Chương 1: Những vấn đề lý luận chung về quản lý di tích lịch sử văn hóa và tổng quan di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tứ Kỳ ở phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chương 2: Thực trạng quản lý di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tứ Kỳ ở phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. Chương 3: Quan điểm và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý di tích kiến trúc nghệ thuật chùa Tứ Kỳ ở phường Hoàng Liệt, quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội. 9 Ch ơng 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ DI TÍCH LỊCH SỬ VĂN HÓA VÀ TỔNG QUAN DI TÍCH KIẾN TRÚC NGHỆ THUẬT CHÙA TỨ KỲ Ở PHƯỜNG HOÀNG LIỆT QUẬN HOÀNG MAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI 1.
Những vấn đề lý luận chung về quản lý i tí h l h sử văn hóa 1. Một số khái niệm - Khái niệm di sản văn hóa: Khái niệm di sản văn hóa là một thuật ngữ khoa học được biết đến từ cuộc cách mạng tư sản Pháp 1789, xuất phát từ quá trình tịch thu được tài sản của tầng lớp quý tộc, tăng lữ, nhà thờ giáo hội để tập trung tất cả lại thành tài sản quốc gia sau cách mạng tư sản Pháp đã dần dần hình thành khái niệm di sản. Để tránh sự thất thoát, chính phủ Pháp đã tiến hành kiểm kê, mô tả sắp xếp, phân loại các công trình lịch sử để khôi phục và bảo tồn di sản quốc gia. Sau này khái niệm di sản văn hóa đã được Công ước về bảo vệ di sản văn hoá và thiên nhiên thế giớicủa UNESCO, năm 1972 định nghĩa như sau “Các di tích, các công trình kiến trúc, các công trình điêu khắc và hội hoạ, các yếu tố hoặc các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, các dấu khắc, các nơi cư trú hang động và tổ hợp các đặc điểm có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch sử, nghệ thuật hay khoa học” [55].
Ở Việt Nam, di sản văn hóa được quy định trong phần nói đầu của Luật Di sản văn hóa, ban hành năm 2001, sửa đổi bổ sung năm 2009: “Di sản văn hóa Việt Nam là tài sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là bộ phận của di sản văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước của nhân dân ta”. Điều 1, Luật Di sản văn hóa nói cụ thể hơn: “Di sản văn hóa bao gồm di sản văn hóa phi vật thể và di sản văn hóa vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ khác ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” [34, tr. 10 Từ nhận thức trên, di sản văn hóa có những đặc điểm như sau: 1/Tính biểu trưng đại diện cho mỗi nền văn hóa của một quốc gia, một dân tộc. 2/Tính đặc trưng của dui sản trong thời kỳ lịch sử nhất định.
3/Tính truyền thống lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác. 4/Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau, dễ dàng bị hư hỏng, bị phá hủy và bị mai một đi do những tác động khác nhau của con người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học. Do vậy, vấn đề đặt ra đối với các nhà quản lý văn hóa phải có chính sách và giải pháp để bảo tồn và phát huy giá trị của di tích, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của địa phương trong thời kỳ mới. - Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa: Di tích lịch sử - văn hóa là một thuật ngữ khoa học được sử dụng phổ biến ở Việt Nam.
Theo Từ điển bách khoa Việt Nam, khái niệm di tích: Khảo cổ, bảo tàng là các loại dấu vết của quá khứ, là đối tượng nghiên cứu của khảo cổ học, sử học. Phần lớn di tích khảo cổ học đều bị chôn vùi trong lòng đất, nhưng cũng có một số di tích ở trên mặt đất như đền, tháp, chùa, các pho tượng, các bức vẽ ở hang đá… là di sản văn hóa - lịch sử, được pháp luật bảo vệ, không ai được tùy tiện thay đổi, phá hủy [49]. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa: “Là những công trình xây dựng, hiện vật, đồ vật… có liên quan đến những sự kiện lịch sử, quá trình phát triển văn hóa, xã hội của một dân tộc, một đất nước” [49, tr. Tại Điều 4, Luật Di sản văn hóa Việt Nam, được sửa đổi bổ sung năm 2009 có ghi: “Di tích lịch sử - văn hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật, bảo vật quốc gia thuộc công trình, địa điểm có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học” [34, tr.
Về bản chất, di tích là một không gian vật chất, cảnh quan thiên nhiên cụ thể. Địa điểm đó và cảnh quan thiên nhiên có 11 sự kết hợp với các công trình kiến trúc hoặc địa điểm ghi dấu hoạt động của con người nằm trong khu vực cảnh quan thiên nhiên đó. Phân loại di tích lịch sử văn hóa theo Luật Di sản Văn hóa gồm có: Di tích khảo cổ, di tích lịch sử, di tích kiến trúc nghệ thuật, danh lam thắng cảnh. Đối tượng nghiên cứu của luận văn là Chùa Tứ Kỳ ở quận Hoàng Mai thuộc loại hình di tích kiến trúc nghệ thuật (theo quyết định được công nhận năm 1995).
