ý là hình tượng rồng tại lăng Thiệu Trị có đặc điểm tạo hình khác biệt: sừng dài uốn cong ngọn sóng, mắt tròn lồi, râu bờm căng đầy, thân mập tròn ít khúc, kết hợp với các lớp mây cuộn đan dày, thể hiện vẻ đẹp thanh thoát, mềm mại hơn so với hình tượng rồng thời Gia Long và Minh Mạng.
  • Nhận diện qua hình thức thể hiện bố cục “Nhất thi, nhất họa”, “Nhất tự, nhất họa”: Phân tích sự sắp xếp xen kẽ giữa một ô thơ (hoặc chữ Hán) với một ô hình vẽ/chạm khắc trên các dải liên ba, đố bản, cổ diêm và mặt thượng dập của điện Biểu Đức, Hồng Trạch Môn và nhà bia. Trong toàn bộ 19 công trình cung đình triều Nguyễn còn bảo lưu 2.967 ô hộc chạm khắc thơ văn chữ Hán, thời Thiệu Trị ghi nhận sự phát triển của bố cục ô hộc chữ nhật đứng nối tiếp quanh vách.
  • Hình thức biểu đạt qua các chất liệu tạo hình: Khảo sát chi tiết kỹ thuật xử lý chất liệu gỗ (chạm nổi, chạm lộng, để mộc ở nhà bia hoặc sơn son thếp vàng quỳ đỏ chu ở điện Biểu Đức); chất liệu đá Thanh (chạm khắc bia ký, lan can, cầu đá, tượng quan viên và linh thú sân chầu); chất liệu đồng (đúc nổi rồng cuộn trên thân trụ nghi môn và đôi tượng lân chầu); chất liệu pháp lam (ốp trang trí trên cổ diêm, nóc cổng, đỉnh nghi môn); chất liệu nề vữa và khảm sành sứ (trên bờ nóc, gờ mái, bình phong); cùng nghệ thuật vẽ tranh gương đóng khung thếp vàng treo trên các cột điện thờ.

Chương 3. Đặc điểm và giá trị nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị, luận bàn kết quả nghiên cứu

Chương 3 có dung lượng 44 trang, phân tích các giá trị bản chất và bàn luận kết quả nghiên cứu:

  • Đặc điểm nghệ thuật trang trí qua yếu tố dân gian và sự đặc sắc của các kiểu thức “hóa”: Phân tích sự thâm nhập của mỹ cảm dân gian vào nghệ thuật cung đình, thể hiện qua các đồ án cách điệu hóa linh hoạt như mây hóa rồng (vân hóa long), trúc hóa rồng, cúc hóa rồng, hoa lá hóa chim phượng, đem lại sự sinh động, giảm bớt tính quy phạm nghiêm ngặt của điển chế hoàng gia.
  • Giá trị dung hợp các yếu tố Phật giáo và ảnh hưởng từ nghệ thuật Champa: Luận án chỉ ra sự hiện diện dày đặc của biểu tượng hoa sen (trên đỉnh trụ biểu, bệ tượng, diềm cửa), hoa cúc, chữ Vạn bên cạnh các biểu tượng Nho giáo; đồng thời chỉ ra dấu vết giao lưu văn hóa Champa qua cách xử lý đường nét uốn lượn sóng nước, các khối gờ chỉ kiến trúc và tỷ lệ tạo hình bệ đá.
  • Mối quan hệ giữa chức năng thẩm mỹ, chức năng thực dụng và hiệu quả trang trí: Phân tích sự gắn kết hữu cơ giữa giải pháp kết cấu kiến trúc (như máng thừa lưu trần vỏ cua vừa che kín khớp nối hai mái vừa tạo nhịp điệu trang trí nội thất) với hiệu quả thị giác trang nghiêm của không gian thờ tự.
  • Luận bàn kết quả nghiên cứu: Đánh giá vị trí trung gian chuyển tiếp của phong cách mỹ thuật thời Thiệu Trị – kế thừa sự mẫu mực thời Minh Mạng nhưng bắt đầu mở rộng tính ước lệ, thanh thoát, mở đường cho sự phát triển của phong cách trang trí thời Tự Đức về sau; đồng thời cảnh báo tình trạng xuống cấp, phế tích của nhiều đơn nguyên tại lăng Thiệu Trị cần được can thiệp bảo tồn.

