Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Bánh cáy là sản phẩm ẩm thực truyền thống mang tính đặc sản nổi tiếng của tỉnh Thái Bình, được sản xuất chủ yếu từ nguồn nông sản tại chỗ như gạo nếp cái hoa vàng, vừng, lạc, gừng và mỡ lợn. Tại xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng (thường gọi là làng Nguyễn), nghề làm bánh cáy có lịch sử lâu đời và đóng vai trò nòng cốt trong việc tạo việc làm, chuyển dịch sinh kế từ thuần nông sang tiểu thủ công nghiệp và tiêu thụ nông sản địa phương. Tính đến năm 2013, toàn xã có 350 hộ tham gia sản xuất, kinh doanh mặt hàng này. Bánh cáy được chính quyền địa phương xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, góp phần quan trọng vào việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới.
Tuy nhiên, thực tiễn sản xuất tại làng nghề Nguyên Xá còn bộc lộ nhiều điểm nghẽn. Phần lớn các cơ sở vẫn áp dụng phương thức thủ công truyền thống, mặt bằng sản xuất gắn liền với diện tích đất ở gia đình, năng suất lao động chưa cao, chi phí sản xuất còn lớn và năng lực cạnh tranh trên thị trường còn hạn chế. Người sản xuất chậm thích ứng với cơ chế thị trường, thiếu tư duy đầu tư đồng bộ. Đặc biệt, trong giai đoạn 2010–2011, một số thông tin phản ánh tiêu cực về chất lượng và tình trạng sản xuất chạy theo lợi nhuận đã ảnh hưởng tiêu cực đến uy tín sản phẩm, khiến thị trường tiêu thụ bị thu hẹp. Do đó, việc nghiên cứu, đánh giá thực trạng và hiệu quả kinh tế của làng nghề là yêu cầu cấp thiết về cả mặt khoa học kinh tế lẫn thực tiễn phát triển nông thôn.
Mục tiêu chung của khóa luận là đánh giá thực trạng sản xuất kinh doanh và hiệu quả kinh tế tại làng nghề bánh cáy xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình; trên cơ sở đó đề xuất hệ thống giải pháp nhằm phát triển bền vững làng nghề.
Các mục tiêu cụ thể được xác định gồm:
- Nghiên cứu điều kiện kinh tế - xã hội tại địa bàn xã Nguyên Xá.
- Tìm hiểu thực trạng quá trình sản xuất kinh doanh bánh cáy tại địa phương.
- Phân tích tiềm năng, hạn chế và những khó khăn của làng nghề.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển bền vững cho làng nghề.
Ba câu hỏi nghiên cứu trọng tâm được đặt ra:
- Hiệu quả kinh tế sản xuất bánh cáy tại xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình đạt mức độ nào?
- Những tiềm năng, hạn chế và khó khăn mà làng nghề đang phải đối mặt là gì?
- Cần thực hiện các giải pháp nào để thúc đẩy phát triển bền vững làng nghề bánh cáy?
Về phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Toàn bộ địa bàn xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình (nằm trên tuyến Quốc lộ 39A, cách thị trấn Đông Hưng 1 km).
- Phạm vi thời gian: Số liệu thứ cấp phản ánh giai đoạn 2011–2013; số liệu điều tra sơ cấp thu thập trong giai đoạn 2013–2014; thời gian thực tập khảo sát tại thực địa từ ngày 16/02/2014 đến ngày 30/04/2014.
- Đối tượng nghiên cứu: Các hộ gia đình và cơ sở chế biến, kinh doanh bánh cáy tại xã Nguyên Xá.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận vấn đề dựa trên các khung lý thuyết về phát triển và kinh tế làng nghề:
- Khái niệm phát triển kinh tế - xã hội của Raaman Weitz và Ngân hàng Thế giới (World Bank), nhìn nhận phát triển là quá trình nâng cao mức sống, đảm bảo phân phối công bằng và mở rộng quyền con người.
- Định nghĩa phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới (WCED, 1987): Đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai.
- Khái niệm làng nghề truyền thống theo quan điểm của GS. Trần Quốc Vượng và tác giả Bùi Văn Vượng, nhấn mạnh yếu tố chuyên môn hóa cao, kỹ thuật gia truyền tinh xảo, sản phẩm mang tính hàng hóa văn hóa gắn với thiết chế kinh tế - xã hội nông thôn.
