Đảng bộ huyện Văn Bàn tỉnh Lào Cai lãnh đạo sự nghiệp giáo dục 2000 - 2010

Luận văn thạc sĩ lịch sử Đảng về vai trò của Huyện ủy Văn Bàn tỉnh Lào Cai trong lãnh đạo phát triển sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2000-2010.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ
126
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan đề tài Đảng bộ huyện Văn Bàn lãnh đạo sự nghiệp giáo dục

Đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng nghiên cứu quá trình Đảng bộ huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai lãnh đạo sự nghiệp giáo dục giai đoạn 2000-2010. Đây là thời kỳ toàn Đảng đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Giáo dục và đào tạo được xác định là quốc sách hàng đầu. Địa bàn Văn Bàn có điều kiện tự nhiên khắc nghiệt, kinh tế còn nhiều khó khăn. Dân tộc thiểu số chiếm tỷ lệ lớn trong cơ cấu dân cư. Do đó, nâng cao dân trí là mục tiêu then chốt để phát triển kinh tế bền vững. Nghiên cứu phân tích các nghị quyết của Đảng bộ huyện qua các kỳ đại hội. Văn kiện chỉ rõ các định hướng củng cố cơ sở vật chất trường học. Đề tài làm rõ cơ sở lý luận về vai trò lãnh đạo toàn diện của tổ chức cơ sở Đảng. Các chủ trương của Trung ương và Tỉnh ủy Lào Cai được cụ thể hóa phù hợp với đặc thù địa phương. Công trình góp phần hệ thống hóa các tư liệu lịch sử quan trọng của huyện vùng cao. Những kết quả nghiên cứu mang lại nguồn cứ liệu khoa học tin cậy cho địa phương.

1.1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu lịch sử giáo dục Văn Bàn

Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tiễn phát triển nguồn nhân lực tại địa phương. Giáo dục đóng vai trò quyết định đối với tiến trình giảm nghèo bền vững. Huyện Văn Bàn bước vào giai đoạn 2000-2010 với xuất phát điểm kinh tế thấp. Tỷ lệ mù chữ và tái mù chữ ở vùng cao còn diễn biến phức tạp. Việc tổng kết công tác lãnh đạo của Đảng bộ có ý nghĩa khoa học sâu sắc. Công trình giúp nhìn nhận khách quan những đóng góp của tổ chức Đảng trong việc nâng cao dân trí. Kết quả nghiên cứu bổ sung dữ liệu cho lịch sử Đảng bộ huyện Văn Bàn.

1.2. Mục tiêu và phạm vi nghiên cứu của luận văn thạc sĩ

Luận văn tập trung làm rõ đường lối và sự chỉ đạo của Đảng bộ huyện đối với hệ thống giáo dục. Phạm vi không gian giới hạn tại địa bàn huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai. Phạm vi thời gian nghiên cứu kéo dài từ năm 2000 đến năm 2010. Mục tiêu nghiên cứu nhằm đánh giá đúng thành tựu và hạn chế trong công tác quản lý giáo dục. Tác giả sử dụng phương pháp lịch sử kết hợp phương pháp logic. Các nguồn tư liệu từ báo cáo tổng kết của Huyện ủy được đối chiếu chặt chẽ. Luận văn khẳng định vai trò tiên phong của cấp ủy địa phương.

II. Thực trạng Đảng bộ huyện Văn Bàn lãnh đạo sự nghiệp giáo dục

Giai đoạn 2000-2010 ghi nhận nhiều bước chuyển mình của giáo dục huyện Văn Bàn dưới sự lãnh đạo của Đảng bộ. Cơ sở vật chất trường học từng bước được kiên cố hóa. Mạng lưới trường lớp mở rộng đến tận các thôn bản xa xôi. Các xã đặc biệt khó khăn nhận được sự đầu tư ưu tiên từ ngân sách nhà nước. Phong trào xã hội hóa giáo dục thu hút sự tham gia tích cực của nhân dân. Nhiều phòng học cấp ba và cấp bốn được xây dựng thay thế phòng học tạm. Tuy nhiên, thực trạng giáo dục vẫn bộc lộ những khó khăn mang tính đặc thù miền núi. Cơ cấu giáo viên chưa đồng bộ giữa các vùng trong huyện. Trình độ chuyên môn của đội ngũ cán bộ quản lý còn nhiều bất cập. Tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn chưa cao so với mặt bằng chung. Đời sống vật chất của nhà giáo vùng sâu còn thiếu thốn. Sự bất cập về nguồn lực tài chính làm chậm tiến độ hiện đại hóa trường học. Đánh giá khách quan giúp xác định đúng những rào cản cần vượt qua.