Kết quả và những đóng góp mới

Các đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học:

  • Luận án là công trình chuyên khảo đầu tiên trong chuyên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật nghiên cứu hệ thống, toàn diện và chuyên sâu về nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị - Huế.
  • Phân tích và làm sáng tỏ ngôn ngữ tạo hình trang trí đặc trưng của thời Thiệu Trị: sự phối hợp giữa kỹ thuật chạm khắc gỗ mộc với sơn thếp, nghệ thuật đúc đồng trên nghi môn, nghệ thuật pháp lam và nề họa; chỉ rõ sự chuyển biến của hình tượng rồng thời Thiệu Trị (thân tròn mập, ít khúc, đan xen mây cuộn nhiều lớp).
  • Xác lập cơ sở khoa học về tính dung hợp văn hóa trong mỹ thuật lăng Thiệu Trị: chỉ ra sự tương tác giữa tư tưởng Nho giáo chính thống với mỹ cảm dân gian, biểu tượng Phật giáo và ảnh hưởng tạo hình Champa.

Các đóng góp về mặt thực tiễn và kiến nghị giải pháp:

  • Luận án cung cấp hệ thống dữ liệu khảo sát hiện trạng, phân loại đề tài, quy cách hoa văn trang trí làm cứ liệu khoa học phục vụ trực tiếp cho hoạt động trùng tu, phục hồi các hạng mục phế tích tại lăng Thiệu Trị do Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế quản lý.
  • Cung cấp nguồn tư liệu học thuật phục vụ công tác nghiên cứu lịch sử mỹ thuật Việt Nam, giảng dạy chuyên ngành mỹ thuật tạo hình và lý luận mỹ thuật tại các cơ sở đào tạo đại học và sau đại học.
  • Tác giả kiến nghị công tác bảo tồn cần giữ vững nguyên tắc bảo tồn tính chân xác của vật liệu truyền thống (kỹ thuật nề vữa, pháp lam, sơn thếp, mộc truyền thống), tránh xu hướng phục hồi máy móc làm biến dạng phong cách mỹ thuật đặc trưng của thời kỳ Thiệu Trị.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về mặt hạn chế, luận án tự xác định các giới hạn xuất phát từ điều kiện thực tế của đối tượng nghiên cứu:

  • Hiện trạng bảo tồn của lăng Thiệu Trị có nhiều đơn nguyên quan trọng đã bị hủy hoại qua thời gian và chiến tranh, trở thành phế tích, khiến việc khảo sát một số mảng trang trí nội - ngoại thất không còn giữ được tính nguyên vẹn ban đầu.
  • Nguồn tư liệu ghi chép chi tiết về các phường thợ, nghệ nhân trực tiếp tham gia chế tác trang trí lăng Thiệu Trị trong chính sử triều Nguyễn còn hạn chế, chủ yếu phải dựa vào khảo sát thực địa và suy nguyên qua hiện vật.

Hướng nghiên cứu tiếp nối:

  • Mở rộng nghiên cứu so sánh đối chiếu sâu hơn về mặt kỹ thuật chất liệu pháp lam và đồ đồng giữa lăng Thiệu Trị với các công trình cùng thời kỳ ở khu vực Đông Á.
  • Ứng dụng các kết quả giải mã hoa văn, đề tài trang trí của luận án vào việc lập hồ sơ thiết kế kỹ thuật phục dựng chi tiết các công trình kiến trúc đã bị sụp đổ tại khu vực tẩm điện và lăng mộ Xương lăng.

Giá trị tham khảo

Luận án mang lại giá trị tham khảo cụ thể cho các nhóm đối tượng:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên ngành Lý luận và Lịch sử Mỹ thuật, Mỹ thuật ứng dụng, Di sản học: Luận án cung cấp khung phân tích tạo hình liên ngành, phương pháp tiếp cận hoa văn trang trí kiến trúc truyền thống và hệ thống tư liệu hình ảnh, bản vẽ chi tiết về mỹ thuật thời Nguyễn.
  • Đối với các nhà quản lý văn hóa, kiến trúc sư, chuyên viên bảo tồn tại Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế và các viện nghiên cứu di tích: Công trình là cẩm nang tra cứu về quy chuẩn kiểu thức, đề tài, tỷ lệ và chất liệu trang trí nguyên gốc, hỗ trợ đắc lực cho việc thẩm định dự án trùng tu lăng Thiệu Trị và các di tích thời Nguyễn.
  • Các phần có giá trị tham khảo cao nhất trong luận án gồm: phần khảo sát kỹ thuật xử lý chất liệu gỗ, đồng, pháp lam (Chương 2); phân loại đồ án bát bửu và bố cục “Nhất thi, nhất họa” (Chương 2); và các luận bàn về đặc điểm kiểu thức “hóa” cùng sự tiếp biến yếu tố Phật giáo - dân gian (Chương 3).