- Tiêu chí định lượng làng nghề của Cục Chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn): Địa phương có từ 35–40% tổng số hộ trở lên tham gia ngành nghề phi nông nghiệp, thu nhập từ ngành nghề chiếm trên 50% tổng thu nhập của hộ và giá trị sản lượng ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương.
- Tổng kết kinh nghiệm thực tiễn: Khảo cứu mô hình "Mỗi làng một sản phẩm" (OVOP) tại Oita, Nhật Bản (1979); mô hình Xí nghiệp Hương Trấn tại Trung Quốc; kinh nghiệm hỗ trợ tiểu thủ công nghiệp tại Indonesia và phong trào OTOP tại Thái Lan; cùng các bài học phát triển cụm công nghiệp làng nghề tại Hà Tây (cũ), Bắc Ninh và Vĩnh Long.
Về phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp thu thập dữ liệu: Sử dụng kỹ thuật đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA), phỏng vấn linh hoạt bán cấu trúc theo nhóm câu hỏi 5W1H (Ai, Cái gì, Ở đâu, Khi nào, Tại sao, Như thế nào và Bao nhiêu), kết hợp phiếu điều tra in sẵn gửi trực tiếp đến chủ hộ.
- Phương pháp chọn mẫu khảo sát: Tổng quy mô mẫu điều tra là $n = 60$ hộ, được chọn ngẫu nhiên phân tầng từ tổng số 350 hộ sản xuất bánh cáy của xã, chia thành 3 nhóm quy mô:
- Hộ sản xuất lớn: 10 hộ (sản xuất từ 4.000 hộp/tháng trở lên, thuê thường xuyên 2 lao động ngoài).
- Hộ sản xuất trung bình: 25 hộ (sản xuất từ 2.000 đến dưới 4.000 hộp/tháng, thuê thời vụ 1 lao động).
- Hộ sản xuất nhỏ: 25 hộ (sản xuất dưới 2.000 hộp/tháng, không thuê lao động ngoài, sử dụng 100% lao động gia đình).
- Phương pháp phân tích thống kê kinh tế: Thống kê mô tả, phân tích cơ cấu, chỉ số phát triển và so sánh qua các năm 2011, 2012 và 2013.
- Phương pháp phân tích ma trận SWOT: Đánh giá điểm mạnh (S), điểm yếu (W) bên trong nội bộ làng nghề và nhận diện cơ hội (O), thách thức (T) từ môi trường kinh tế bên ngoài.
- Hệ thống chỉ tiêu kinh tế áp dụng:
- Giá trị sản xuất: $GO = \sum (Q_i \times P_i)$
- Chi phí trung gian: $IC = \sum C_i$
- Giá trị gia tăng: $VA = GO - IC$
- Lợi nhuận: $Pr = GO - TC$ ($TC$ là tổng chi phí)
- Thu nhập hỗn hợp: $MI = VA - (A + T + L)$ ($A$: khấu hao tài sản cố định; $T$: thuế, lệ phí; $L$: lãi tiền vay)
- Chỉ tiêu hiệu quả kinh tế: Tỷ số giá trị gia tăng trên chi phí trung gian ($VA/IC$) và tỷ số giá trị gia tăng trên giá trị sản xuất ($VA/GO$).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Tác giả hệ thống hóa các khái niệm lý luận về làng nghề, vai trò của sản phẩm bánh cáy trong việc gia tăng giá trị hàng hóa nông thôn, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa - hiện đại hóa, huy động vốn nhàn rỗi và giải quyết việc làm tại chỗ theo phương châm "rời ruộng mà không rời làng". Về mặt thực tiễn, chương này phân tích kinh nghiệm quốc tế (Nhật Bản, Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan) và kinh nghiệm các tỉnh trong nước (Hà Tây, Bắc Ninh, Vĩnh Long). Từ đó, tác giả đúc kết 8 bài học kinh nghiệm áp dụng cho làng nghề Nguyên Xá: giữ vững chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, xây dựng nhãn hiệu tập thể gắn với địa chỉ sản xuất từng hộ, mở rộng thị trường qua hội chợ và internet, thành lập hiệp hội nghề nghiệp, kết hợp công nghệ hiện đại với bí quyết cổ truyền, xây dựng cụm công nghiệp làng nghề và tăng cường vai trò điều hành của chính quyền cơ sở.
Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
Chương này xác định đối tượng nghiên cứu là các hộ sản xuất, cơ sở chế biến bánh cáy tại xã Nguyên Xá. Tác giả làm rõ nội dung nghiên cứu gắn liền với đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội địa bàn, thực trạng chuỗi sản xuất từ đầu vào đến đầu ra, và các yếu tố cản trở phát triển. Tác giả thiết lập quy trình điều tra 60 hộ theo mẫu phân tầng, trình bày chi tiết phương pháp PRA, phương pháp phân tích ma trận SWOT và công thức toán kinh tế tính toán các chỉ tiêu $GO, IC, VA, Pr, MI, VA/IC, VA/GO$.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
Chương 3 trình bày các dữ liệu thực địa thu thập tại xã Nguyên Xá giai đoạn 2011–2013:
- Điều kiện tự nhiên và hạ tầng: Xã có địa hình đồng bằng bằng phẳng, độ dốc < 1%, độ cao 1–2 m so với mực nước biển, khí hậu cận nhiệt đới ẩm, nhiệt độ trung bình 23,5°C, độ ẩm 85–90%, lượng mưa 1.200 mm/năm. Sông Thống Nhất chảy qua cung cấp 100% nhu cầu nước tưới tiêu. Hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh với 100% đường liên xã trải nhựa, ngõ xóm bê tông hóa, 100% hộ dùng điện lưới quốc gia. Dân số toàn xã năm 2013 có 1.968 hộ với 7.134 nhân khẩu; trong đó 1.360 hộ làm nghề (chiếm 70%) và 3.685 lao động làm nghề (chiếm 87% tổng lao động).
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn xã: Tổng giá trị sản xuất tăng trưởng liên tục từ 236 tỷ đồng (2011) lên 264 tỷ đồng (2012) và đạt 289,6 tỷ đồng (2013).
| Năm |
Tổng giá trị (tỷ đồng) |
Nông nghiệp (%) |
Công nghiệp - TTCN (%) |
Dịch vụ (%) |
| 2011 |
236,0 |
27,0 |
44,2 |
28,8 |
| 2012 |
264,0 |
19,5 |
45,2 |
35,3 |
| 2013 |
289,6 |
15,8 |
54,2 |
30,0 |
- Thực trạng quy mô sản xuất bánh cáy: Toàn xã duy trì ổn định 350 hộ làm bánh cáy qua các năm 2011, 2012 và 2013. Năm 2013 ghi nhận sự chuyển dịch quy mô nhỏ sang trung bình: hộ sản xuất lớn giữ nguyên 10 hộ (2,8%); hộ sản xuất trung bình tăng từ 165 hộ (47,2%) lên 170 hộ (48,6%); hộ sản xuất nhỏ giảm từ 175 hộ (50,0%) xuống 170 hộ (48,6%).
- Trang thiết bị và cơ sở vật chất: 100% trong số 350 hộ sản xuất kết hợp trực tiếp tại nhà ở (nhà kiên cố). Về cơ giới hóa, toàn làng nghề có 170 máy đảo và 170 máy gắn túi vào năm 2013 (tăng so với 150 máy đảo và 160 máy gắn túi giai đoạn 2011–2012). Các hộ nhỏ vẫn làm thủ công 100%. Máy đảo có nguyên giá 6,4 triệu đồng, thời gian sử dụng 10 năm, mức trích khấu hao bình quân 620 nghìn đồng/năm.
- Lao động và thu nhập: Tổng số lao động tham gia làm bánh cáy năm 2013 là 860 người (chiếm 20,4% tổng lao động toàn xã), gồm 700 lao động gia đình và 190 lao động thuê ngoài. Thu nhập bình quân chung đạt 2,6 triệu đồng/tháng/lao động. Có sự phân hóa rõ rệt về mức thu nhập theo loại hình sản xuất:
| Phân loại đối tượng lao động |
Thu nhập bình quân tháng (1.000 đồng) |
| Lao động tại hộ sản xuất lớn |
3.700 |
| Lao động làm thuê ngoài |
3.000 |
| Lao động tại hộ sản xuất trung bình |
2.250 |
| Lao động tại hộ sản xuất nhỏ |
1.600 |
| Bình quân chung toàn làng nghề |
2.600 |
- Trình độ học vấn chủ hộ ($n = 60$): 100% chủ hộ chưa qua đào tạo chuyên môn về quản lý hay pháp luật kinh doanh. Trong đó, 36 chủ hộ tốt nghiệp cấp III (chiếm 60%, bao gồm 100% chủ hộ lớn, 68% chủ hộ trung bình và 36% chủ hộ nhỏ); 24 chủ hộ tốt nghiệp cấp II (chiếm 40%, gồm 32% hộ trung bình và 64% hộ nhỏ); không có chủ hộ nào đạt trình độ trung cấp, cao đẳng hay đại học.