2.1. Kết quả nổi bật trong mở rộng mạng lưới trường lớp

Huyện ủy Văn Bàn đã huy động các nguồn lực nhằm kiên cố hóa trường học. Đến năm 2005, toàn huyện xây dựng được 420 phòng học cấp 3 và 176 phòng học cấp 4. Các điểm trường lẻ được thành lập tại vùng sâu giúp trẻ em đi học thuận tiện. Tỷ lệ huy động học sinh đúng độ tuổi đến trường tăng đều hàng năm. Ngành giáo dục huyện nhận nhiều cờ thi đua và bằng khen từ các cấp quản lý. Công tác phổ cập giáo dục tiểu học và trung học cơ sở đạt chuẩn theo quy định. Đây là tiền đề vững chắc cho việc nâng cao dân trí toàn huyện.

2.2. Những tồn tại và hạn chế về chất lượng đội ngũ giáo viên

Sự nghiệp giáo dục địa phương phải đối mặt với tình trạng thiếu hụt giáo viên đạt chuẩn. Tỷ lệ giáo viên mầm non đạt chuẩn còn ở mức thấp. Tình trạng thừa thiếu giáo viên cục bộ diễn ra giữa các trường trung tâm và vùng sâu. Chế độ đãi ngộ cho giáo viên dân lập chưa đáp ứng tốt nhu cầu cuộc sống. Năng lực quản lý của một số cán bộ trường học còn trì trệ và chậm đổi mới. Việc áp dụng phương pháp giảng dạy tiên tiến gặp khó khăn do thiếu trang thiết bị hỗ trợ. Những rào cản này làm giảm hiệu quả giáo dục toàn diện.

III. Giải pháp của Đảng bộ huyện Văn Bàn nâng cao chất lượng giáo dục

Để khắc phục khó khăn, Đảng bộ huyện Văn Bàn đã ban hành nhiều nghị quyết chuyên đề lãnh đạo giáo dục. Cấp ủy tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng cho đội ngũ giáo viên. Đào tạo và bồi dưỡng chuyên môn cho cán bộ quản lý được đẩy mạnh liên tục. Huyện thực hiện chính sách thu hút và ưu đãi đặc thù cho giáo viên công tác tại vùng cao. Các cấp chính quyền phối hợp chặt chẽ với đoàn thể nhằm vận động học sinh đến trường. Công tác kiểm tra, giám sát chất lượng dạy và học được duy trì thường xuyên. Huyện ủy chỉ đạo lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia để xây dựng cơ sở hạ tầng. Nguồn vốn đầu tư công tập trung xây dựng nhà công vụ và ký túc xá học sinh bán trú. Việc đổi mới phương pháp giảng dạy gắn liền với bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc. Từng giải pháp thể hiện tư duy lãnh đạo linh hoạt, bám sát thực tiễn địa phương của Đảng bộ huyện Văn Bàn.

3.1. Đổi mới công tác xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo

Đảng bộ huyện xác định người thầy giữ vai trò trung tâm trong đổi mới giáo dục. Huyện ủy chỉ đạo rà soát, quy hoạch lại đội ngũ giáo viên theo từng môn học. Công tác đào tạo chuẩn hóa trình độ được tiến hành định kỳ hàng năm. Cấp ủy quan tâm bồi dưỡng phát triển Đảng viên trong đội ngũ giáo viên trẻ. Tinh thần trách nhiệm và đạo đức nhà giáo được đề cao trong mọi hoạt động sư phạm. Các buổi sinh hoạt chuyên môn cụm trường giúp giáo viên trao đổi kinh nghiệm thực tế. Nhờ đó, chất lượng giảng dạy tại các xã vùng sâu có chuyển biến tích cực.

