Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ ngữ văn (chuyên ngành Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, mã số: 62220109) với đề tài "Cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở huyện Bắc Yên tỉnh Sơn La" do nghiên cứu sinh Nguyễn Trung Kiên thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Trần Trí Dõi tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (2022).
Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu
Dân tộc Mông ở Việt Nam là một trong những cộng đồng thiểu số có dân số trên một triệu người (xếp thứ 4 trong 53 dân tộc thiểu số theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019), phân bố tập trung tại khu vực miền núi phía Bắc. Tại tỉnh Sơn La, người Mông có 157.253 người, cư trú đông nhất tại huyện Bắc Yên với 30.620 người (chiếm 42,8% dân số toàn huyện).
Bắc Yên được xem là vùng lõi về người Mông ở Tây Bắc, hội tụ đa dạng các ngành Mông (Mông Đơ/Mông Trắng, Mông Đu/Mông Đen, Mông Si/Mông Đỏ...) và các hình thái cư trú khác nhau. Những biến đổi xã hội đương đại (chuyển dịch địa bàn cư trú, phát triển hạ tầng giao thông như Quốc lộ 37, kinh tế du lịch tại Tà Xùa, công nghệ thông tin - truyền thông và sự tiếp xúc ngôn ngữ gia tăng) đã làm thay đổi trạng thái tĩnh tại truyền thống của bức tranh ngôn ngữ địa phương. Cho đến thời điểm tác giả triển khai nghiên cứu, chưa có công trình nào khảo sát toàn diện và hệ thống về cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông tại địa bàn huyện Bắc Yên. Do đó, việc nghiên cứu một trường hợp cụ thể (case study) tại Bắc Yên có tính cấp thiết cao nhằm làm sáng tỏ thực trạng đa ngữ xã hội và cung cấp căn cứ thực tiễn cho chính sách ngôn ngữ vùng dân tộc thiểu số.
Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
Mục đích của luận án là làm rõ hiện tượng đa ngữ xã hội trong cộng đồng người Mông ở huyện Bắc Yên thông qua việc trả lời 03 câu hỏi nghiên cứu lớn:
- Câu hỏi thứ nhất: Những điểm gì về điều kiện tự nhiên, điều kiện kinh tế - xã hội có ảnh hưởng đến ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở Bắc Yên?
- Câu hỏi thứ hai: Những ngôn ngữ và phạm vi sử dụng của chúng trong cộng đồng người Mông ở Bắc Yên hiện nay đang diễn ra như thế nào?
- Câu hỏi thứ ba: Thái độ của người Mông ở huyện Bắc Yên đối với các ngôn ngữ trong cộng đồng hiện nay ra sao?
Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng bao gồm: hệ thống hóa lý thuyết ngôn ngữ học xã hội về cảnh huống ngôn ngữ; phân tích đặc điểm địa bàn và tộc người; miêu tả cảnh huống ngôn ngữ theo 3 tiêu chí (về lượng, về chất, về thái độ ngôn ngữ); đánh giá vị thế, vai trò và mối quan hệ giữa các ngôn ngữ hành chức.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Phạm vi nội dung: Điều kiện tự nhiên - kinh tế - xã hội; cấu trúc dân tộc - nhân khẩu; số lượng ngôn ngữ và biến thể hành chức; năng lực và phạm vi sử dụng ngôn ngữ; thái độ đối với tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt, tiếng các dân tộc thiểu số khác và chữ viết tiếng Mông.
- Phạm vi không gian: Khảo sát tại 05 địa bàn đại diện thuộc 04 xã và 01 thị trấn của huyện Bắc Yên:
- Bản Suối Lềnh B (xã Hang Chú): Tiểu vùng thuần Mông (100% người Mông Đơ), vùng sâu, xa trung tâm (cách trung tâm huyện 78,2 km đường bộ).
- Bản Tà Xùa A (xã Tà Xùa): Tiểu vùng thuần Mông (Mông Đu, Mông Si), có hoạt động kinh tế du lịch và dịch vụ phát triển.
- Bản Mòn (xã Hua Nhàn): Tiểu vùng nông thôn cộng cư đa dân tộc ven Quốc lộ 37 (gồm người Khơ Mú, Kinh, Thái, Mông Si).