Từ các khái niệm trên có thể khẳng định rằng di tích lịch sử - văn hóa là tài sản vô giá của mỗi cộng đồng, quốc gia dân tộc. Do đó, khi tiến hành công tác nghiên cứu, quản lý thì yêu cầu chủ thể phải tiếp cận cận một cách chân xác hệ thống giá trị của di tích lịch sử - văn hóa. - Khái niệm quản lý: Quản lý là một hoạt động nhằm đảm vận hành một hệ thống, một tổ chức một cách hiệu quả và khoa học. Như vậy quản lý được hiểu như là: “Chức năng và hoạt động của hệ thống có tổ chức nhằm bảo đảm giữ gìn một cơ cấu ổn định nhất định, duy trì sự hoạt động tối ưu và đảm bảo thực hiện những chương trình và mục tiêu của hệ thống đó” [49, tr.
Trong đời sống xã hội, hoạt động quản lý bao gồm nhiều phương diện nhu cầu, đòi hỏi nhiều lĩnh vực hoạt động của con người để đáp ứng nhu cầu đó. Mỗi lĩnh vực hoạt động này đều đặt dưới sự ch huy của một cơ chế quản lý xã hội. Trước đây đã có nhiều học giả, nhà nghiên cứu đưa ra khái niệm về quản lý, tuy nhiên ở một góc độ nào vấn đề quản lý có hai vấn đề cơ bản sau: 1/ Quản lý là một hoạt động có hướng đích của chủ thể quản lý tác động đến đối tượng quản lý nhằm đạt được mục tiêu của tổ chức. 2/ Quản lý là phương thức làm cho những hoạt động hoàn thành với hiệu quả cao, bằng và thông qua những người khác.
Từ những quan điểm trên, có thể hiểu: Quản lý là quá trình tác động có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý để đạt được mục 12 tiêu nhất định thông qua hệ thống luật pháp và các quy định có tính pháp lý. Ngoài ra, quản lý được hiểu: Là quá trình hoàn thành công việc thông qua con người và làm việc với con người. Đó là cách thức tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con người nhằm đạt được những mục tiêu đặt ra. Như vậy, quản lý là hình thức vận dụng, khai thác các nguồn nhân lực để đạt được những kết quả như mong muốn.
Hiểu theo nghĩa hẹp thì quản lý là sự tác động của con người hoặc (cơ quan quản lý) đối với con người và tập thể người nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt có hiệu quả để giải quyết các nhiệm vụ đề ra. Đồng thời quản lý cũng được hiểu như là sự trông coi, giữ gìn theo những yêu cầu nhất định của tổ chức hoặc cá nhân nhằm điều hành các hoạt động theo yêu cầu nhất định. Trong lĩnh vực quản lý có quản lý kinh tế, quản lý xã hội, quản lý các đối tượng khác nhau. Quản lý xã hội là sự tác động đến xã hội, nhằm mục đích duy trì những đặc điểm về chất, điều ch nh, hoàn thiện những đặc điểm đó của xã hội.
Do tính chất xã hội lao động của con người, quản lý tồn tại trong mọi xã hội ở bất cứ lĩnh vực nào và trong bất cứ giai đoạn phát triển nào. Lao động của con người luôn là lao động tập thể, mỗi người có một vị trí nhất định trong tập thể, nhưng có quan hệ và có giao tiếp với người khác, tập thể khác trong quá trình lao động. Vì vậy, cần có sự quản lý để duy trì tính tổ chức, sự phân công lao động, các mối quan hệ giữa người với ngườitrong một tổ chức xã hội và giữa các tổ chức xã hội trong quá trình sản xuất vật chất, trong quá trình xã hội, nhằm đạt mục tiêu nhất định [49,tr 580]. - Khái niệm quản lý di tích lịch sử - văn hóa: Theo A.Radugin, quản lý văn hóa là: Sự tác động ch huy và quản lý đối với hoạt động kinh tế trong văn hóa, trong điều kiện nhà nước là chủ thể.
Lịch sử nhân loại đã 13 chứng minh rằng việc tham gia này là cần thiết, nhưng vấn đề ở chỗ mức độ và hình thức tham gia như thế nào để đảm bảo mối cân bằng giữa việc lãnh đạo của nhà nước với việc tự quản của đơn vị văn hóa trong xã hội và hoàn cảnh lịch sử cụ thể [48, tr. Theo tác giả quản lý di sản văn hóa thực chất là tên gọi thực hành trong quản lý văn hóa. Nó là một nhánh của quản lý nguồn tài nguyên văn hóa như bảo tàng học, khảo cổ học, di tích và kiến trúc nghệ thuật. Trọng tâm quản lý là nhận diện, phân loại, đánh giá các giá trị đặc trưng của di sản văn hóa.
Đồng thời, phân tích, đánh giá, cũng như đề xuất về cơ chế, chính sách bảo tồn các giá trị di sản văn hóa. Thực hiện cơ chế giám sát trong quá trình thực hiện bảo tồn, phát huy giá trị của di sản văn hóa.