Chương 1 TỎNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ ĐỊA BÀN KHẢO SÁT 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu của đề tài luận án Ngôn ngữ học xã hội (Sociolinguistics) có đối tượng nghiên cứu là ngôn ngữ trong mối quan hệ với xã hội. Ngôn ngữ học xã hội (NNHXH) ra đời hướng tới lí giải về các hiện tượng của ngôn ngữ cũng như mô tả những diễn biến của ngôn ngữ trong các môi trường xã hội. Trong một số hoàn cảnh cụ thé, NNHXH lại có xuất phát từ một hay một số biến thể của ngôn ngữ trong quá trình hành chức, thông qua đó mà lí giải về các hiện tượng xã hội có liên quan đến ngôn ngữ.
NNHXH có lịch sử ra đời muộn hơn so với các chuyên ngành khác cùng nghiên cứu về ngôn ngữ. Tuy nhiên, du “sinh sau đẻ muộn” nhưng NNHXH lại nhanh chóng xác lập được vị thế và tầm ảnh hưởng của mình trong nghiên cứu ngôn ngữ học thông qua những thành tựu quan trọng mà nó thu nhận được. Ngày nay, biên độ nghiên cứu của NNHXH không chi dừng lại ở phạm vi một cộng đồng, một dân tộc, một quốc gia, một khu vực mà đôi khi rộng hơn, NNHXH đã quan tâm đến nghiên cứu những van đề xã hội — ngôn ngữ ở một châu lục, thậm chí hướng tới nghiên cứu và xác lập một cách chi tiết về bản đồ ngôn ngữ trên thé giới. Song song với sự mở rộng về biên độ nghiên cứu, NNHXH cũng chú trong nhiều hơn vào những nghiên cứu theo chiều sâu.
Các vấn đề phức tạp của NNHXH ở các quốc gia, các cộng đồng dân tộc sinh sống trong quốc gia đó tiếp tục được đào sâu và làm rõ như van đề cảnh huống ngôn ngữ, tiếp xúc ngôn ngữ, giao thoa và lai tạp ngôn ngữ, ngôn ngữ và giới tính, ngôn ngữ và chính trị, ngôn ngữ và tôn giáo, sinh thái ngôn ngữ, lập pháp ngôn ngữ, ngôn ngữ mạng xã hội,. Như vậy có thể thấy răng, sự ra đời và phát triển của NNHXH đã góp phần làm cho diện mạo và tính chất của bức tranh ngôn ngữ trên thế giới thêm phần sinh động và hấp dẫn hơn. Nhiều mảng màu mới lạ đã được phát hiện và tô điểm thêm làm cho bức tranh nghiên cứu ngôn ngữ thực sự phong phú mà so với trước kia, nếu chỉ thuần túy dựa trên những thành tựu của ngôn ngữ học cấu trúc - hệ thống, ngữ nghĩa học hay ngữ dụng học thì chưa thé thấy hết được. Cảnh huống ngôn ngữ (language situation) là một vấn đề rộng lớn, quan trọng và là một trong những nội dung có tính chất xương sống trong nghiên cứu NNHXH.
Bởi lẽ, suy cho cùng để miêu tả được một cảnh huống ngôn ngữ thì nhất thiết cần phải có một nghiên cứu có tính chất tong thé về các van đề xã hội mà ở đó 17 ngôn ngữ tồn tại và hành chức. Và trong hoạt động của mình thì các dạng biểu hiện, các hình thái tồn tại của ngôn ngữ mới được bộc lộ. Mối quan hệ giữa xã hội và ngôn ngữ nói một cách hình ảnh có tính chất logic, chặt chẽ và biện chứng đến mức giống như mối quan hệ giữa ô khóa và chìa khóa. Đó cũng là lí do mà phần lớn các nhà ngôn ngữ học trên khắp toàn cầu cho đến nay đều dành một sự quan tâm nhất định đến vấn đề cảnh huống ngôn ngữ.
Nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ trên thégiới Vào cuối thập niên thứ 2 của thé ki XX, cum từ “cảnh huống ngôn ngữ” đã đồng thời xuất hiện trong các nghiên cứu ngôn ngữ học của Doke C. Hai tác giả này sử dụng thuật ngữ cảnh huống ngôn ngữ khi tiên hành khảo sát những điều kiện có anh hưởng tới ngôn ngữ các dân tộc tại một số khu vực thuộc châu Phi và châu Á. Tuy nhiên, cũng phải trải qua gần một nửa thé ki sau đó, thuật ngữ cảnh huống ngôn ngữ mới trở nên gần gũi và quen thuộc hơn đối với NNHXH khi các nhà ngôn ngữ học Xô Viết như Avorin (1975), Nikol skij (1976), Aleksandr. thực hiện những nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ tại các nước thuộc hệ thống Xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô trước đây.
Bước sang thế ki XXI mà cụ thể là từ năm 2003 [71, tr.17], sau khi Tổ chức Giáo dục, Văn hóa và Khoa học của Liên hiệp quốc (UNESCO) cho ra đời bộ công cụ nghiên cứu đề đánh giá tình hình ngôn ngữ trong từng địa phương, từng quốc gia thì hầu hết tại các châu lục đều có những nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ. Những nghiên cứu ở châu Âu là: “Cảnh huống ngôn ngữ tại Latvia 2004 - 2011” [138], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Thuy Dién” [128],. Ở châu A: “Tình hình ngôn ngữ của người Assyria ở Jordan” [139], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Trung Quốc” [133], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Lan” [127, 142], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Philipine” [118], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Lào” [136], “Một số van đề về chính sách ngôn ngữ ở Malaysia” [5], “Su hòa trộn ngôn ngữ trong cảnh huống da ngữ ở Malaysia” [141],.Ở châu Mĩ: “Lập kế hoạch ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ” [121], “Vấn đề học ngôn ngữ thứ hai và những tác động xã hội của nó ở Nam Mi” [124], “Giáo dục song ngữ và giải pháp để duy trì lâu dài, nghiên cứu trường hợp ở miền nam Peru” [126]. Ở Châu Phi: “Tình hình ngôn ngữ và chính sách ngôn ngữ ở Nigienia” [115], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Jamaica” [119], “Cảnh huống ngôn ngữ ở Uganda” [130], v.
Trong những nghiên cứu kể trên, mỗi nhà nghiên cứu xuất phat từ những mục đích khác nhau đã có những hướng tiếp cận về cảnh huống ngôn ngữ ở những góc độ khác nhau. Vấn đề cảnh huống ngôn ngữ ở Jamaica, Lào được các tác giả đi 18 sâu vào nghiên cứu tình trạng đa ngữ, sự phân bố chức năng của các ngôn ngữ trong một quốc gia đa dân tộc và đa ngôn ngữ. Cảnh huống ngôn ngữ ở Thái Lan lại được xem xét trong mối quan hệ giữa ngôn ngữ quốc gia (tiếng Thái) với ngôn ngữ của các tộc người thiểu số ở quốc gia này. Với trường hợp của Malayxia, Peru, cảnh huống ngôn ngữ được tìm hiểu và đánh giá tính hữu dụng của bức tranh ngôn ngữ thông qua xu hướng hiện đang tồn tại và phát triển của các ngôn ngữ hiện có.
Trường hợp của Latvia, Jordan thì cảnh huống ngôn ngữ lại được quan tâm ở quá trình chuyển giao ngôn ngữ giữa các thế hệ trong cộng đồng. Trường hợp cảnh huống ngôn ngữ ở Nigienia và Uganda thì lại quan tâm đến sự tác động qua lại giữa các ngôn ngữ tộc người thiểu số với nhau. Bên cạnh đó, một số vấn đề như kế hoạch hóa ngôn ngữ, chính sách ngôn ngữ, giáo dục song ngữ, lập pháp hóa ngôn ngữ cũng đã được đề cập đến trong các nghiên cứu [121], [124], [126]. Đặc biệt với trường hợp cảnh huống ngôn ngữ ở Trung Quốc, có thể nói Trung Quốc là một trong số ít quốc gia trên thé giới đã có sự đầu tư nghiên cứu một cách bài bản và hệ thống về van đề cảnh huống ngôn ngữ.