Câu hỏi thường gặp

  1. Lăng Thiệu Trị có cấu trúc quy hoạch không gian mặt bằng khác biệt như thế nào so với lăng Gia Long và lăng Minh Mạng? Khác với lăng Minh Mạng có cấu trúc khép kín trên một trục thần đạo duy nhất và có la thành bao bọc, lăng Thiệu Trị kế thừa cách bố trí của lăng Gia Long khi tách biệt khu lăng mộ và khu tẩm thờ thành hai tiểu khuôn viên độc lập nằm song song cách nhau khoảng 100m. Đồng thời, lăng Thiệu Trị không xây dựng tường la thành nhân tạo bao bọc toàn bộ mà sử dụng địa hình đồi núi, khe suối tự nhiên xung quanh làm la thành tự nhiên che chắn.

  2. Thời gian xây dựng lăng Thiệu Trị kéo dài bao lâu và diễn ra trong hoàn cảnh nào? Quá trình xây dựng lăng Thiệu Trị diễn ra nhanh chóng trong vòng chưa đầy 10 tháng (từ ngày 11/2/1848 đến ngày 19/11/1848) dưới thời vua Tự Đức. Nhờ chọn vị trí chân núi cận tiện và huy động tập trung lực lượng dân binh theo đúng di huấn của vua Thiệu Trị, chỉ sau 3 tháng thi công các công trình chủ yếu của lăng đã cơ bản hoàn thành.

  3. Hình tượng rồng trang trí tại lăng Thiệu Trị có những đặc điểm tạo hình nổi bật nào? Hình tượng rồng ở lăng Thiệu Trị có sừng dài uốn cong dạng ngọn sóng, mắt tròn lồi, râu bờm căng đầy, vây lưng chạy dài suốt thân, móng sắc nhọn. Thân rồng mập tròn, uốn lượn ít khúc và kết hợp hài hòa với các cụm mây chồng nhiều lớp, tạo nên dáng vẻ bay bổng, thanh thoát, hiền hòa nhưng vẫn bảo đảm tính uy nghiêm của biểu tượng vương quyền.

  4. Bố cục “Nhất thi, nhất họa” và “Nhất tự, nhất họa” được thể hiện như thế nào trong kiến trúc lăng Thiệu Trị? Bố cục này được thể hiện thông qua việc phân chia các dải gỗ liên ba, đố bản, cổ diêm thành từng ô hộc hình vuông hoặc chữ nhật nằm ngang/nằm dọc xen kẽ nhau. Trong đó, một ô khắc chữ Hán (thơ ngự chế hoặc chữ mang ý nghĩa tốt lành) được bố trí xen kẽ với một ô chạm nổi hoặc vẽ hình ảnh minh họa (hoa lá, chim muông, cổ vật, bát bửu).

  5. Chất liệu kim loại đồng được ứng dụng trang trí tại những vị trí nào ở lăng Thiệu Trị? Chất liệu đồng được ứng dụng tiêu biểu ở công trình nghi môn đồng bắc qua cầu đá dẫn vào lăng mộ, với các trụ đồng đúc nổi hình tượng rồng cuộn ôm lấy thân trụ kết hợp trang trí pháp lam ở phần trên, cùng đôi tượng lân bằng đồng chầu đặt trước tủ thờ trong nội thất điện Biểu Đức.

Kết luận

Luận án tiến sĩ Nghệ thuật trang trí ở lăng Thiệu Trị - Huế của tác giả Nguyễn Vũ Lân là công trình khảo cứu chuyên sâu, giải mã toàn diện các giá trị tạo hình, chất liệu và biểu tượng trang trí tại Xương lăng. Dựa trên phương pháp tiếp cận liên ngành mỹ thuật học và văn hóa vùng, luận án làm rõ nét đặc thù của phong cách nghệ thuật thời Thiệu Trị qua sự dung hợp giữa mỹ thuật cung đình Nho giáo với yếu tố dân gian, Phật giáo và ảnh hưởng văn hóa Champa. Kết quả nghiên cứu cung cấp hệ thống luận cứ khoa học có giá trị lý luận và thực tiễn, đóng góp thiết thực cho công tác bảo tồn, phục hồi di sản kiến trúc thời Nguyễn tại Cố đô Huế.