Chương 1 sẽ trình bày lý do hình thành đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng nghiên cứu, ý nghĩa hình thành đề tài và tính cần thiết của đề tài này. Đây là một chương quan trọng vì một nghiên cứu khoa học nào cũng cần xác định rõ vấn đề đầu tiên là lý do hình thành đề tài nghiên cứu này. Chương này được trình bày 8 phần, đầu tiên là lý hình thành đề tài. Lý do hình thành đề tài Về thực tiễn, Campuchia không chỉ là đất nước láng giềng thân thương của Việt Nam mà còn là một trong những đối tác thương mại lớn, cụ thể trong năm 2019 kim ngạch xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Campuchia đã đạt 5.2 tỷ USD tăng gần 3 lần so với năm 2010 (Uyên Hương, 2021).
Trong khi Thái Lan xuất siêu sang Việt Nam thì việc xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia lại tạo nên giá trị thặng dư hơn 1.7 tỷ USD/ năm cho Việt Nam (Tổng cục hải quan, 2018), cao nhất so với việc xuất khẩu sang các nước khác trong khu vực ASEN. Đồng thời kim ngạch xuất khẩu này cũng đạt giá trị tăng trưởng bình quân 18% năm theo số liệu của Bộ kế hoạch đầu tư Việt Nam (Uyên Hương, 2021). Như vậy, thị trường Campuchia là một thị trường tiềm năng và rất quan trọng trong việc đem lại nguồn ngoại tệ lớn cho Việt Nam. Do đó giao thương xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia đang ngày càng phát triển trên tinh thần hữu nghị hợp tác giữa hai nước và hiện tại đã có rất nhiều doanh nghiệp sản xuất và xuất khẩu của Việt Nam xem thị trường Campuchia là thị trường tiềm năng để phát triển.
Nhân dân và các doanh nghiệp của Campuchia tin tưởng các mặt hàng nhập khẩu từ Việt Nam cùng vì từ lâu bán đảo Đông Dương đã có mối quan hệ thân thiết giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia. Mối quan hệ này trên tinh thần “láng giềng tốt đẹp, hữu nghị truyền thống, hợp tác toàn diện, bền vững lâu dài”. Đặc biệt trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 phức tạp từ giai đoạn năm 2019 đến 2021, mối quan hệ giữa hai nước vẫn không ngừng thắt chặt trên nhiều phương diện điển hình với việc duy trì và cải tiến mô hình thông quan phòng dịch tại cửa khẩu đường bộ, đường sông; đảm bảo không gián đoạn chuỗi cung ứng (“Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Campuchia 07 tháng đầu năm 2021”, 2021). Mặc dù vậy, ảnh hưởng 1|Page của đại dịch covid-19 lên tình hình xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia vẫn không nhỏ, theo số liệu thống kê của Tổng cục hải quan, năm 2020 kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang thị trường Campuchia đạt 4.14 tỷ USD, giảm 5.33% so với cùng kỳ năm trước (“Năm 2020: Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Campuchia đạt 4,14 tỷ USD”, 2021).
Cũng theo nguồn số liệu trên, trong năm 2020 những nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Campuchia bao gồm: xuất khẩu sắt thép đạt 839.68 triệu USD, giảm 14.24% tỷ trọng xuất khẩu; đứng thứ 2 là nhóm hàng dệt may, trị giá 628.50 triệu USD, tăng 3.15% tỷ trọng; xuất khẩu xăng dầu đạt 250.74 triệu USD- là mặt hàng có giá trị kim ngạch xuất khẩu lớn thứ 3. Mãi đến đầu năm 2021, tình hình xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia mới được cải thiện, theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam cho thấy, 11 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa giữa hai nước đạt 8.63 tỷ USD, tăng 84% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, hàng Việt Nam xuất khẩu sang Campuchia đạt 4.35 tỷ USD, tăng 17% và hàng Campuchia xuất sang Việt Nam đạt 4.282 tỷ USD, tăng 3.37% so với cùng kỳ năm ngoái (Nguyễn Hiệp, 2021). Không chỉ bị tác động từ dịch bệnh covid-19, các thảm họa tự nhiên như bão và lũ lụt cũng góp phần ảnh hưởng xấu đến công tác thương mại giữa hai nước, Tổng thư ký Liên đoàn Gạo Campuchia cho biết, thiệt hại do lũ lụt tháng 10 năm 2020 có thể làm giảm lượng thóc xuất khẩu sang Việt Nam vốn đạt tới hơn 2 triệu tấn/năm đồng thời cũng gây cản trở cho Việt Nam xuất khẩu hàng hóa sang Campuchia qua đường bộ (Văn Đỗ & Tâm Hiếu, 2020).