3.2. Đẩy mạnh xã hội hóa và kiên cố hóa cơ sở vật chất trường học

Huyện ủy Văn Bàn phát động phong trào toàn dân đóng góp công sức xây dựng trường học. Các tổ chức xã hội và nhân dân tích cực hiến đất mở rộng điểm trường. Nguồn vốn ngân sách kết hợp vốn viện trợ được sử dụng minh bạch và hiệu quả. Mô hình trường bán trú dân nuôi được thành lập tạo điều kiện cho học sinh ở xa. Việc đầu tư trang thiết bị dạy học hiện đại được ưu tiên tại các trường trung tâm xã. Cơ chế xã hội hóa giúp giảm bớt gánh nặng tài chính cho ngân sách huyện. Môi trường học tập của học sinh vùng cao ngày càng được cải thiện.

IV. Bài học kinh nghiệm từ sự lãnh đạo giáo dục của Đảng bộ Văn Bàn

Quá trình Đảng bộ huyện Văn Bàn lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010 để lại nhiều bài học giá trị. Bài học hàng đầu là phải giữ vững vai trò chỉ đạo trực tiếp và toàn diện của cấp ủy Đảng. Mọi chủ trương phát triển giáo dục phải xuất phát từ điều kiện kinh tế và văn hóa địa phương. Đầu tư cho giáo dục cần có trọng tâm, trọng điểm, tránh dàn trải lãng phí nguồn lực. Xây dựng đội ngũ giáo viên đủ về số lượng và đồng bộ về cơ cấu là khâu quyết định. Đề tài luận văn thạc sĩ Lịch sử Đảng có giá trị tham khảo thiết thực cho công tác quản lý hiện nay. Những kinh nghiệm đúc kết từ giai đoạn này giúp định hướng chính sách giáo dục vùng cao trong tương lai. Sự đồng thuận của nhân dân là nhân tố quyết định thành công của phong trào xã hội hóa. Đây là tư liệu bổ ích cho các nhà nghiên cứu lịch sử Đảng và quản lý giáo dục.

4.1. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận văn thạc sĩ

Luận văn tổng kết một chặng đường lịch sử quan trọng trong công tác lãnh đạo của Đảng bộ Văn Bàn. Đề tài cung cấp hệ thống luận cứ khoa học về sự phát triển giáo dục miền núi. Công trình làm sáng tỏ quy luật vận động của hệ thống trường lớp vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Kết quả nghiên cứu có thể ứng dụng trực tiếp vào giảng dạy lịch sử địa phương. Tài liệu phục vụ hiệu quả cho việc bồi dưỡng lý luận chính trị cán bộ cơ sở. Giá trị thực tiễn của luận văn khẳng định sự đúng đắn trong đường lối giáo dục của Đảng.

4.2. Vận dụng bài học lịch sử vào đổi mới giáo dục hiện nay

Các bài học lãnh đạo giai đoạn 2000-2010 tiếp tục được kế thừa trong bối cảnh đổi mới căn bản giáo dục. Địa phương cần tiếp tục quan tâm chính sách đãi ngộ giáo viên vùng khó khăn. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý trường học cần được đẩy mạnh đồng bộ. Cấp ủy cơ sở cần thường xuyên lắng nghe tâm tư của phụ huynh và học sinh. Phát huy nội lực của cộng đồng là giải pháp then chốt để duy trì sĩ số học sinh. Sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng bộ sẽ đưa giáo dục huyện Văn Bàn phát triển bền vững.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

15/06/2026
Lv ths lsđ đảng bộ huyện văn bàn tỉnh lào cai lãnh đạo sự nghiệp giáo dục từ năm 2000 đến năm 2010

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CÔNG TÁC LÃNH ĐẠO SỰ NGHIỆP GIÁO DỤC CỦA ĐẢNG BỘ HUYỆN VĂN BÀN, TỈNH LÀO CAI TỪ NĂM 2000 ĐẾN NĂM 2005 1. Những nhân tố tác động đến công tác lãnh đạo sự nghiệp giáo dục của Đảng bộ huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai 1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội và thực trạng giáo dục của Đảng bộ huyện Văn Bàn 1.1 Vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên Văn Bàn là một địa danh hành chính của Tổ quốc Việt Nam có từ xa xưa và được phân giới địa chính qua các giai đoạn lịch sử. Ngày 11/4/1900 tỉnh Yên Bái được thành lập, Văn Bàn trở thành một châu thuộc tỉnh Yên Bái.

