Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả Lê Thị Hiền với đề tài "Khảo sát và nghiên cứu một số truyện thơ tiêu biểu của người Thái ở Việt Nam" được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn thuộc Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2013, dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Lê Chí Quế và TS. Nguyễn Thị Nguyệt. Đề tài thuộc chuyên ngành Văn học dân gian, mã số 62 22 36 01.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Truyện thơ là thể loại có vị trí quan trọng trong kho tàng văn học Việt Nam, đánh dấu bước phát triển mới của nền văn học các dân tộc gồm dân tộc Kinh và các dân tộc thiểu số. Việc nghiên cứu thể loại truyện thơ theo từng tộc người đã có những tiền lệ với hai công trình tiêu biểu: chuyên luận về truyện Nôm của GS. Kiều Thu Hoạch và công trình nghiên cứu truyện thơ Tày của PGS. Vũ Anh Tuấn. Tuy nhiên, thể loại truyện thơ của nhiều dân tộc thiểu số khác như Thái, Chăm, Mường, Mông vẫn chưa được giới nghiên cứu khảo sát một cách toàn diện và có hệ thống.

Ở Việt Nam, dân tộc Thái là một trong những dân tộc thiểu số có số dân đông (đứng sau dân tộc Tày), sở hữu một kho tàng văn học dân gian phong phú, trong đó truyện thơ chiếm số lượng lớn. Kể từ khi tác phẩm Xống chụ xon xao được công bố lần đầu năm 1957, truyện thơ Thái đã thu hút sự chú ý của nhiều nhà sưu tầm và giới nghiên cứu. Mặc dù vậy, đa số các công trình trước đó chỉ dừng lại ở các bài giới thiệu đầu sách, bài báo tạp chí hoặc khảo sát từng tác phẩm đơn lẻ trên bản dịch tiếng phổ thông. Khoảng trống nghiên cứu đặt ra là chưa có công trình nào khảo sát toàn cảnh thể loại truyện thơ Thái từ lịch sử tộc người, văn hóa, diện mạo số lượng, đặc điểm thi pháp đến việc đặt tác phẩm trong tương quan so sánh loại hình với truyện thơ của các nhánh tộc người Thái ở khu vực Đông Nam Á và Nam Trung Quốc.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận án xác định các mục tiêu nghiên cứu cụ thể được đánh số như sau:

  1. Xây dựng một cái nhìn toàn diện, hệ thống về toàn bộ truyện thơ của dân tộc Thái đã được sưu tầm và công bố tại Việt Nam.
  2. Làm rõ các đặc điểm thi pháp thể loại của truyện thơ Thái trên các phương diện kết cấu cốt truyện, loại hình nhân vật và tổ chức ngôn ngữ nghệ thuật thông qua khảo sát văn bản.
  3. Tiến hành so sánh loại hình truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam với truyện thơ của người Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam (Trung Quốc) nhằm chỉ ra những điểm tương đồng, dị biệt về nguồn gốc đề tài, cốt truyện, nhân vật và lý giải nguyên nhân của hiện tượng đó.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam, trong đó trọng tâm đi sâu khảo sát hệ thống 21 tác phẩm tiêu biểu đã được phiên âm và dịch sang tiếng phổ thông.
  • Phạm vi nội dung: Tập trung nghiên cứu đặc điểm thi pháp thể loại (kết cấu cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ) và đối sánh loại hình khu vực.
  • Phạm vi không gian: Địa bàn cư trú lịch sử và hiện nay của người Thái tại vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Yên Bái, Lào Cai, Hòa Bình) và vùng miền núi hai tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An.
  • Phạm vi thời gian và nguồn tư liệu: Các văn bản truyện thơ Thái được sưu tầm, xuất bản từ năm 1957 đến năm 2011; tư liệu chữ Thái cổ thu thập qua các chuyến điền dã thực tế giai đoạn 2010 - 2011; các tư liệu văn học dân gian của Lào, Thái Lan, Vân Nam (Trung Quốc) cùng các thể loại truyện Nôm Kinh, truyện thơ Tày, Mường, Mông, Chăm.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Lịch sử sưu tầm và công bố truyện thơ Thái ở Việt Nam