- Tình hình vay vốn: Đa số các hộ không tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng do tận dụng nguồn tiền đền bù giải phóng mặt bằng từ dự án mở rộng Quốc lộ 39A và nguồn vốn tích lũy tự có qua nhiều năm sản xuất.
- Sản lượng và thị trường đầu ra: Sản lượng toàn xã đạt 6.960 nghìn hộp (năm 2012) và tăng lên 7.068 nghìn hộp (năm 2013), tăng 108 nghìn hộp. Trong đó, 10 hộ lớn sản xuất ổn định 540 nghìn hộp/năm.
- Chi phí sản xuất: Định mức nguyên vật liệu sản xuất 1 mẻ bánh (tương đương 10 hộp tiêu chuẩn) được tổng hợp chi tiết trong văn bản:
| Tên nguyên liệu |
Số lượng |
Đơn vị tính |
Đơn giá (1.000 đồng) |
Thành tiền (1.000 đồng) |
| Mạch nha |
1,5 |
kg |
11,0 |
16,5 |
| Đường |
1,0 |
kg |
14,0 |
14,0 |
| Lạc nhân |
0,3 |
kg |
50,0 |
15,0 |
| Gừng tươi |
0,4 |
kg |
12,0 |
4,8 |
| Mỡ khổ ướp đường |
0,3 |
kg |
40,0 |
12,0 |
| Con bánh cáy (nếp xôi gấc, quả dành dành rán) |
1,5 |
kg |
34,0 |
51,0 |
| Hoa nẻ (nếp rang bung xay bột) |
1,0 |
kg |
34,0 |
34,0 |
| Chi phí khác (vừng, dầu chuối, vani, mứt dừa) |
- |
- |
- |
7,0 |
| Tổng chi phí nguyên liệu cho 1 mẻ (10 hộp) |
- |
- |
- |
154,3 |
Quy đổi chi phí sản xuất trực tiếp cho 1 hộp bánh hoàn chỉnh xuất bán:
- Chi phí nguyên liệu: 15,5 nghìn đồng.
- Vỏ hộp đóng gói: 1,2 nghìn đồng.
- Chi phí điện, than đốt: 1,0 nghìn đồng.
- Chi phí phụ trợ khác (băng dính, nhãn mác, nến hàn): 0,3 nghìn đồng.
- Tổng chi phí sản xuất 1 hộp thành phẩm: 18,0 nghìn đồng.
Nghề làm bánh cáy thúc đẩy 43 hộ trong xã tham gia cung ứng dịch vụ sơ chế nguyên liệu vệ tinh, bao gồm: 18 hộ bán đường, 17 hộ nghiền bột và cắt thái con bánh, 6 hộ cung cấp nha, 4 hộ làm hoa nẻ, 3 hộ chế biến mứt mỡ, 3 hộ xay xát rang lạc và 2 hộ xay gừng.
Chương 4: Giải pháp phát triển bền vững làng nghề sản xuất bánh cáy
Trên cơ sở thực trạng nghiên cứu, tác giả đề xuất hai nhóm giải pháp:
- Nhóm giải pháp chung: Tạo môi trường kinh doanh thông thoáng, hỗ trợ các cơ sở tiếp cận tín dụng thương mại ưu đãi, xây dựng các khóa bồi dưỡng ngắn hạn về kỹ năng quản trị kinh doanh cho chủ hộ và hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại nông nghiệp.
- Nhóm giải pháp riêng cho làng nghề Nguyên Xá:
- Khẩn trương đăng ký sở hữu trí tuệ, xây dựng nhãn hiệu tập thể "Bánh cáy Làng Nguyễn", gắn tem nhãn ghi rõ địa chỉ từng hộ sản xuất nhằm kiểm soát chất lượng và tạo dựng niềm tin cho người tiêu dùng.
- Thành lập Hiệp hội sản xuất bánh cáy Nguyên Xá để điều hòa giá cả, tránh tình trạng cạnh tranh hạ giá làm giảm phẩm cấp bánh, hỗ trợ kỹ thuật và liên kết tìm kiếm thị trường tiêu thụ ổn định.