Công trình [133] cho thấy một bức tranh ngôn ngữ và chữ viết ở một quốc gia có tới gần 1,5 ti dan và rộng lớn về mặt địa lí được phác họa một cách tương đối đầy đủ và chỉ tiết. Trong bức tranh cảnh huống ngôn ngữ ở Trung Quốc, cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Miêu — một trong 55 DTTS ở Trung Quốc [146] đã được miêu tả một cách khá chỉ tiết. Các tác giả đã đặc biệt quan tâm tới các vấn đề như: biến thể ngôn ngữ, chữ viết, sự ảnh hưởng của tiếng Hán đến tiếng Miêu và tình hình sử dụng ngôn ngữ của người Miêu ở các địa bàn có mật độ người Miêu lớn như Quý Châu, Tứ Xuyên, Vân Nam, Hồ Nam, v. Như vậy, khi nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ, tùy thuộc vào nhu cầu xử lí những vấn đề ngôn ngữ liên quan với vấn đề xã hội của địa bàn nghiên cứu, các tác giả sẽ lựa chọn những nội dung khác nhau dé phân tích van dé.
Điểm diện những công trình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ trên thế giới cho thấy tùy thuộc vào mức độ đầu tư về tài chính mà các quốc gia có thé tiễn hành những nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ có tính chất tong thé, bao trùm (trường hợp của Trung Quốc, Thụy Điền) hoặc có thé chỉ dừng lại ở một hoặc một số vấn đề nổi bật của cảnh huống ngôn ngữ. Dù phạm vi, mức độ và tính chất của những nghiên cứu là khác nhau song việc nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ được quan tâm ở khắp các châu lục đã bố sung va hoàn thiện được một hệ thong co so li luận về cảnh huống ngôn ngữ - một trong những van dé trong tâm của NNHXH. Thêm vào đó, thông qua các công trình đã được công bố, bức tranh xã hội về ngôn ngữ tại các khu vực trên thế giới đã phần nào được lộ diện và nhận được sự quan 19 tâm từ thể chế của các quốc gia. Tuy nhiên, do ngoại diên của vấn đề cảnh huống ngôn ngữ là rất rộng lớn cho nên các nghiên cứu đã được công bố cũng chưa thé bao quát và làm rõ hết được các van dé của cảnh huéng ngôn ngữ dang đặt ra và có xu hướng thay đổi theo thời gian.
Nghiên cứu cảnh huéng ngôn ngữ ở Việt Nam Bức tranh ngôn ngữ học xã hội ở Việt Nam thường được các nhà nghiên cứu ngôn ngữ học tiếp cập theo ba mảng đề tài lớn là đề tài nghiên cứu liên quan đến tiếng Việt, đề tài nghiên cứu liên quan đến ngôn ngữ các DTTS và đề tài nghiên cứu dành cho ngoại ngữ đang được sử dụng ở Việt Nam. Những mảng đề tài này cũng đã được miêu tả ở rất nhiều những dạng thức thê hiện những trạng thái cảnh huống ngôn ngữ khác nhau. Chang hạn, với mang đề tài tiếng Việt là các cảnh huống ngôn ngữ ở đô thị, ngôn ngữ ở nông thôn, ngôn ngữ tiếng Việt trong bối cảnh hội nhập, những biến thể tiếng Việt trong sử dụng ngôn ngữ của giới trẻ, v. Do phạm vi nghiên cứu của đề tài luận án tập trung xử lí vấn đề nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ vùng DTTS nên ở đây chúng tôi chỉ giới hạn tập trung ưu tiên cho việc trình bày về lịch sử van đề nghiên cứu cảnh huống ngôn ngữ các DTTS; trong đó đặc biệt ưu tiên theo dõi tình hình nghiên cứu về cảnh huống ngôn ngữ liên quan đến tiếng Mông, là ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu chính của luận án.