Công tác sưu tầm, dịch thuật và xuất bản truyện thơ Thái tại Việt Nam trải qua quá trình hơn nửa thế kỷ với sự đóng góp của nhiều thế hệ dịch giả và nhà nghiên cứu:

Năm công bố Tác phẩm tiêu biểu Người thực hiện / Cơ quan xuất bản Đặc điểm văn bản
1957 Xống chụ xon xao Điêu Chính Ngâu dịch / Nxb Hội Nhà văn Bản dịch tiếng phổ thông đầu tiên được xuất bản.
1958 - 1961 Xống chụ xon xao Điêu Chính Ngâu, Hà Hem, Cầm Biêu, Lò Văn Cậy, Mạc Phi Bản 1958 dài hơn bản 1957 là 30 câu; bản 1960 chỉnh sửa nhất quán tiếng Thái; bản 1961 (Mạc Phi dịch, Nxb Văn hóa) khảo dị và chú thích chi tiết.
1962 - 1964 Khun Lú nàng Ủa Mạc Phi dịch / Sở VH khu tự trị Thái Mèo (1962), Nxb Văn học (1964) Bản 1962 in máy tiếng Thái dài 1912 câu tại Mường La; bản dịch 1964 kèm phụ lục truyện cổ dân tộc Xá.
1973 - 1977 Khăm Panh Bùi Văn Tiên, Vương Anh, Hoàng Anh Nhân / Ty VH Thanh Hóa (1973), Nxb Văn hóa dân tộc (1977) Có phiên âm tiếng Thái và bản dịch tiếng phổ thông, Vũ Ngọc Khánh viết lời giới thiệu.
1979 Tiễn dặn người yêu, Chàng Lú nàng Ủa, Khăm Panh, Tóng Đón Ăm ca Nông Quốc Chấn chủ biên, Lò Văn Sỹ, Mạc Phi, Bùi Văn Tiên... / Tuyển tập VHDT ít người (Quyển 2) Hợp tuyển truyện thơ các dân tộc thiểu số.
1990 Ú Thêm Hà Văn Ban, Hoàng Anh Nhân sưu tầm, dịch / Nxb KHXH Có nguyên bản chữ Thái, phiên âm và dịch nghĩa; Đặng Nghiêm Vạn giới thiệu.
1993 Hiến Hom Cầm Đôi Lò Văn Cậy sưu tầm, Đinh Văn Ân dịch / Nxb Văn hóa dân tộc Bản phiên âm chữ Thái gồm 1520 câu thơ thu thập tại Sơn La ngày 24/6/1990.
1996 Trông Mường, Chim Phượng Hoàng, Tạo Hún Lu nang Ùa Piểm, Nàng Căm chàng Ín La Quán Miên sưu tầm, dịch / Nxb Nghệ An In trong tập Truyện thơ và đồng dao Thái ở miền Tây Nghệ An.
1997 - 1998 Quắm Khắp xư (3 tập chữ Thái cổ) Hội VHNT và Sở VHTT-TT Sơn La Tập 1 gồm 10 truyện; Tập 2 gồm 11 truyện; Tập 3 gồm 2 truyện (tổng cộng 23 truyện thơ).
1999 Ý Nọi nàng Xưa Lò Ngọc Duyên / Nxb Văn hóa dân tộc Đầy đủ lời giới thiệu, tóm tắt, bản dịch, phiên âm và chữ Thái cổ.
2003 - 2009 Tình anh em (2003), Cẩu tô cốp (2009) Tô Hợp (2003), Vi Hoàng Sương (2009) Xuất bản có phiên âm tiếng Thái và bản dịch tiếng phổ thông.
2010 - 2011 Bộ Truyện thơ dân tộc Thái (3 tập, 2010), Tạo Sông Ca nàng Si Cáy (2010), Khủn Tinh (2011), Kén Kẻo (2011) Đỗ Thị Tấc, Điêu Văn Thuyên, Lương Thị Đại, Quán Vi Miên, Vương Trung Bổ sung nhiều tác phẩm có phiên âm và bản dịch sang tiếng phổ thông.