- Bản Suối Trắng (xã Phiêng Côn): Tiểu vùng người Mông (80% Mông Si) sống xen cài và tiếp giáp với cộng đồng người Dao, người Mường.
- Tiểu khu 3 (thị trấn Bắc Yên): Tiểu vùng người Mông đô thị sống xen kẽ trong môi trường đa số là người Kinh và người Thái.
- Phạm vi mẫu và thời gian khảo sát: Khảo sát toàn bộ nhân khẩu từ 11 tuổi trở lên tại 5 điểm nghiên cứu, thu thập 883 phiếu hỏi trên 205 hộ gia đình (chiếm 2,9% số dân và 4,74% số hộ người Mông toàn huyện). Điền dã thực hiện qua các đợt từ năm 2016 đến giữa năm 2020 với tổng thời gian 11 tháng.
| Tiêu chí |
Thông số thực tế trong luận án |
| Địa bàn nghiên cứu |
Huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La (05 điểm khảo sát đại diện) |
| Tổng số hộ / nhân khẩu khảo sát |
205 hộ gia đình / 883 người (từ 11 tuổi trở lên) |
| Ngành Mông khảo sát |
Mông Đơ (Mông Trắng), Mông Đu (Mông Đen), Mông Si (Mông Đỏ) |
| Thời gian thu thập ngữ liệu điền dã |
2016 – giữa năm 2020 (11 tháng điền dã thực địa) |
| Công cụ xử lý dữ liệu định lượng |
Phần mềm MS Excel và phần mềm thống kê SPSS 20.0 |
| Dữ liệu phỏng vấn sâu |
380 MB file ghi âm định dạng MP3 |
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Các hướng nghiên cứu trên thế giới
Thuật ngữ "cảnh huống ngôn ngữ" (language situation) xuất hiện từ cuối thập niên 1920 qua các công trình của C. Doke khi khảo sát ngôn ngữ tại châu Phi và châu Á. Đến nửa sau thế kỷ XX, các nhà ngôn ngữ học Xô Viết như V. A. Avrorin (1975), L. B. Nikolsky (1967, 1976), A. D. Švejcer (1986) đã định hình khung lý thuyết phân tích cảnh huống ngôn ngữ gắn với chức năng xã hội và trạng thái đa ngữ. C. A. Ferguson (1971) đưa ra mô hình phân loại trạng thái ngôn ngữ dựa trên các thông số lượng hóa về số người nói, loại ngôn ngữ và thái độ ngôn ngữ. Năm 2003, UNESCO ban hành khung đánh giá sức sống và sự mai một ngôn ngữ.
Các nghiên cứu quốc tế sau đó được triển khai đa dạng: nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ tại Latvia (2004–2011), Thụy Điển; nghiên cứu tại Jordan, Lào, Thái Lan, Philippines, Malaysia, Peru, Nigeria, Jamaica, Uganda. Đáng chú ý, tại Trung Quốc, các công trình khảo sát cảnh huống ngôn ngữ quy mô quốc gia đã mô tả chi tiết tiếng Miêu (Miao) tại Quý Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ Nam trên các phương diện biến thể, chữ viết và tiếp xúc với tiếng Hán.
Các hướng nghiên cứu tại Việt Nam
Luận án phân loại các nghiên cứu trong nước theo hai khuynh hướng chính:
- Nghiên cứu cấp độ quốc gia, vùng, khu vực:
- Các công trình của Nguyễn Văn Lợi, Trần Trí Dõi (2001, 2004, 2008, 2016, 2020), Nguyễn Văn Khang (2003, 2010, 2012, 2014, 2015), Tạ Văn Thông (1996, 2003, 2009) về thực trạng ngôn ngữ dân tộc thiểu số tại miền núi phía Bắc và Nam Bộ.
- Các công trình tập thể của Viện Ngôn ngữ học (1984, 1997, 2002) về cảnh huống ngôn ngữ ở Tây Bắc, Đông Bắc, Đồng bằng sông Cửu Long và vấn đề chính sách, giáo dục ngôn ngữ.
