Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm về phát triển Ngày nay có nhiều quan niệm khác nhau về sự phát triển. Raaman Weitz cho rằng: “ Phát triển là một quá trình thay đổi liên tục làm tăng trưởng mức sống con người và phân phối công bằng những thành quả tăng trưởng trong xã hội.
[6] Ngân hàng thế giới đưa ra khái niệm có ý nghĩa rộng hơn bao gồm những thuộc tính quan trọng liên quan đến hệ thống giá trị của con người, đó là : “Sự bình đẳng hơn về cơ hội, sự tự do về chính trị và các quyền tự do công dân để củng cố niềm tin trong cuộc sống của con người trong các mối quan hệ với nhà nước, với cộng đồng. [6] Cho rằng: Phát triển là một quá trình tăng trưởng bao gồm nhiều yếu tố cấu thành khác nhau như kinh tế, chính trị, xã hội, kỹ thuật, văn hóa,vv. [6] Có khái niệm: Phát triển (developement) hay nói một cách đầy đủ hơn là phát triển kinh tế xã hội (socio-economic devenopement) của con người là một quá trình nâng cao về đời sống vật chất và tinh thần bằng phát triển sản xuất, tăng cường chất lượng các hoạt động văn hóa. Tuy có nhiều quan niệm về sự phát triển, nhưng tập trung lại các ý kiến đều cho rằng: Phạm trù của sự phát triển là phạm trù vật chất, phạm trù tinh thần, phạm trù về hệ thống giá trị con người.
Mục tiêu chung của phát triển là nâng cao các quyền lợi về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội và quyền tự do công dân của mọi người dân. [6] Khái niệm về phát triển bền vững đã được Ủy ban môi trường và phát triển thế giới đưa ra năm 1987 như sau: “Những thế hệ hiện tại cần đáp ứng nhu cầu của mình, sao cho không phương hại đến khả năng của các thế hệ tương lai đáp ứng nhu cầu của họ”.[6] n 5 Theo chúng tôi khái niệm về phát triển bền vững của Ủy ban Môi trường Thế giới là đẩy đủ, Với bất cứ một quá trình phát triển nào cũng phải đặc biệt chú ý đến tính bền vững, có như vậy thì phát triển mới lâu dài và ổn định. Khái niệm phát triển làng nghề * Khái niệm làng nghề. Cho đến nay có nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm làng nghề.
Theo giáo sư Trần Quốc Vượng thì: Làng nghề ( như làng gốm Bát Tràng, Thổ Hà, Phù Lãng, Hương Canh. làng giấy vùng Bưởi, Dương Ô. làng rèn sắt Canh Diễn, Phù Dực, Đa Hội. ) là làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhỏ song đã nổi trội một nghề cổ truyền, tinh xảo với một tầng lớp thủ công chuyên nghiệp hay bán, có phường, có ông trùm, ông phó cả.
cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm , có quy trình công nghệ nhất định sống chủ yếu bằng nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng đã có tính mỹ nghệ, trở thành sản phẩm hàng hóa và có thể quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng xung quanh và tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Những làng nghề ấy ít nhiều đã nổi danh từ lâu “dân biết mặt, nước biết tên, tên làng đã đi vào lịch sử, và ca dao tục ngữ” trở thành văn hóa dân gian. [6] Theo tác giả Bùi Văn Vượng thì “Làng nghề truyền thống là làng cổ truyền thủ công, ở đây không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời là người làm nghề nông nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng quê của mình.” [6] Làng nghề là những làng sống bằng hoặc chủ yếu bằng nghề thủ công ở nông thôn Việt Nam.
Với khái niệm làng nghề có thể bao gồm những nội dung sau: “Làng nghề là một thiết chế kinh tế – xã hội ở nông thôn được cấu thành bởi hai yếu tố làng và nghề, tồn tại trong một không gian địa lý nhất định, trong đó bao gồm nhiều hộ gia đình sinh sống bằng nghề thủ công là chính, giữa họ có mối liên kết kinh tế, xã hội văn hóa”. [6] n 6 Theo quy định tạm thời của Cục chế biến nông lâm sản và ngành nghề nông thôn (cơ quan trực thuộc Bộ nông nghiệp giao nhiệm vụ quản lý nhà nước về lĩnh vực này) thì: Làng nghề là làng (thôn ấp) ở nông thôn có ngành nghề phi nông nghiệp phát triển tớ mức trở thành nguồn sống chính hoặc nguồn thu nhập quan trong của người dân trong làng. Về mặt định lượng, làng nghề là làng có từ 35 – 40% số hộ trở lên có tham gia hoạt động ngành nghề có thể sống bằng chính nguồn thu nhập từ ngành nghề (nghĩa là thu nhập từ ngành nghề chiếm trên 50% thu nhập của các hộ) và giá trị sản lượng của ngành nghề chiếm trên 50% tổng giá trị sản lượng của địa phương. Vì vậy, khái niệm làng nghề cần được hiểu là những làng ở nông thôn có các ngành nghề phi nông nghiệp chiếm ưu thế với số hộ, số lao động và số thu nhập so với nghề nông.