Theo thống kê của luận án, tổng số truyện thơ Thái được sưu tầm và xuất bản là 33 tác phẩm, trong đó có 12 tác phẩm mới dừng lại ở văn bản chữ Thái cổ và 21 tác phẩm đã có bản phiên âm cùng bản dịch tiếng phổ thông.

Lịch sử nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số và truyện thơ Thái

  • Nghiên cứu truyện thơ các dân tộc thiểu số nói chung:
    • Nông Quốc Chấn và Phan Đăng Nhật (1980) trong Lịch sử văn học Việt Nam (tập 1) và Phan Đăng Nhật (1981) trong Văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam phân chia truyện thơ thành 3 nhóm đề tài (tình yêu, nghèo khổ, chính nghĩa) và chỉ ra nguồn gốc kết hợp giữa tự sự của truyện kể và trữ tình của dân ca.
    • Võ Quang Nhơn (1983) trong giáo trình Văn học dân gian các dân tộc ít người ở Việt Nam phân chia 4 nhóm truyện thơ theo phương thức diễn xướng, nguồn gốc và mối liên hệ với truyện Nôm Kinh.
    • Lê Trường Phát (1997) với luận án tiến sĩ Đặc điểm thi pháp truyện thơ các dân tộc thiểu số đã khảo sát 20 tác phẩm (chủ yếu gồm 6 truyện Thái và 14 truyện Tày), xác lập mô hình kết cấu bi kịch ba chặng đặc trưng và nêu các nguyên tắc phương pháp luận khi tiếp cận ngôn ngữ tác phẩm qua bản dịch.
    • Nguyễn Xuân Kính (Tổng tập Văn học dân gian các dân tộc thiểu số Việt Nam, tập 21) đưa ra định nghĩa toàn diện về thể loại và tổng thuật công tác sưu tầm, xuất bản.
    • Vũ Anh Tuấn nghiên cứu chuyên sâu về nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp của 60 truyện thơ Tày.
  • Nghiên cứu chuyên biệt về truyện thơ Thái:
    • Nghiên cứu văn bản và nội dung từng tác phẩm: Điêu Chính Ngâu (1957), Mạc Phi (1961, 1964), Vũ Ngọc Khánh (1973), Đỗ Hồng Kỳ (1984), Đặng Nghiêm Vạn (1990), Nguyễn Tấn Đắc (1991), Vương Anh (tiếp cận nguồn gốc Ấn Độ và khu vực của truyện Ú Thêm), Nguyễn Khôi (2000), Cầm Cường, Đỗ Bình Trị.
    • Các luận văn thạc sĩ chuyên đề: Lò Bình Minh (1989), Ngô Thị Thanh Quý (2001), Lò Xuân Dừa (2002), Nguyễn Ngọc Anh (2005), Nguyễn Ngọc Bảo (2005), Hoàng Thị Hương Loan (2006), Triệu Thị Phượng (2009).

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết

Luận án chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu dừng lại ở mức độ giới thiệu, khảo cứu đơn lẻ một vài tác phẩm hoặc tiếp cận thuần túy qua bản dịch tiếng phổ thông mà chưa có cái nhìn bao quát về toàn bộ diện mạo thể loại. Luận án lựa chọn giải quyết khoảng trống: khảo sát một cách có hệ thống kho tàng truyện thơ Thái tại Việt Nam trên cơ sở văn bản học và tư liệu điền dã; phân tích các quy luật thi pháp (kết cấu, nhân vật, ngôn ngữ); đặt truyện thơ Thái Việt Nam trong mối tương quan so sánh loại hình với truyện thơ các tộc người Thái ở Vân Nam (Trung Quốc), Lào và Thái Lan.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết, khái niệm và khung phân tích