- Các nghiên cứu chuyên sâu về từng ngôn ngữ: cảnh huống tiếng Thái của Vũ Bá Hùng, Phạm Văn Hảo, Hà Quang Năng (2002); song ngữ Khmer - Việt của Đinh Lư Giang (2011); cảnh huống tiếng Tày theo 9 tiêu chí UNESCO của Hà Thị Tuyết Nga (2014).
- Nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ tại địa phương cụ thể (tỉnh, huyện, xã):
- Song ngữ Việt - Hoa tại An Giang (Hoàng Quốc, 2009); cảnh huống ngôn ngữ tại Hà Giang (Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2010), Thái Nguyên (Dương Thị Thanh Hoa, 2010), huyện Hòa An - Cao Bằng (Nguyễn Hoàng Lan, 2010); cộng đồng Chăm tại TP. Hồ Chí Minh (Trần Phương Nguyên, 2014); trạng thái đa ngữ tại Mường Chà - Điện Biên (Nguyễn Thị Thu Dung, 2015); tình hình sử dụng ngôn ngữ tại xã Nùng Nàng - Lai Châu (Đỗ Thị Hiên, 2016); tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Mông ở Sơn La (Giang Thị Thanh, 2016); các dân tộc nói tiếng Ba-na Nam (Nguyễn Thu Huyền, 2017).
Khoảng trống luận án giải quyết
Mặc dù tỉnh Sơn La đã có một số khảo sát diện rộng về tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Mông, nhưng chưa có công trình nào tập trung phân tích chuyên sâu cảnh huống ngôn ngữ của người Mông tại huyện Bắc Yên – một địa bàn đặc thù có tính chất "vùng lõi" với cấu trúc tiểu vùng cư trú phong phú (thuần Mông, đô thị, xen cài, tiếp giáp). Luận án của Nguyễn Trung Kiên đã lấp đầy khoảng trống này bằng hệ thống dữ liệu điều tra định lượng và định tính đồng bộ.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và khái niệm công cụ
Luận án tiếp thu và vận dụng khung lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang (2012), xác định cảnh huống ngôn ngữ là "tình hình tồn tại và hành chức của các ngôn ngữ hoặc các hình thức của ngôn ngữ trong phạm vi cộng đồng xã hội hay lãnh thổ". Đánh giá cảnh huống ngôn ngữ được thực hiện qua bộ 3 tiêu chí:
- Tiêu chí về lượng: Số lượng ngôn ngữ và biến thể hành chức; số người sử dụng; phạm vi giao tiếp; ngôn ngữ nổi trội về chức năng.
- Tiêu chí về chất: Tính độc lập của ngôn ngữ; quan hệ cội nguồn - loại hình; mức độ bình đẳng/bất bình đẳng về chức năng; đặc điểm ngôn ngữ nổi trội.
- Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ: Đánh giá giá trị, tình cảm, sự trung thành ngôn ngữ, định hướng lựa chọn ngôn ngữ và thái độ đối với chữ viết.
Các khái niệm liên quan được định nghĩa và vận dụng nhất quán: tiếng mẹ đẻ, ngôn ngữ thứ hai, ngôn ngữ quốc gia (Điều 5 Hiến pháp 2013: tiếng Việt), sự lựa chọn ngôn ngữ (lựa chọn mang tính ngữ cảnh/không đánh dấu và lựa chọn mang tính chiến lược/đánh dấu), mã và chuyển mã, các thế hệ trong gia đình (G1: ông bà, G2: cha mẹ, G3: con cháu).
| Khung phân tích |
Nội hàm triển khai trong luận án |
| Tiêu chí về lượng |
Đo đếm 06 ngôn ngữ hành chức, các phương ngữ tiếng Mông, số lượng người nói, tần suất tại các phạm vi giao tiếp. |
| Tiêu chí về chất |
Phân tích quan hệ ngữ hệ Hmong-Mien, Nam Á, Thái-Kadai; đánh giá năng lực ngôn ngữ (4 mức độ) theo các biến xã hội. |
| Tiêu chí thái độ |
Đánh giá nhận thức, tình cảm, hành vi lựa chọn tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số khác và chữ Mông. |
Phương pháp nghiên cứu thực tế
Luận án kết hợp phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng:
- Phương pháp điền dã ngôn ngữ học (chủ đạo):
- Khảo sát bằng bảng hỏi (anket): Bảng hỏi 8 trang A4 gồm 42 câu hỏi (kết hợp trắc nghiệm và câu hỏi mở ngắn), triển khai trực tiếp tới 883 cá nhân.