Từ 5/4/1906 xã Phú Nhuận, tổng Xuân Giao được tách sang huyện Bảo Thắng thành lập tỉnh Lào Cai. Với âm mưu chia tách, gây mâu thuẫn giữa các dân tộc để dễ bề cai trị, thực dân Pháp đã chia nhỏ các xã theo khu vực cư trú của từng dân tộc và đặt tên xã gắn với tên dân tộc cư trú. Lúc này châu Văn Bàn gồm 24 xã, chia thành hai vùng: Vùng trong gồm 15 xã và vùng ngoài gồm 9 xã. Sau ngày giải phóng, châu Văn Bàn được đổi thành huyện Văn Bàn.

Ngày 03/01/1976 sáp nhập tỉnh Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái, tỉnh Lào Cai thành lập tỉnh Hoàng Liên Sơn. Huyện Văn Bàn là một trong hai mươi ba huyện, thị xã của tỉnh Hoàng Liên Sơn. Đến năm 1991, tách tỉnh Hoàng Liên Sơn tái thành lập tỉnh Lào Cai và tỉnh Yên Bái, huyện Văn Bàn là một trong chín huyện của tỉnh Lào Cai. Huyện Văn Bàn là một huyện miền núi vùng cao của tỉnh Lào Cai có tổng diện tích tự nhiên là 142.206 ha, nằm ở vị trí 103 o47’ đến 104o36’ kinh độ đông, 12 21o20’ đến 20o14’ vĩ độ bắc, có độ cao trung bình so với mực nước biển từ 700- 900m; gồm 22 xã, 1 thị trấn (có 19 xã đặc biệt khó khăn).

Phía bắc giáp huyện Bảo Thắng và Sa Pa; phía đông giáp huyện Bảo Yên và huyện Văn Yên, tỉnh Yên Bái; phía nam và đông nam giáp huyện Mù Cang Chải, tỉnh Yên Bái; phía tây giáp với huyện Than Uyên, tỉnh Lai Châu. Trung tâm huyện cách trung tâm tỉnh Lào Cai 79 km theo tỉnh lộ 151 và quốc lộ 279. Huyện có 2 trục giao thông chính đi qua là quốc lộ 279 từ Bảo Hà đi Than Uyên, tỉnh Lai Châu, đây là tuyến đường huyết mạch trong giao lưu kinh tế với các huyện khác trong khu vực và tuyến đường tỉnh lộ 151 thuận lợi cho việc giao lưu kinh tế với trung tâm tỉnh Lào Cai. Văn Bàn nằm giữa hai dãy núi cao, lớn là dãy Hoàng Liên Sơn và dãy Con Voi.

Thời tiết, khí hậu nóng ẩm, gió Tây – Nam (gió Lào) xuất hiện từ tháng 3 đến tháng 9 hàng năm ảnh hưởng đến sức khoẻ con người, động thực vật và nguy cơ cháy rừng cao. Diện tích đất chủ yếu là đồi núi, địa hình bị chia cắt bởi các dãy đồi núi đất, núi đá khá cao tạo nên nhiều thung lũng và các suối khe. Lượng mưa hàng năm khá lớn gây lũ quét, sạt lở đất cộng với sương mù về mùa đông đã ảnh hưởng tới sản xuất và đi lại của đồng bào địa phương cũng như việc trẻ đến trường. Diện tích đất nông nghiệp là 9.580 ha, trong đó đất trồng cây hàng năm là 4.400 ha, đất đồng cỏ chăn nuôi là 3000 ha, mặt nước nuôi trồng thuỷ sản là 167 ha….