  • Khái niệm thể loại: Luận án tiếp thu quan điểm của GS. Kiều Thu Hoạch, TSKH. Phan Đăng Nhật, PGS. Võ Quang Nhơn và GS. Nguyễn Xuân Kính để xác định: Truyện thơ các dân tộc thiểu số là những truyện kể bằng thơ thuộc loại hình tự sự, có sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố tự sự và yếu tố trữ tình, được lưu truyền chủ yếu bằng hình thức hát - kể trong diễn xướng văn nghệ dân gian, nội dung thường phản ánh số phận con người và tình yêu đôi lứa.
  • Cấu trúc thể loại: Luận án vận dụng khung phân tích cấu trúc đặc thù của truyện thơ dân gian: cấu trúc "thơ ở trong truyện" (sắp xếp các mảng tâm tình trữ tình theo chuỗi sự kiện) và cấu trúc "truyện ở trong thơ" (sử dụng khung tự sự truyện kể dân gian lồng ghép chất liệu biểu cảm dân ca).
  • Lý thuyết thi pháp học folklore và loại hình học văn học: Sử dụng khung phân tích thi pháp để khảo sát mô hình kết cấu cốt truyện, hệ thống môtíp, loại hình nhân vật và tổ chức ngôn ngữ (thể thơ, vần điệu, công thức tự sự). Vận dụng lý thuyết loại hình học để so sánh quá trình tiếp biến văn hóa, bản địa hóa các môtíp cốt truyện có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ và văn học Hán.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp hệ thống: Xem xét các thành tố của tác phẩm (đề tài, cốt truyện, nhân vật, ngôn ngữ) trong mối quan hệ hữu cơ của chỉnh thể thể loại và trong sự tương quan giữa các tác phẩm với nhau.
  2. Phương pháp so sánh: So sánh đồng đại và lịch đại giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam với truyện thơ của người Thái ở Lào, Thái Lan, Vân Nam (Trung Quốc), đồng thời đối sánh với truyện Nôm của người Kinh và truyện thơ các dân tộc thiểu số láng giềng (Tày, Mường, Mông, Chăm).
  3. Phương pháp điều tra thực địa: Thực hiện các chuyến điền dã tại vùng Tây Bắc (Sơn La, Lai Châu) và miền núi Thanh Hóa, Nghệ An (Bá Thước, Quan Sơn, Quan Hóa) trong các năm 2010 - 2011; tiếp xúc các nhà nghiên cứu, nghệ nhân bản địa (như Quán Vi Miên, Lò Văn Lả, Hoàng Trần Nghịch, Cà Văn Chung, Cầm Hùng, Hà Nam Ninh) để ghi chép, sưu tầm các văn bản chữ Thái cổ và dị bản truyền miệng.
  4. Phương pháp liên ngành: Kết hợp tri thức của văn học dân gian, dân tộc học, ngôn ngữ học, sử học và nghiên cứu văn hóa để lý giải các hiện tượng văn học trong bối cảnh văn hóa tộc người.

Nguồn tư liệu và dữ liệu

  • Văn bản của 21 truyện thơ Thái đã dịch sang tiếng phổ thông và 12 truyện thơ trong bộ ba tập chữ Thái cổ Quắm Khắp xư.
  • Tư liệu điền dã thu thập tại địa phương: truyện thơ Tạo Láng Xôm (Nghệ An), hai dị bản Xống chụ xon xao tại Quan Sơn và Quan Hóa (Thanh Hóa), các văn bản chép tay chữ Thái cổ chuyển thể từ truyện Nôm và tích truyện Trung Quốc (Lục Vân Tiên, Thư Cẫu, Lư Xiễn, Linh Y, Càn Long, Phung Lau Pống Ón).
  • Tư liệu văn học so sánh: Các tác phẩm truyện thơ Nga Bính Tang Lạc, tuyển tập Kim hồ chi thần (Vân Nam - Trung Quốc); các công trình Từ điển văn học Đông Nam Á, Hợp tuyển văn học Lào, Văn hóa dân gian Thái Lan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tộc người Thái và truyện thơ Thái ở Việt Nam

Chương 1 trình bày bối cảnh lịch sử, địa bàn phân bố dân cư và không gian văn hóa của người Thái, làm cơ sở lý giải sự hình thành thể loại truyện thơ.