- Phỏng vấn sâu: Thực hiện phỏng vấn ghi âm với người Mông thuộc các lứa tuổi, giới tính, học vấn, nghề nghiệp và một số cán bộ, công chức, giáo viên, người kinh doanh dân tộc khác (dung lượng file ghi âm đạt 380 MB dạng MP3).
- Quan sát và quan sát tham dự: Tác giả tận dụng 15 năm công tác tại vùng Tây Bắc để tiếp cận đối tượng từ điểm nhìn bên trong (chủ thể) kết hợp điểm nhìn bên ngoài (khách thể) tại các nghi lễ văn hóa, gia đình, chợ phiên và trường học.
- Phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu: Xử lý dữ liệu bảng hỏi trên phần mềm MS Excel và phần mềm thống kê chuyên dụng SPSS 20.0 để kiểm tra tương quan giữa các biến xã hội (tuổi tác, giới tính, nghề nghiệp, học vấn, địa bàn cư trú) với năng lực và thái độ ngôn ngữ.
- Phương pháp miêu tả: Sử dụng phần mềm bản đồ MapInfo và Google Earth Pro để xây dựng bản đồ phân bố dân cư, địa hình và các mạng lưới giao tiếp ngôn ngữ.
- Thủ pháp so sánh: So sánh đối chiếu giữa 5 tiểu vùng khảo sát; so sánh giữa các thế hệ G1, G2, G3; so sánh tương quan sử dụng giữa tiếng Mông, tiếng Việt và tiếng các dân tộc láng giềng (Thái, Mường, Dao, Khơ Mú).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu, cơ sở lí luận và địa bàn khảo sát
Chương 1 hệ thống hóa các nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ trên thế giới và tại Việt Nam; xác lập hệ thống khái niệm công cụ và bộ tiêu chí nhận diện cảnh huống ngôn ngữ; đồng thời phác họa bức tranh tự nhiên, lịch sử, kinh tế - xã hội và nhân khẩu của huyện Bắc Yên cùng 05 địa điểm khảo sát.
Huyện Bắc Yên được thành lập ngày 17/8/1964 (chia tách từ huyện Phù Yên), có địa hình núi cao hiểm trở thuộc sườn phía Tây dãy Hoàng Liên Sơn, độ cao trung bình 1.000–1.400 m (đỉnh Phù Sa Phìn cao 2.879 m), độ dốc bình quân trên 25°. Năm 2019, dân số toàn huyện là 66.784 người, gồm 6 dân tộc chủ yếu: Mông (30.620 người, chiếm 42,8%), Thái, Mường, Kinh, Dao, Khơ Mú (tỷ lệ người dân tộc thiểu số chiếm 95,1%). Người Mông di cư từ miền Nam Trung Quốc sang Việt Nam từ cuối thế kỷ XVIII, định cư ở các dải núi cao nhất. Lịch sử cư trú lâu đời của người Mông tại Bắc Yên được phản ánh qua các địa danh có nguồn gốc ngữ âm tiếng Mông như Hang Chú (Háng Chó - khe hổ), Tà Xùa (bãi đất mọc nhiều cây dương xỉ) và di tích bãi đá cổ tại bản Suối Lềnh B.
Chương 2: Cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở Bắc Yên theo tiêu chí về lượng
Chương 2 định lượng hóa các thành tố tham gia vào cảnh huống ngôn ngữ của người Mông tại Bắc Yên:
- Số lượng ngôn ngữ và biến thể: Toàn huyện có 6 ngôn ngữ hành chức chính gồm tiếng Mông, tiếng Thái, tiếng Mường, tiếng Việt, tiếng Dao, tiếng Khơ Mú. Trong cộng đồng người Mông, tồn tại các biến thể phương ngữ thuộc các ngành Mông Đơ, Mông Đu, Mông Si.