Cơ bản đã hình thành được vùng cây, vùng con, như vùng thâm canh lúa ở Võ Lao, Khánh Yên Hạ, Dương Quỳ…; Vùng cây thảo qủa ở Nậm Chầy, Nậm Xây, Nậm Xé, Liêm Phú; vùng chăn nuôi đại gia súc thuộc các xã phía tây của huyện. Đất lâm nghiệp có rừng trên 80.000 ha, độ tán che phủ đạt 60,6%, trữ lượng tài nguyên rừng ước khoảng 12 triệu m3 gỗ trong đó có nhiều loại gỗ quý hiếm, khoảng 53 triệu cây vầu, nứa các loại, ngoài ra còn có khoảng 36. 400 ha đất đồi núi chưa sử dụng có khả năng sản xuất lâm nghiệp. 13 Tài nguyên khoáng sản đa dạng phong phú, trữ lượng tương đối lớn như mỏ sắt Quý sa ở xã Sơn Thuỷ trữ lượng 114 triệu tấn; Pen Pát ở Làng Giàng trữ lượng 10 triệu tấn; Mỏ Apatít bản Phúng thuộc xã Chiềng Ken, mỏ vàng ở Minh Lương, lưu huỳnh, pirit, than, vàng sa khoáng trên các dòng sông, suối, trên các bồn địa, phốt pho, đá vôi, đá xanh, cát vàng, sỏi.

hầu hết các khoáng sản tại Văn Bàn đều có trữ lượng, hàm lượng khá lớn và lộ thiên. Văn Bàn có sông Hồng chạy qua và có mạng lưới sông suối dày như suối Nhù, suối Tha, suối Chăn độ dốc cao, độ chênh lệch lớn đây là tiềm năng thế mạnh cho cho việc xây dựng các công trình thuỷ điện nhỏ và vừa, xây dựng các công trình thuỷ lợi phục vụ nước sản xuất và sinh hoạt của nhân dân. Toàn huyện có 11 dân tộc anh em chung sống, trong đó dân tộc Tày là chủ yếu chiếm 56%, số còn lại là dân tộc Kinh, Mông, Dao, Dáy, Thái, Xa phó… Các dân tộc ít người tập trung phần lớn ở vùng cao Nậm Chày, Nậm Mả, Nậm Xé, Nậm Xây, Nậm Tha… đời sống còn gặp nhiều khó khăn, dân trí thấp. Đặc biệt Văn Bàn là nơi duy nhất của tỉnh Lào Cai có dân tộc Mông Xanh - một trong 4 ngành dân tộc Mông cư trú ở Việt Nam, sinh sống tại xã Nậm Xé của huyện.

Tổng dân số toàn huyện là trên 85.000 người 271 thôn bản, tổ dân phố. Truyên thống văn hóa Văn Bàn từ xa xưa vốn là mảnh đất giàu truyền thống lịch sử văn hóa. Đã từ lâu các thế hệ nhân dân các dân tộc huyện Văn Bàn đã nuôi dưỡng, hình thành ý thức quốc gia dân tộc một cách bền vững, nêu cao tinh thần bất khuất chống giặc ngoại xâm bảo vệ Tổ quốc. Trong suốt quá trình ấy dưới sự lãnh đạo của Đảng nhân dân các dân tộc huyện Văn Bàn luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đập tan mọi âm mưu hành động chống phá của các thế lực thù địch bảo vệ vững chắc quê hương đất nước, đồng thời ra sức lao động sản xuất, khắc phục hậu quả chiến tranh, xây dựng cuộc sống mới.

14 Cùng với truyền thống cách mạng, Văn Bàn còn là mảnh đất chứa đựng nhiều nét văn hóa tốt đẹp đặc sắc tiêu biểu cho núi sông, con người Lào Cai. Huyện Văn Bàn có các điểm di tích lịch sử văn hóa như Khu du kích Pú Gia Lan, Đền Cô Tân An và Đền Ken hang Thẩm Dương, hang Thẳm Sáng, với những thạch động muôn vàn nhũ đá kỳ ảo. Mặc dù là nơi quần cư của nhiều dân tộc. Văn Bàn là một vùng văn hóa truyền thống đặc sắc của các dân tộc, nơi hội tụ các sắc màu văn hóa của 11 dân tộc anh em luôn đoàn kết, gắn bó chung sức chống thiên tai, địch họa, xây dựng bản làng, xây dựng cuộc sống mới.