  • Dân cư và địa bàn cư trú: Theo số liệu thống kê được luận án trích dẫn, dân tộc Thái có mặt chủ yếu ở Sơn La (482.985 người), Nghệ An (269.469 người), Thanh Hóa (210.908 người), Lai Châu (206.001 người), Lào Cai (52.146 người), Yên Bái (45.307 người), Hòa Bình (29.438 người). Không gian cư trú chia thành ba vùng văn hóa: vùng văn hóa Tây Bắc (bảo lưu mô thức tổ chức bản mường truyền thống), vùng văn hóa Thanh Nghệ (chuyển nhập sớm vào hệ thống tổ chức xã hội chung) và vùng văn hóa đệm trung gian (kéo dài từ Mường Tấc, Mường Sang qua Đà Bắc đến Mai Châu).
  • Lịch sử tộc người: Phác thảo các đợt thiên di lịch sử từ thế kỷ XI - XII của dòng họ Tạo (Tạo Xuông, Tạo Ngần) chiếm đất Mường Lò, thủ lĩnh Lạng Chượng thu phục các vùng Tây Bắc, đến việc thiết lập các trung tâm Mường Lay, Mường Sang, Mường Muổi và hình thành khu vực 16 Châu Thái (Xíp hốc Châu Tay) vào thế kỷ XV - XVI.
  • Đặc trưng văn hóa và diện mạo thể loại: Tộc người Thái chia thành hai ngành chính là Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Khao). Văn hóa Thái mang tính chất văn hóa lúa nước thung lũng với các sinh hoạt văn hóa dân gian như hạn khuống, múa xòe, hội xên bản, xên mường, kin chiêng boóc mạy.
  • Khảo sát và phân loại truyện thơ: Khảo sát 33 truyện thơ đã công bố. Phân loại nguồn gốc cốt truyện thành 3 nhóm: (1) Cốt truyện phát triển từ dân ca trữ tình giao duyên (Xống chụ xon xao), (2) Cốt truyện kế thừa truyện cổ tích bản địa (Khun Lú nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi), (3) Cốt truyện tiếp thu từ văn học nước ngoài và truyện Nôm Kinh qua quá trình địa phương hóa (Ú Thêm, Tạo Xam Lương và nàng Anh Đài, Lục Vân Tiên).

Chương 2: Kết cấu cốt truyện, nhân vật và ngôn ngữ truyện thơ

Chương 2 đi sâu phân tích ba thành tố cốt lõi của thi pháp truyện thơ Thái:

  • Kết cấu cốt truyện:
    • Dạng kết cấu dựa trên dân ca: Đường dây sự kiện đóng vai trò làm khung để liên kết các đoạn thơ trữ tình diễn tả tâm trạng, tình cảm lứa đôi (tiêu biểu như Xống chụ xon xao).
    • Dạng kết cấu dựa trên truyện cổ tích: Sử dụng các môtíp thần kỳ, môtíp người đội lốt, môtíp vượt thử thách (Khun Lú nàng Ủa, Hiến Hom Cầm Đôi, Ú Thêm).
    • Mô hình kết cấu cốt truyện: Khác với truyện Nôm Kinh vốn phổ biến mô hình "kết thúc có hậu" (Gặp gỡ - Tai biến - Đoàn tụ), truyện thơ Thái mang mô hình "kết thúc bi kịch" chiếm ưu thế tuyệt đối theo công thức: Gặp gỡ và yêu nhau -> Bị ngăn trở, rẽ duyên -> Một hoặc cả hai đều chết. Kết thúc bi kịch phản ánh sự xung đột gay gắt giữa tình yêu tự do và sự ràng buộc của chế độ hôn nhân phong kiến bản mường.
  • Nhân vật truyện thơ:
    • Khảo sát các loại hình nhân vật: nhân vật chàng trai nghèo mồ côi tài hoa, cô gái nghèo đức hạnh kiên trinh, nhân vật phìa tạo đại diện cho giai tầng thống trị hà khắc, nhân vật mẹ chồng hoặc bố mẹ ép duyên.
    • Xu hướng biến đổi: Nhân vật truyện thơ bắt đầu thoát ly tính chất chức năng tĩnh tại của truyện cổ tích để chuyển hóa thành nhân vật có đời sống nội tâm sâu sắc. Nội tâm nhân vật được thể hiện trực tiếp qua lời ca, tiếng hát tự bạch (khắp), bộc lộ những uẩn khúc, trăn trở trước hoàn cảnh éo le.
  • Ngôn ngữ truyện thơ:
    • Ngôn ngữ giàu chất trữ tình dân ca, câu thơ dài ngắn linh hoạt (sử dụng chủ yếu thể thơ 7 chữ và 9 chữ, kết hợp thể khắp bắc 11 - 12 chữ và thể khống khái 5 - 6 chữ), gieo vần lưng và vần chân tự do.
    • Hiện tượng đan xen ngôn ngữ và sử dụng điển tích: Đan xen từ ngữ gốc Hán, Việt hoặc tiếng Lào tùy theo địa bàn cư trú và nguồn gốc văn bản.
    • Sử dụng hệ thống công thức mở đầu, kết thúc và chuyển đoạn cố định phục vụ cho phương thức hát - kể dân gian (khắp xự).

Chương 3: Truyện thơ Thái ở Việt Nam trong tương quan so sánh loại hình với truyện thơ Thái ở một số nước

Chương 3 đặt truyện thơ Thái Việt Nam trong hệ thống so sánh với truyện thơ của các tộc người cùng nhóm ngữ hệ Thái tại Lào, Thái Lan và vùng Vân Nam (Trung Quốc):

  • Khảo sát tư liệu truyện thơ khu vực: Điểm diện các tác phẩm truyện thơ tiêu biểu của người Thái ở Vân Nam (tác phẩm Nga Bính Tang Lạc, các truyện trong tuyển tập Kim hồ chi thần), ở Lào (Sử thi Thạo Hùng Thạo Chương, các truyện thơ tích Phật giáo) và ở Thái Lan (các truyện thơ dân gian và cung đình).
  • Điểm tương đồng:
    • Chia sẻ chung nguồn đề tài và cốt truyện bắt nguồn từ thần thoại, truyện cổ tích thời kỳ tiền chia tách tộc người.
    • Tiếp nhận chung một số type truyện và môtíp có nguồn gốc từ văn hóa Ấn Độ (như tích truyện Jataka, truyện tiền kiếp của Đức Phật, môtíp quỷ móc mắt, môtíp người lấy vợ tiên trong Ú Thêm / U Thến / Xi Thuần / Tạo Thi Thốn).
    • Đều sử dụng phương thức diễn xướng dân ca kết hợp kể chuyện văn vần.
  • Điểm khác biệt và quy luật bản địa hóa:
    • Truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam giữ lại nguyên vẹn hệ thống vũ trụ quan Phật giáo Tiểu thừa, yếu tố tôn giáo và màu sắc cung đình bác học.
    • Ngược lại, truyện thơ Thái ở Việt Nam có xu hướng tước bỏ các yếu tố tôn giáo Ấn Độ trừu tượng, thay đổi các môtíp thần kỳ để đưa cốt truyện về không gian bản mường quen thuộc, gia tăng yếu tố thế sự và tính chất bi kịch hiện thực.
  • Lý giải nguyên nhân:
    • Nguyên nhân tương đồng: Bắt nguồn từ cội nguồn lịch sử, cùng thuộc ngữ hệ Tày - Thái, môi trường kinh tế văn hóa nông nghiệp lúa nước và các lớp giao lưu văn hóa Đông Nam Á cổ đại.
    • Nguyên nhân khác biệt: Do sự phân hóa về hoàn cảnh lịch sử và địa bàn cư trú; người Thái ở Việt Nam duy trì thiết chế xã hội bản mường khép kín, không tiếp nhận Phật giáo Tiểu thừa thành quốc giáo như ở Lào và Thái Lan, do đó văn học dân gian chịu sự chi phối trực tiếp của tín ngưỡng bản địa và tâm thức dân gian của cư dân nông nghiệp thung lũng.