- Số lượng người sử dụng: Tiếng Mông là ngôn ngữ mẹ đẻ có số lượng người bản ngữ đông nhất huyện (trên 30.600 người). Tiếng Việt là ngôn ngữ thứ hai phổ biến nhất, được hầu hết người Mông trong độ tuổi đi học và lao động sử dụng. Tiếng Thái được một bộ phận người Mông sống cộng cư hoặc xen cài sử dụng như phương tiện giao tiếp liên dân tộc cục bộ.
- Phạm vi giao tiếp: Luận án khảo sát phân bố chức năng của từng ngôn ngữ qua các lĩnh vực: sinh hoạt gia đình, dòng họ, nghi lễ truyền thống, giao tiếp chợ phiên, hành chính công quyền, truyền thông và trường học.
- Ngôn ngữ nổi trội về chức năng: Tiếng Việt giữ vị thế ngôn ngữ quốc gia nổi trội tuyệt đối trong lĩnh vực hành chính, giáo dục chính quy và truyền thông đại chúng. Tiếng Mông giữ vị thế ngôn ngữ nổi trội về mặt biểu cảm, cố kết cộng đồng và chiếm ưu thế tuyệt đối trong phạm vi gia đình, đời sống thường nhật tại các bản vùng cao thuần Mông.
Chương 3: Cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở Bắc Yên theo tiêu chí về chất
Chương 3 đi sâu phân tích quan hệ cấu trúc, nguồn gốc, loại hình và năng lực, hành vi sử dụng ngôn ngữ thực tế:
- Quan hệ nguồn gốc và loại hình: Cảnh huống ngôn ngữ tại Bắc Yên bao gồm các ngôn ngữ thuộc các ngữ hệ khác nhau: Mông - Miên (tiếng Mông, tiếng Dao), Nam Á (tiếng Việt, tiếng Mường, tiếng Khơ Mú), Thái - Kadai (tiếng Thái). Về loại hình, tất cả đều thuộc loại hình ngôn ngữ đơn lập (cách đoạn), tạo thuận lợi nhất định cho quá trình tiếp xúc và vay mượn từ vựng.
- Năng lực ngôn ngữ của người Mông: Được khảo sát theo 4 mức độ (Mức 1: Không biết/biết rất ít; Mức 2: Biết sơ qua; Mức 3: Giao tiếp thông thường; Mức 4: Thành thạo):
- Năng lực tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông): Tỷ lệ đạt mức 3 và mức 4 chiếm ưu thế tuyệt đối ở mọi lứa tuổi và giới tính (trên 95% ở các bản thuần Mông).
- Năng lực tiếng Việt: Tỷ lệ người thành thạo (mức 3 và 4) có sự phân hóa rõ rệt theo lứa tuổi và trình độ học vấn. Nhóm thế hệ trẻ (G3) và thế hệ cha mẹ (G2) có học vấn đạt năng lực tiếng Việt cao hơn hẳn thế hệ cao tuổi (G1) và phụ nữ lớn tuổi ở vùng sâu.
- Năng lực tiếng các dân tộc thiểu số khác: Chủ yếu xuất hiện ở các điểm tiếp xúc đa dân tộc (như bản Mòn - Hua Nhàn và Suối Trắng - Phiêng Côn), nơi người Mông có thể nghe hiểu hoặc nói được tiếng Thái mức độ cơ bản.
- Tình hình sử dụng ngôn ngữ:
- Trong gia đình: Tiếng Mông chiếm tỷ lệ chi phối trong giao tiếp giữa các thành viên gia đình (G1-G2, G2-G2, G2-G3). Tuy nhiên, trong giao tiếp giữa thế hệ con cháu (G3-G3), việc chèn mã hoặc chuyển mã tiếng Việt xuất hiện ngày càng phổ biến.
- Ngoài xã hội: Sử dụng tiếng Việt giữ vai trò quy thức trong công sở, trường học, trạm y tế; sử dụng tiếng Mông trong giao tiếp phi quy thức giữa những người cùng tộc tộc người; sử dụng xen kẽ tiếng Việt và tiếng Thái khi giao dịch tại chợ với các tộc người khác.