Ta có thể tìm thấy trong đời sống của nhân dân mỗi dân tộc Tày, Dao, H’mông. những bản sắc văn hóa tốt đẹp thể hiện qua nhiều thuần phong mĩ tục của từng dân tộc như tập tục tổ chức lễ hội chợ phiên, hát giao duyên trong hội chợ. Hằng năm vào mùa xuân diễn ra các lễ hội truyền thống thể hiện sự biết ơn và giáo dục truyền thống cho thế hệ con cháu, cầu cho mùa màng bội thu, mưa thuận gió hòa như lễ hội “Lồng tồng” của dân tộc Tày với các trò chơi như ném còn, kéo co, chọi gà bằng bi chuối, chọi trâu bằng măng vầu.; Lễ hội “Gầu tào” của dân tộc Mông; Lễ “Cấp sắc” của đồng bào dân tộc Dao. Văn Bàn là một vùng đất giàu truyền thống văn hóa, các truyền thống ấy đã tạo nên một sức mạnh mãnh liệt bền bỉ ngay trên mảnh đất quê hương để trường tồn cùng nền văn hóa chung của Lào Cai và của dân tộc Việt Nam.

Tình hình kinh tế - xã hội, quốc phòng an ninh Kinh tế chủ yếu của huyện Văn Bàn là kinh tế nông - lâm nghiệp, chiếm tỷ trọng 63%. Từ lâu đời nay, với lợi thế địa hình, khí hậu thổ nhưỡng, nhân dân các dân tộc Văn Bàn đã sớm canh tác lúa nước, hầu hết các bồn địa, dải đất thuộc thung lũng, ven chân núi, dọc theo các khe, suối nhân dân đã khai phá thành các tràn ruộng nước canh tác qua nhiều đời nay. Canh tác lúa nước, chăn nuôi đại gia súc đã thành tập quán của nhân dân Văn Bàn. Ngoài ra nhân dân còn trồng bông, dệt vải tự 15 cung cấp quần áo, chăn gối, đệm và đồ gia dụng khác.

Đây là điều kiện cơ bản mà nhân dân đã hình thành lên tập quán cư trú quần cư theo từng bản. Kinh tế công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp còn nhỏ bé, chủ yếu là khai thác khoáng sản và vật liệu xây dựng. Kinh tế thương mại, dịch vụ gắn với nền kinh tế hàng hóa mới bước đầu phát triển. Văn hoá- xã hội thường xuyên được quan tâm, không ngừng phát triển và đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng.

Quy mô, mạng lưới trường lớp học tăng, chất lượng dạy học ngày một nâng lên, phong trào xã hội hoá giáo dục phát triển mạnh, cơ sở vật chất ngày một khang trang. Công tác y tế, chăm sóc sức khoẻ nhân dân luôn được quan tâm chú ý, thực hiện tốt các chương trình y tế cộng đồng và chăm sóc sức khoẻ nhân dân, đặc biệt là thực hiện các chương trình y tế với người nghèo, đối tượng chính sách. Hoạt động văn hoá - thông tin – thể thao phát triển mạnh, đảm bảo giữ gìn và phát huy bản sắc dân tộc. Phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá được đẩy mạnh ; đến nay có 80% dân số được xem truyền hình ; 90 % dân số được nghe đài tiếng nói Việt Nam.

Về chính sách xã hội, giải quyết việc làm : Đảm bảo thực hiện đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả các chương trình, chính sách xã hội như công tác xây dựng chính quyền cơ sở, công tác quản lý cán bộ, tiền lương, công tác chính sách xã hội, công tác lao động việc làm. Công tác an ninh, quốc phòng thường xuyên được quan tâm, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, tạo môi trường thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Hàng năm đều hoàn thành kế hoạch giao quân, đẩy mạnh phong trào quần chúng bảo vệ an ninh tổ quốc, tăng cường đấu tranh phòng chống tội phạm ; giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân kịp thời. Công tác bảo vệ chính trị nội bộ, bảo vệ Đảng, bảo vệ chính quyền được tăng cường.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