- Hỗ trợ các hộ nhỏ và trung bình cơ giới hóa đồng bộ các khâu đảo bánh, ép khuôn và đóng gói túi kín bằng máy.
- Quy hoạch xây dựng cụm công nghiệp làng nghề tập trung ngoài khu dân cư nhằm mở rộng mặt bằng nhà xưởng, giải quyết triệt để nguy cơ ô nhiễm môi trường nước thải và khí thải từ than đốt.
- Mở rộng kênh phân phối trực tiếp vào các siêu thị, đại lý phân phối lớn tại các tỉnh, thành phố và các tuyến điểm du lịch văn hóa.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả cụ thể dựa trên số liệu khảo sát thực tế:
- Phản ánh vai trò kinh tế then chốt của làng nghề trong tiến trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại xã Nguyên Xá: tỷ trọng công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp tăng từ 44,2% (2011) lên 54,2% (2013), giảm tỷ trọng nông nghiệp xuống còn 15,8%.
- Thống kê toàn diện quy mô làng nghề năm 2013 với 350 hộ, tạo việc làm cho 860 lao động, sản lượng đạt trên 7 triệu hộp/năm.
- Xác định chính xác cấu trúc chi phí giá thành để hoàn thành 1 hộp bánh cáy thành phẩm xuất bán là 18.000 đồng, trong đó nguyên vật liệu chiếm tỷ trọng chi phối 86,1% (15.500 đồng).
- Chỉ ra mối liên kết sản xuất nội bộ thông qua mạng lưới 43 hộ chuyên môn hóa cung cấp dịch vụ sơ chế nguyên liệu phụ trợ cho các cơ sở làm bánh.
- Nhận diện những hạn chế nội tại nghiêm trọng: 100% chủ hộ thiếu đào tạo chuyên môn quản trị kinh doanh; 100% cơ sở dùng chung mặt bằng nhà ở; mức độ cơ giới hóa thấp khi toàn bộ 170 hộ nhỏ vẫn phải thao tác thủ công hoàn toàn.
Về mặt đóng góp:
- Về thực tiễn: Khóa luận cung cấp hệ thống số liệu cập nhật giai đoạn 2011–2013 về hiệu quả sản xuất kinh doanh bánh cáy tại xã Nguyên Xá; nhận diện rõ các điểm mạnh, điểm yếu và nguy cơ sau biến động thị trường năm 2010–2011.
- Về giải pháp: Đề xuất được hệ thống giải pháp phân tầng cụ thể (giải pháp chung cho phát triển làng nghề và giải pháp đặc thù cho bánh cáy Làng Nguyễn), giúp chính quyền địa phương có căn cứ thực tế để hoàn thành các tiêu chí thu nhập và chuyển dịch cơ cấu trong chương trình xây dựng nông thôn mới.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận có một số giới hạn xuất phát từ phạm vi nghiên cứu:
- Dữ liệu điều tra sơ cấp thực địa chỉ tập trung vào cỡ mẫu 60 hộ và được tiến hành trong khoảng thời gian thực tập ngắn hạn (từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2014), chưa phản ánh hết sự biến động thị trường theo chu kỳ cả năm (đặc biệt là mùa cao điểm Tết Nguyên đán).
- Các số liệu tính toán chi tiết về tỷ suất lợi nhuận trên chi phí trung gian ($VA/IC$) và giá trị sản xuất ($VA/GO$) theo từng nhóm hộ chưa được trình bày đầy đủ ở các bảng tổng hợp cuối trong văn bản.
- Hướng mở rộng nghiên cứu tiếp theo bao gồm: Đánh giá chi tiết chuỗi giá trị và biên lợi nhuận của bánh cáy qua các trung gian phân phối ngoài tỉnh; khảo sát mức độ chấp nhận chi trả của khách hàng đối với sản phẩm bánh cáy cải tiến bao bì; và nghiên cứu tính khả thi kinh tế - kỹ thuật của dự án di dời làng nghề vào cụm công nghiệp tập trung.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị ứng dụng và tham khảo đối với các đối tượng cụ thể:
- Sinh viên, học viên chuyên ngành Kinh tế Nông nghiệp, Phát triển Nông thôn và Quản lý Kinh tế có thể tham khảo phương pháp thiết kế mẫu phân tầng ($n = 60$) cho làng nghề truyền thống, cách thức áp dụng công cụ PRA và bộ chỉ tiêu hạch toán chi phí hộ ($GO, IC, VA, Pr, MI$).