Ngoài rủi ro về thảm họa (thiên tai, dịch bệnh), trong giai đoạn 2018 đến năm 2021 còn chịu nhiều rủi ro khác về hậu cần và nguồn cung, chẳng hạn có thể kể đến sự cố tàu Ever Given mắc cạn tại kênh đào Suez đã ảnh hưởng không nhỏ đến việc xuất khẩu và nhập khẩu của các doanh nghiệp tại Việt Nam, trong đó có cả nguyên liệu dùng để sản xuất các đơn hàng giao đi Campuchia. Cụ thể theo theo ông Lê Duy Hiệp – Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Logistic Việt Nam, ngoài việc các đơn hàng xuất khẩu của Việt Nam đi châu Âu bị chậm trễ thì các đơn hàng nguyên liệu từ châu Âu về lại Việt Nam đã bị chậm hành trình từ 7-30 ngày do phải chờ thông quan hoặc chọn con đường đi 2|Page vòng qua Mũi Hảo Vọng (“Doanh nghiệp Việt thiệt hại ra sao sau sự cố Ever Given”, 2021).1 Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước ASEAN năm 2020 (nguồn: website Tin đồ họa thông tấn xã Việt Nam) Hình 1.2 Tỷ trọng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang thị trường ASEAN trong năm 2017 (nguồn: Tổng cục hải quan Việt Nam) Hình 1.3 Cán cân thương mại của các nước thành viên ASEAN với Việt Nam trong năm 2017 (nguồn: website Tổng cục hải quan Việt Nam) 3|Page Hình 1.4 Lũ lụt nghiêm trọng ở Campuchia 10/2021 (nguồn: website VOV-Phnom Penh, Campchia) Hình 1.5 Tàu Ever Given mắc cạn tại kênh đào Suez tháng 3/2021 (nguồn: website United States Environmental Protection Agency) Trước các rủi ro và khó khăn về địa lý như trên, chính phủ hai nước vẫn cố gắng xúc tiến đẩy mạnh mối quan hệ hợp tác song phương này, cụ thể trong những năm gần đây, chính phủ Campuchia đã cải tạo cơ sở hạ tầng, điển hình là việc xây dựng các tuyến đường cao tốc tạo kết nối thương mại quốc tế rất quan trọng giữa các nước Đông Nam Á và Trung Quốc, giúp Campuchia có thêm cơ hội xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài (“Campuchia cải tạo hạ tầng để thúc đẩy xuất khẩu”, 2020). Việc giao thương giữa Việt Nam và Campuchia có ưu điểm thuận tiện và chi phí thấp 4|Page cũng như giá cả sản phẩm tốt, nên chính phủ hai nước đang nổ lực thúc đẩy mối quan hệ này. Hiện nay người tiêu dùng Campuchia đang chuyển hướng sang dùng sản phẩm của Việt Nam thay cho hàng hóa sản phẩm của Thái Lan do chất lượng hàng Việt Nam đã tương đương với hàng Thái Lan, ổn định hơn hàng Trung Quốc, đồng thời hàng Việt Nam có giá tương đối rẻ.