Kết quả và những đóng góp mới

  1. Về mặt tư liệu: Luận án hệ thống hóa toàn diện lịch sử sưu tầm, dịch thuật và xuất bản truyện thơ Thái tại Việt Nam từ năm 1957 đến năm 2011; thống kê 33 tác phẩm đã ấn hành và tập trung khảo sát văn bản của 21 tác phẩm có bản dịch tiếng phổ thông. Luận án bổ sung các tư liệu điền dã thực tế về các bản chép tay chữ Thái cổ tại Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An.
  2. Về mặt thi pháp học: Luận án làm rõ đặc trưng thi pháp của thể loại truyện thơ Thái trên ba bình diện kết cấu cốt truyện (mô hình kết thúc bi kịch ba chặng chiếm ưu thế), loại hình nhân vật (sự chuyển dịch từ nhân vật chức năng truyện cổ sang nhân vật tự biểu hiện nội tâm qua dân ca) và tổ chức ngôn ngữ (thể thơ hỗn hợp 7 chữ, 9 chữ, nghệ thuật gieo vần, công thức diễn xướng khắp xự).
  3. Về mặt so sánh loại hình: Lần đầu tiên đặt truyện thơ Thái ở Việt Nam trong mối tương quan so sánh loại hình mang tính khu vực với truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan và Vân Nam (Trung Quốc), chỉ ra quy luật tước bỏ yếu tố tôn giáo Ấn Độ và bản địa hóa cốt truyện theo phong tục bản mường Việt Nam.
  4. Đề xuất giải pháp: Đề xuất các định hướng nhằm tiếp tục bảo tồn, phiên âm, dịch thuật các văn bản chữ Thái cổ còn lưu giữ trong nhân dân và đưa các tác phẩm truyện thơ tiêu biểu vào chương trình giảng dạy ngữ văn, văn hóa dân gian ở các cấp học.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án chủ yếu đi sâu phân tích 21 tác phẩm đã có bản dịch sang tiếng phổ thông; 12 tác phẩm mới chỉ có văn bản chữ Thái cổ (trong bộ Quắm Khắp xư) và các bản chép tay thu thập trong quá trình điền dã chưa được phiên âm, dịch nghĩa toàn văn để đối sánh chi tiết do rào cản về thời gian và khối lượng công việc dịch thuật cổ ngữ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp:
    • Tiến hành dịch thuật, chú giải và xuất bản toàn bộ các văn bản truyện thơ bằng chữ Thái cổ còn lưu giữ tại các địa phương.
    • Mở rộng nghiên cứu văn bản học so sánh giữa các dị bản truyện thơ Thái tại vùng Tây Bắc với các dị bản lưu truyền tại miền Tây Thanh Hóa và Nghệ An.

Giá trị tham khảo

  • Đối tượng thụ hưởng:
    • Nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên chuyên ngành Văn học dân gian, Văn học các dân tộc thiểu số, Dân tộc học và Văn hóa học.
    • Giảng viên giảng dạy các chuyên đề văn học dân gian, thi pháp học thể loại và văn hóa Đông Nam Á.
    • Các nhà quản lý văn hóa, cán bộ làm công tác bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể tại các tỉnh miền núi phía Bắc và Bắc Trung Bộ.
  • Nội dung giá trị: Bảng thống kê thư mục tác phẩm; khung phân tích thi pháp kết cấu và ngôn ngữ khắp xự; các cứ liệu so sánh loại hình văn học dân gian giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.