- Cán bộ quản lý kinh tế cấp xã, huyện trong việc xây dựng đề án bảo tồn nghề truyền thống, chuyển dịch cơ cấu lao động và thực hiện các chỉ tiêu xây dựng nông thôn mới.
- Các hộ sản xuất và doanh nghiệp bánh kẹo truyền thống có thể tham khảo trực tiếp định mức nguyên vật liệu sản xuất 1 mẻ bánh (Bảng 3.10) và bảng bóc tách chi phí giá thành 18.000 đồng/hộp (Bảng 3.11) để tối ưu hóa chi phí đầu vào và quản lý khấu hao trang thiết bị.
Câu hỏi thường gặp
1. Làng nghề Nguyên Xá có bao nhiêu hộ làm bánh cáy vào năm 2013 và cơ cấu quy mô sản xuất phân bổ như thế nào?
Năm 2013, toàn xã Nguyên Xá có 350 hộ sản xuất kinh doanh bánh cáy, chia thành 3 nhóm: 10 hộ sản xuất lớn (chiếm 2,8%), 170 hộ sản xuất trung bình (chiếm 48,6%) và 170 hộ sản xuất nhỏ (chiếm 48,6%).
2. Tổng chi phí sản xuất để hoàn thành một hộp bánh cáy xuất bán ra thị trường năm 2013 là bao nhiêu?
Tổng chi phí sản xuất 1 hộp bánh hoàn chỉnh là 18.000 đồng, bao gồm: chi phí nguyên vật liệu trực tiếp 15.500 đồng; vỏ hộp bao bì 1.200 đồng; chi phí điện và than đốt 1.000 đồng; chi phí phụ trợ khác (băng dính, nhãn mác, nến hàn) 300 đồng.
3. Mức thu nhập bình quân của các đối tượng lao động tham gia làm bánh cáy tại làng nghề có sự chênh lệch ra sao?
Thu nhập bình quân chung của lao động làm bánh cáy là 2,6 triệu đồng/tháng. Trong đó, lao động tại hộ sản xuất lớn có thu nhập cao nhất đạt 3,7 triệu đồng/tháng; lao động làm thuê ngoài đạt 3,0 triệu đồng/tháng; lao động tại hộ trung bình đạt 2,25 triệu đồng/tháng; và thấp nhất là lao động tại hộ sản xuất nhỏ với 1,6 triệu đồng/tháng.
4. Khảo sát 60 chủ hộ sản xuất bánh cáy cho thấy đặc điểm gì về trình độ học vấn và năng lực quản lý?
100% chủ hộ được khảo sát chưa từng qua đào tạo chuyên môn về quản lý sản xuất hay kinh doanh. Về học vấn phổ thông, 60% chủ hộ (36 người) tốt nghiệp cấp III và 40% chủ hộ (24 người) tốt nghiệp cấp II; không có chủ hộ nào có trình độ trung cấp, cao đẳng hoặc đại học.
5. Vì sao phần lớn các hộ sản xuất bánh cáy tại xã Nguyên Xá không phát sinh nhu cầu vay vốn ngân hàng?
Do làng nghề nằm dọc trục Quốc lộ 39A vừa triển khai dự án mở rộng, các hộ dân đã sử dụng nguồn tiền đền bù đất đai để tái đầu tư nhà xưởng, mua sắm máy móc; đồng thời các hộ làm nghề lâu năm đã chủ động tích lũy được nguồn vốn tự có phục vụ sản xuất.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của sinh viên Nguyễn Trọng Duy đã phản ánh toàn diện thực trạng phát triển và hiệu quả kinh tế của làng nghề sản xuất bánh cáy tại xã Nguyên Xá, huyện Đông Hưng, tỉnh Thái Bình giai đoạn 2011–2013. Bằng việc bóc tách định mức chi phí giá thành 18.000 đồng/hộp trên quy mô 350 hộ, tác giả đã lượng hóa rõ vai trò hạt nhân của làng nghề đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế địa phương, đồng thời chỉ ra các hạn chế cố hữu về mặt bằng nhà ở, trình độ quản trị và kỹ thuật thủ công. Hệ thống giải pháp đề xuất tập trung vào cơ giới hóa sản xuất, xây dựng nhãn hiệu tập thể và quy hoạch cụm công nghiệp làng nghề là những gợi ý thiết thực nhằm định hướng cho sự phát triển bền vững của đặc sản bánh cáy Làng Nguyễn.