Chương 4: Cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông ở Bắc Yên theo tiêu chí thái độ ngôn ngữ
Chương 4 phân tích thái độ của cộng đồng người Mông đối với các ngôn ngữ và hệ chữ viết:
- Thái độ đối với tiếng mẹ đẻ: Người Mông duy trì thái độ trung thành ngôn ngữ rất cao. Tiếng mẹ đẻ được coi là giá trị cốt lõi để bảo tồn bản sắc văn hóa tộc người trong các nghi lễ vòng đời, tang ma, cưới hỏi và lễ hội truyền thống.
- Thái độ đối với chữ Mông: Tỷ lệ người biết chữ Mông trong mẫu khảo sát đạt 29,1%. Tồn tại sự lựa chọn song song giữa hệ thống chữ Mông Việt Nam (chữ Mông La-tinh hóa ban hành theo phương án của Nhà nước) và chữ Mông khu vực/quốc tế (RPA). Nguyện vọng học và sử dụng chữ Mông để ghi chép văn hóa truyền thống rất lớn ở cả thế hệ G2 và G3.
- Thái độ đối với tiếng Việt: Cộng đồng người Mông có thái độ đánh giá cao giá trị công cụ của tiếng Việt. Tiếng Việt được nhìn nhận tích cực với tư cách là phương tiện nâng cao học vấn, phát triển kinh tế, giao lưu xã hội và tiếp cận thông tin trên các phương tiện truyền thông nghe nhìn (ti vi, điện thoại thông minh, internet).
- Thái độ đối với tiếng dân tộc thiểu số khác: Mang tính cởi mở, thực dụng trong bối cảnh giao thương và quan hệ láng giềng tại các địa bàn sống xen cư hoặc tiếp giáp.
| Chương |
Nội dung trọng tâm |
Các phát hiện / Số liệu cốt lõi |
| Chương 1 |
Cơ sở lý thuyết, tổng quan, địa bàn khảo sát. |
Bắc Yên có 16 xã/thị trấn, 66.784 dân (2019), 6 dân tộc; khảo sát 5 điểm đại diện (Hang Chú, Tà Xùa, Hua Nhàn, Phiêng Côn, TT Bắc Yên). |
| Chương 2 |
Tiêu chí về lượng trong cảnh huống ngôn ngữ. |
06 ngôn ngữ hành chức; tiếng Mông chiếm ưu thế số lượng trong nội bộ (>30.600 người); tiếng Việt nổi trội chức năng toàn xã hội. |
| Chương 3 |
Tiêu chí về chất: quan hệ loại hình, năng lực, sử dụng. |
Các ngôn ngữ thuộc loại hình đơn lập; năng lực tiếng Việt cao ở thế hệ G3 và G2; gia đình duy trì tiếng Mông, xuất hiện chuyển mã ở G3-G3. |
| Chương 4 |
Tiêu chí về thái độ ngôn ngữ và chữ viết. |
Độ trung thành với tiếng mẹ đẻ cao; 29,1% người khảo sát biết chữ Mông; đánh giá tích cực vai trò phát triển kinh tế - xã hội của tiếng Việt. |
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp về mặt lý luận
- Luận án đã hệ thống hóa và vận dụng một cách nhất quán khung lý thuyết cảnh huống ngôn ngữ của Ngôn ngữ học xã hội vào một địa bàn cấp huyện miền núi đa dân tộc, đa ngữ tại Việt Nam.
- Công trình chứng minh tính hiệu quả của mô hình tiếp cận cảnh huống ngôn ngữ dựa trên sự tích hợp đồng thời 3 nhóm tiêu chí: về lượng, về chất và về thái độ ngôn ngữ; khẳng định tính tất yếu của việc chuyển dịch từ trạng thái ngôn ngữ tĩnh tại sang trạng thái tương tác động dưới tác động của các biến số kinh tế - xã hội.
Đóng góp về mặt thực tiễn
- Cung cấp bộ cơ sở dữ liệu thực nghiệm toàn diện, cập nhật về số lượng người nói, năng lực ngôn ngữ, bức tranh chuyển đổi mã và hành vi sử dụng ngôn ngữ của cộng đồng người Mông tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La.