Theo báo một số thương hiệu của Việt Nam như Vinamilk, Vissan, Mỹ phẩm Sài Gòn đã gây dựng được lòng tin với người tiêu dùng Campuchia và ngày càng khẳng định vị thế hàng hóa Việt Nam (“Campuchia - Thị trường tiềm năng cho hàng hóa Việt Nam”, 2013). Như vậy bài toán thực tiễn cần đặt ra cho nghiên cứu này là: làm sao giảm thiểu được các rủi ro đã xảy ra trong giai đoạn 2018 đến 2021 để góp phàn nâng cao được hiệu quả chuỗi cung cứng từ Việt Nam sang Campuchia.6 Sản phẩm từ nhựa của Việt Nam được người dân Campuchia tin dùng (nguồn: website Báo Người Lao Động) Để nâng cao hiệu quả chuỗi cung ứng của các doanh nghiệp xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia trong giai đoạn mới (cách mạng công nghiệp 4.0) và trong bối cảnh “thế giới đang tương đối bất ổn và các chuỗi cung ứng ngày càng nhạy cảm” (Craighead, Blackhurst, Rungtusanatham & Handfield, 2007); (Zsidisin, Ragatz, & Melnyk, 2005a) là một bài toán không dễ đối với các nhà quản lý và chính phủ hai bên. Trên thế giới cũng đã có nhiều nghiên cứu về rủi ro chuỗi cung ứng trong ngành xuất khẩu được thực hiện với nhiều cách tiếp cận và phương pháp khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu về rủi ro chuỗi cung ứng trong ngành xuất khẩu Việt Nam sang 5|Page Campuchia nói riêng là còn khá hạn chế. Đồng thời, các nghiên cứu trước đây về rủi ro tác động đến hiệu quả chuỗi cung ứng cũng bộc lộ những giới hạn riêng khi mỗi một nghiên cứu chỉ đặt trong một bối cảnh cụ thể và đã bỏ qua một số rủi ro khác do đặc trưng thuận lợi của từng khu vực đang xem xét.
Nghiên cứu của Shahbaz, Kazi, Bhatti, Abbasi & Zuraidah (2019) bỏ qua rủi ro phía nguồn cung, rủi ro nhu cầu do việc sản xuất và xuất khẩu cây cọ ở Malaysia đã có nguồn cung dồi dào và dư thừa từ trong nước. Nghiên cứu của Wager và Bode (2009) mặc dù đã đưa yếu tố rủi ro thảm họa vào mô hình xem xét nhưng nghiên cứu lại được tiến hành kiểm nghiệm ở nước Đức, một đất nước bình yên và không bị ảnh hưởng đáng kể bởi tác động từ thảm họa nào. Hay nghiên cứu của Chen, Sohal & Prajogo (2013) chỉ xem xét 3 yếu tố rủi ro tác động trực tiếp đến doanh nghiệp (rủi ro nguồn cung, rủi ro qui trình, rủi ro nhu cầu) mà đã bỏ qua sự tác động của các rủi ro bên ngoài khác (rủi ro về thảm họa, rủi ro về tài chính, rủi ro về thể chế, rủi ro về hậu cần). Hoặc một nghiên cứu mới nhất của Rozhkova và Dalisova (2021) cũng chỉ xem xét các rủi ro tác động đến chuỗi cung ứng trong ngành xuất khẩu nông sản ở Nga, một đất nước có thuận lợi giao thương qua 4 con đường (đường bộ, đường biển, đường hàng không và đường sắt) nên mô hình của Rozhkova và Dalisova (2021) cũng không thể áp dụng được cho ngành xuất khẩu nói chung (đa mặt hàng) từ Việt Nam sang Campuchia khi chỉ đi bằng đường bộ là chủ yếu.
Do đó, tác giả cùng đứng trên quan điểm dự phòng về quản lý rủi ro chuỗi cung ứng của Ketchen, Thomas & McDaniel (1996), tác giả nhận thấy sự cấp thiết phải tìm ra một mô hình thể hiện nhiều loại rủi ro xuất phát từ nhiều nguồn khác nhau, đồng thời không có sự thuận lợi riêng (về mặt địa lý, nguồn cung, vận chuyển…) để áp dụng trong ngành xuất khẩu từ Việt Nam sang Campuchia trong bối cảnh hiện nay khi mà chuỗi cung ứng nói chung trên toàn thế giới đều chịu nhiều ảnh hưởng của các rủi ro khác nhau trong những năm gần đây.