Khái niệm bánh cáy - Bánh cáy không phải làm từ con cáy. Bánh cáy là 1 loại bánh được làm chủ yếu từ các nguyên liệu nông nghiệp như: nếp cái hoa vàng, vừng, lạc, mỡ, .vv Bánh cáy có quy trình làm đặng biệt cách pha chế các nguyên liệu với nhau để thành một món bánh. - Bánh cáy là sản phẩm có giá trị kinh tế cao, cùng với bước tiến của lịch sử nhân loại bước phát triển của khoa học kỹ thuật, vai trò và giá trị của bánh cáy ngày càng được khẳng định và nâng cao.2 vai trò sản phẩm bánh cáy 1. Tăng giá trị sản phẩm hàng hóa Sự xuất hiện của sản phẩm bánh cáy có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển kinh tế địa phương.
Với quy mô nhỏ bé, hàng năm làng nghề đã xuất ra một khối lượng sản phẩm hàng hóa khác lớn, đóng góp đáng kể cho nên kinh tế quốc dân nói chung và cho địa phương nói riêng. Sản phẩm của làng nghề là nhân tố quan trọng thúc đẩy phát triển sản xuất hàng hóa ở nông thôn. Tỷ trọng hàng hóa ở làng nghề cao hơn rất nhiều so với các làng thuần nông khác. Nếu đem so sánh những địa phương có nhiều làng nghề thì kinh tế hàng hóa ở nông thôn phát triển hơn so với các địa phương ít làng nghề.
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa Sự phát triển làng nghề bánh cáy đã góp phần làm cho tỷ trọng của ngành nông nghiệp ngày càng thu hẹp, tỷ trọng của ngành công nghiệp và dịch vụ ngày càng tăng lên. Đồng thời, nó còn đóng vai trò tích cực trong việc thay đổi tập quán từ sản xuất nhỏ. Độc canh mang tính tự túc tự cấp sang sản xuất hàng hóa, hoặc tiếp nhận công nghệ mới có liên quan đến nghề sẽ không mấy khó khăn so với nông dân các ngành thuần nông. Sự hình thành và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNVVN) trong làng nghề cũng thuận lợi hơn và gia tăng nhanh chóng hơn.
DNVVN trong làng nghề dễ dàng tiếp cận với kinh doanh lớn, công nghiệp lớn- hiện đại làng nghề sẽ là cầu nối giữa công nghiệp lớn hiện đại với nông nghiệp phi tập trung, làm tiền đề xây dựng công nghiệp lớn hiện đại, là bước trung gian chuyển tử nông thôn thuần nông, nhỏ lẻ, phân tán lên công nghiệp lớn – hiện đại và độ thị hóa. Sự chuyển dịch của làng nghề là một trong những hướng rất quan trọng để thực hiện việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở nông thôn mới theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Ở những địa phương có nhiều làng nghề và ở các làng nghề phát triển thường tỷ trọng GDP và lao động trong nông nghiệp, dịch vụ tăng lên nhanh chóng trong tổng GDP và lao động ở nông thôn. Thu nhập từ các hoạt động phi nông nghiệp ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng thu nhập từ các hoạt động kinh tế của nông dân.
Bình quân giá trị sản lượng công nghiệp nông thôn chiếm khoảng 60% - 80% tổng giá trị sản lượng công nghiệp của tỉnh. Thu hút vốn nhàn rỗi Tận dụng thời gian và lực lượng lao động nâng cao thu nhập thu hẹp khoảng cách đời sống nông thôn và thành thị, hạn chế di dân tự do. Khác với sản xuất công nghiệp với một số ngành khác, làng nghề truyền thống không đòi hỏi số vốn đầu tư quá lớn, bởi rất nhiều nghề chỉ cần công cụ dụng cụ, thô sơ mà những người thợ trong làng nghề đều có thể tự sản xuất hoặc chế tạo được. Hơn nữa, đặc điểm của sản xuất của làng nghề n 8 truyền thông là quy mô nhỏ, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động ít nên rất phù hợp với khả năng huy động vốn và các nguồn lực vật chất của các hộ gia đình.
Với mức đầu tư không lớn, trong điều kiện hiện nay thì đó là một lời thế để các làng nghề có thể huy động các loại vốn nhàn rỗi trong dân vào hoạt động sản xuất kinh doanh. Do đặc điểm sản xuất của làng nghề là sử dụng lao động thủ công là chủ yếu, nơi sản xuất cũng là nơi ở của người là động nên bản thân nó có khả năng tận dụng và thu hút nhiều loại lao động, từ lao động thời vụ nông nhàn đến lao động đổ tuổi hay dưới độ tuổi. Trẻ em tham gia sản xuất dưới hình thức học nghề hay giúp việc. Lực lượng này chiếm một tỷ lệ rất đáng kể trong số lao động làng nghề.
Việc làm đầy đủ, thu nhập đảm bảo, đời sống vật chất và tinh thần ngày càng nâng cao làm cho người lao động nói riêng, người dân nói chung ở làng nghề sẽ yên tâm bám chặt lấy nghề, lấy quê hương. Họ sẽ tích cực, hăng hái lao động, sản xuất, kinh doanh để làm giàu cho bản thân, gia đình mình và xây dựng quê hương, làng xã họ ngày một khang trang, giàu đẹp, văn minh. Họ sẽ không phải đi “tha hương cầu thực”, đi tìm việc làm ở những nơi thị thành hoặc địa phương khác. Điều đó sẽ hạn chế và đi đến chấm dứt tình trạng di dân tự do, một trong những vấn đề nan giải hiện nay ở nước ta.
Đồng thời nó cho phép thực hiện được phương châm “rời ruộng mà không rời làng” và thực hiện được quá trình đô thị hóa phi tập trung.