- Làm rõ bức tranh phân bố chức năng giữa tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) và ngôn ngữ quốc gia (tiếng Việt), cũng như thực trạng tiếp nhận các hệ thống chữ viết tiếng Mông hiện hành tại địa phương.
- Cung cấp luận cứ khoa học thực chứng phục vụ công tác hoạch định chính sách ngôn ngữ, chính sách dân tộc, đổi mới giáo dục song ngữ và bảo tồn di sản văn hóa phi vật thể của người Mông tại khu vực Tây Bắc.
Kiến nghị và giải pháp đề xuất
- Cần tiếp tục duy trì và nâng cao chất lượng dạy học tiếng Việt cho học sinh dân tộc Mông, đặc biệt ở các điểm trường lẻ, vùng sâu vùng xa thuộc các xã thuần Mông như Hang Chú, Tà Xùa.
- Triển khai chính sách dạy chữ Mông trong trường phổ thông và các trung tâm giáo dục thường xuyên một cách bài bản, giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa chữ Mông Việt Nam và nhu cầu sử dụng chữ viết thực tế trong cộng đồng.
- Xây dựng các chương trình phát thanh, truyền hình tiếng Mông có nội dung phù hợp với đặc thù phương ngữ và đời sống kinh tế - văn hóa của người Mông địa phương.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế: Luận án là một nghiên cứu trường hợp (case study) tập trung vào phạm vi 05 điểm khảo sát đại diện tại huyện Bắc Yên với quy mô mẫu 883 người (chiếm 2,9% dân số Mông toàn huyện), do đó một số chỉ số định lượng mang tính tương đối khi suy rộng cho toàn bộ các tiểu vùng khác nhau trong tỉnh Sơn La.
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát so sánh cảnh huống ngôn ngữ của người Mông giữa huyện Bắc Yên với các vùng lân cận (như Mộc Châu, Yên Châu, Thuận Châu hoặc các tỉnh Điện Biên, Lai Châu, Hà Giang); nghiên cứu sâu hơn về hiện tượng tiếp xúc, biến đổi ngữ âm - từ vựng tiếng Mông dưới tác động của tiếng Việt trên mạng xã hội và không gian truyền thông số.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo chuyên khảo dành cho:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học, giảng viên chuyên ngành Ngôn ngữ học xã hội, Ngôn ngữ các dân tộc thiểu số Việt Nam, Dân tộc học và Nhân học văn hóa (đặc biệt là phương pháp thiết kế anket, kỹ thuật điền dã kết hợp định tính - định lượng và khung phân tích 3 tiêu chí của Nguyễn Văn Khang).
- Cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên công tác tại các trường phổ thông dân tộc nội trú, bán trú vùng cao Tây Bắc (tham khảo dữ liệu về năng lực ngôn ngữ theo thế hệ G1, G2, G3 để xây dựng phương pháp giảng dạy tiếng Việt tăng cường).
- Cơ quan hoạch định chính sách (Ban Dân tộc, Hội đồng Dân tộc, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Văn hóa - Thể thao và Du lịch các tỉnh Tây Bắc) trong việc thực thi chính sách ngôn ngữ, bảo tồn chữ viết dân tộc thiểu số và phát triển văn hóa - du lịch bền vững.
Câu hỏi thường gặp
1. Luận án sử dụng khung lý thuyết nào để xác định cảnh huống ngôn ngữ của người Mông ở Bắc Yên?
Tác giả tiếp thu và vận dụng khung lý thuyết Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang (2012), phân tích cảnh huống ngôn ngữ dựa trên 3 tiêu chí cơ bản: tiêu chí về lượng (số lượng ngôn ngữ, biến thể, số người sử dụng, phạm vi giao tiếp, ngôn ngữ nổi trội), tiêu chí về chất (tính độc lập của ngôn ngữ, quan hệ nguồn gốc - loại hình, quan hệ chức năng, năng lực ngôn ngữ) và tiêu chí về thái độ ngôn ngữ (đánh giá, tình cảm và hành vi đối với tiếng mẹ đẻ, tiếng Việt, tiếng dân tộc thiểu số khác và chữ viết).