Câu hỏi thường gặp

1. Tính đến thời điểm thực hiện luận án, số lượng truyện thơ dân tộc Thái được sưu tầm và công bố tại Việt Nam là bao nhiêu? Theo khảo sát của luận án, có 33 tác phẩm truyện thơ Thái đã được công bố, trong đó có 12 tác phẩm mới được in bằng chữ Thái cổ (chủ yếu trong bộ Quắm Khắp xư 3 tập xuất bản năm 1997 - 1998) và 21 tác phẩm đã được phiên âm tiếng Thái và dịch sang tiếng phổ thông.

2. Mô hình kết cấu cốt truyện tiêu biểu nhất của truyện thơ Thái ở Việt Nam là gì? Khác với mô hình kết thúc có hậu phổ biến trong truyện Nôm của người Kinh, truyện thơ Thái có mô hình kết cấu kết thúc bi kịch chiếm tỷ lệ áp đảo, tuân theo công thức ba chặng: Gặp gỡ và yêu nhau -> Bị ngăn trở, rẽ duyên -> Một hoặc cả hai nhân vật đều chết.

3. Phương thức diễn xướng truyền thống của truyện thơ Thái diễn ra như thế nào? Truyện thơ Thái được lưu truyền và diễn xướng chủ yếu qua hình thức hát - kể dân gian gọi là khắp xự (ở Tây Bắc) hoặc khặp xự (ở Thanh Hóa, Nghệ An), tức là hát theo sách chữ Thái cổ. Ngoài ra còn có hình thức hát đối đáp trong tiệc cưới (khắp báo xao) và hình thức hát bện kết hợp dân ca trữ tình (khắp phẳn).

4. Điểm khác biệt căn bản giữa truyện thơ Thái ở Việt Nam và truyện thơ Thái ở Lào, Thái Lan khi tiếp nhận cùng cốt truyện Ấn Độ là gì? Trong khi các bản truyện thơ của Lào và Thái Lan giữ nguyên hệ thống vũ trụ quan Phật giáo Tiểu thừa và các môtíp tôn giáo Ấn Độ, người Thái ở Việt Nam có xu hướng tước bỏ các yếu tố tôn giáo trừu tượng, thay đổi môtíp để phù hợp với quan niệm đạo đức, phong tục tập quán và đời sống hiện thực của bản mường địa phương.

5. Địa bàn phân bố của tộc người Thái tại Việt Nam được chia thành những vùng văn hóa nào? Người Thái cư trú chủ yếu tại 7 tỉnh (Sơn La, Nghệ An, Thanh Hóa, Lai Châu, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình) và được chia thành ba vùng văn hóa: Vùng văn hóa Tây Bắc (bảo lưu mô hình bản mường truyền thống), Vùng văn hóa Thanh Nghệ (chuyển nhập sớm vào hệ thống quốc gia) và Vùng văn hóa đệm trung gian (dải đất từ Phù Yên, Mộc Châu qua Đà Bắc đến Mai Châu).

Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Lê Thị Hiền là công trình nghiên cứu hệ thống và toàn diện về thể loại truyện thơ của dân tộc Thái ở Việt Nam trên cả ba bình diện lịch sử văn bản, thi pháp học và loại hình học văn học. Thông qua việc phân tích 21 tác phẩm tiêu biểu kết hợp tư liệu điền dã, luận án đã làm rõ các đặc trưng về mô hình kết cấu bi kịch, loại hình nhân vật tự biểu hiện nội tâm và ngôn ngữ diễn xướng khắp xự độc lập với truyện Nôm của người Kinh. Đồng thời, kết quả đối sánh loại hình khu vực đã xác định quy luật bản địa hóa và thế sự hóa cốt truyện dân gian của người Thái tại Việt Nam, đóng góp nguồn tư liệu khoa học chuẩn xác cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học các dân tộc thiểu số.