2. Mẫu khảo sát điền dã của luận án được phân bố tại các địa bàn nào và có quy mô ra sao?
Khảo sát được thực hiện tại 05 địa điểm đại diện cho 4 dạng tiểu vùng cư trú của huyện Bắc Yên: bản Suối Lềnh B - xã Hang Chú (thuần Mông vùng sâu), bản Tà Xùa A - xã Tà Xùa (thuần Mông có du lịch), bản Mòn - xã Hua Nhàn (cộng cư đa dân tộc ven Quốc lộ 37), bản Suối Trắng - xã Phiêng Côn (xen cài vùng Dao - Mường) và tiểu khu 3 - thị trấn Bắc Yên (người Mông đô thị). Tổng mẫu khảo sát gồm 883 người (từ 11 tuổi trở lên) thuộc 205 hộ gia đình (chiếm 2,9% số dân và 4,74% số hộ người Mông toàn huyện), xử lý định lượng bằng MS Excel và SPSS 20.0 cùng 380 MB dữ liệu phỏng vấn sâu.
3. Tình hình sử dụng ngôn ngữ giữa các thế hệ (G1, G2, G3) trong gia đình người Mông ở Bắc Yên diễn ra như thế nào?
Trong phạm vi gia đình, tiếng Mông giữ vai trò chủ đạo tuyệt đối trong các tương tác giữa thế hệ ông bà (G1) và cha mẹ (G2), cũng như giữa cha mẹ (G2) và con cháu (G3). Tuy nhiên, ở thế hệ trẻ (G3), hiện tượng sử dụng xen kẽ, chèn mã và chuyển mã tiếng Việt xuất hiện phổ biến trong giao tiếp nội bộ thế hệ (G3-G3), phản ánh sự gia tăng năng lực tiếng Việt qua môi trường giáo dục chính quy và truyền thông đại chúng.
4. Thực trạng nhận thức và thái độ của người Mông ở Bắc Yên đối với chữ viết tiếng Mông được luận án ghi nhận ra sao?
Kết quả khảo sát chỉ ra có 29,1% người Mông trong mẫu nghiên cứu biết chữ Mông. Tồn tại hai hệ thống chữ viết được cộng đồng biết đến và sử dụng là chữ Mông Việt Nam (phương án chữ La-tinh do Nhà nước ban hành) và chữ Mông khu vực/quốc tế (RPA). Người Mông thể hiện thái độ tích cực và mong muốn được học, sử dụng chữ Mông để ghi chép văn nghệ dân gian, phong tục tập quán và giữ gìn bản sắc tộc người.
5. Tiếng Việt và tiếng Mông đảm nhận những chức năng xã hội nào trong cảnh huống ngôn ngữ tại Bắc Yên?
Tiếng Việt đảm nhận chức năng ngôn ngữ quốc gia, giữ vị trí thống soái trong hoạt động hành chính, công quyền, hệ thống giáo dục quốc dân và các phương tiện truyền thông đại chúng; là phương tiện giao tiếp liên dân tộc chủ yếu giữa người Mông với người Kinh, người Thái, người Mường, người Dao, người Khơ Mú. Tiếng Mông đảm nhận chức năng tiếng mẹ đẻ, giữ vị trí độc tôn trong sinh hoạt gia đình, dòng họ, nghi lễ tín ngưỡng dân gian và giao tiếp nội bộ cộng đồng tại các bản làng vùng cao.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Trung Kiên là công trình nghiên cứu trường hợp hệ thống về cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng người Mông tại huyện Bắc Yên, tỉnh Sơn La. Dựa trên nguồn ngữ liệu điền dã thực chứng được xử lý bằng phương pháp định lượng và định tính chặt chẽ, luận án đã làm rõ diện mạo đa ngữ xã hội qua 3 trục tiêu chí về lượng, về chất và về thái độ ngôn ngữ. Kết quả nghiên cứu khẳng định sự cân bằng chức năng giữa việc bảo tồn tiếng mẹ đẻ (tiếng Mông) và việc phổ cập, nâng cao năng lực ngôn ngữ quốc gia (tiếng Việt), tạo cơ sở khoa học cho việc thực thi chính sách ngôn ngữ và giáo dục vùng dân tộc thiểu số tại Tây Bắc.