Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LÀNG NGHỀ THỦ CÔNG TRUYỀN THỐNG Tóm tắt kiến thức chương Chương này làm rõ một số khái niệm và các tiêu chí (trên cơ sở các văn bản của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền) về làng nghề thủ công truyền thống như: làng nghề, phố nghề, làng nghề thủ công, làng nghề thủ công truyền thống. Bên cạnh đó, chương học cũng đưa ra một số cách phân loại làng nghề tiêu biểu và phân tích một số đặc điểm của làng nghề thủ công truyền thống ở Việt Nam. Nội dung chính 1. MỘT SỐ KHÁI NIỆM Hiện ở Việt Nam có khoảng 4.500 làng nghề, trong đó có gần 400 làng nghề truyền thống1.
Các làng nghề đang thu hút khoảng 12 triệu lao động, ngoài ra còn tạo việc làm cho hàng triệu lao động nông thôn lúc nông nhàn. Sản phẩm do thợ thủ công các làng nghề góp phần đưa kim ngạch kim ngạch xuất khẩu lên tới hơn 1 tỷ USD/năm. Các sản phẩm thủ công truyền thống không chỉ gắn bó với đời sống, mà còn đáp ứng nhu cầu sinh hoạt văn hóa của con người. Nhiều làng nghề không chỉ tạo ra những hàng hoá cụ thể mà còn tạo ra những sản phẩm mang tính văn hoá dân gian độc đáo.
Để xác định một số khái niệm và tiêu chí về làng nghề thủ công truyền thống, giáo trình này căn cứ vào 2 văn bản: Thông tư "Hướng dẫn thực hiện một số nội dung của Nghị định số 66/2006/NĐ-CP ngày 07/7/2006 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn". Nghị định số 52/2018/NĐ-CP "Về phát triển ngành nghề nông thôn" của Thủ tướng Chính phủ2 1. Nghề thủ công truyền thống 1. Khái niệm Theo tác giả Bùi Văn Vượng, nghề thủ công truyền thống “là nghề sản xuất bằng tay và công cụ giản đơn, với con mắt và bộ óc giàu sáng tạo của 1http://vovworld.vn/vi-VN/sac-mau-cac-dan-toc-viet-nam/ nghe-thu-cong-truyen-thong-cua-nguoi-viet-155476.vov 2Chính phủ (2018), Nghị định về phát triển nghành nghề nông thôn, Hà Nội 4 nghệ nhân.
Công nghệ truyền thống bao gồm cả tay nghề của nghệ nhân và thợ kỹ thuật nói chung”1. Nghề thủ công truyền thống bao gồm những nghề tiểu thủ công nghiệp xuất hiện từ lâu trong lịch sử, được truyền từ đời này qua đời khác còn tồn tại đến ngày nay, tuy những nghề này đã được cải tiến hoặc sử dụng những loại máy móc hiện đại để hỗ trợ sản xuất nhưng vẫn tuân thủ công nghệ truyền thống, và đặc biệt sản phẩm của nó vẫn thể hiện những nét văn hóa đặc sắc của dân tộc. Tiêu chí công nhận là nghề thủ công truyền thống Theo Thông tư 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 và Nghị định số 52/2018/NĐ-CP "Về phát triển ngành nghề nông thôn" của Thủ tướng Chính phủvề công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống. Đối với nghề truyền thống, gồm 03 tiêu chí: - Nghề đã xuất hiện tại địa phương từ trên 50 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Nghề tạo ra những sản phẩm mang bản sắc văn hoá dân tộc; - Nghề gắn với tên tuổi của một hay nhiều nghệ nhân hoặc tên tuổi làng nghề.
Khái niệm Hiện nay, khái niệm “làng nghề” chưa được thống nhất ở Việt Nam.Trần Quốc Vượng, làng nghề là là một làng tuy vẫn còn trồng trọt theo lối tiểu nông và chăn nuôi nhưng cũng có một số nghề phụ khác như đan lát, gốm sứ, làm tương…song đã nổi lên một nghề cổ truyền tinh xảo với một tầng lớp thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên nghiệp, có phường (cơ cấu tổ chức), có ông trùm, ông cả…cùng một số thợ và phó nhỏ, đã chuyên tâm, có công trình công nghệ nhất định “sinh ư nghệ, tử ư nghệ”, “nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”, sống chủ yếu vào nghề đó và sản xuất ra những mặt hàng thủ công, những mặt hàng này có tính mỹ nghệ, đã trở thành sản phẩm hàng và có quan hệ tiếp thị với một thị trường là vùng rộng xung 1 Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, NXB Văn hóa – Thông tin, Hà Nội, tr.13 5 quanh và với thị trường đô thị, tiến tới mở rộng ra cả nước rồi có thể xuất khẩu ra nước ngoài” 1. Phạm Côn Sơn định nghĩa “làng nghề” như sau: “làng nghề là một đơn vị hành chính cổ xưa mà cũng có nghĩa là nơi quần cư đông người, sinh hoạt có tổ chức, kỉ cương tập quán riêng theo nghĩa rộng. Làng nghề không những là làng sống chuyên nghề mà cũng hàm ý là những người cùng nghề sống hợp quần để phát triển công ăn việc làm. Cơ sở vững chắc của các làng nghề là sự vừa làm ăn tập thể, vừa phát triển kinh tế, vừa giữ gìn bản sắc dân tộc và các cá biệt của địa phương 2.
Các khái niệm nói trên chủ yếu nói tới làng nghề truyền thống với quá trình hình thành và phát triển lâu đời trong lịch sử Việt Nam. Tuy nhiên, trong bối cảnh ngày nay, bên cạnh các làng nghề thủ công truyền thống còn có sự xuất hiện các làng nghề mới với những nghề mới đòi hỏi cần có một khái niệm bao quát hơn. Tựu trung lại, làng nghề là những làng có đội ngũ thợ thủ công chuyên nghiệp hay bán chuyên, có quy trình, bí quyết làm một hoặc nhiều nghề thủ công nhất định, mà những nghề thủ công đó chiếm ưu thế về số hộ, số lao động và thu nhập so với các nghề khác. Tiêu chí công nhận là làng nghề Theo Thông tư 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 về công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống.
Đối với làng nghề, gồm 03 tiêu chí: - Một là có tối thiểu 30% tổng số hộ trên địa bàn tham gia các hoạt động ngành nghề nông thôn; - Hai là hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định, tối thiểu 2 năm tính đến thời điểm đề nghị công nhận; - Ba là làng nghề phải chấp hành tốt chính sách pháp luật của Nhà nước. Sau đó, năm 2018, Thủ tướng Chính phủ ban hành Nghị định số 52/2018/NĐ-CP “Về phát triển ngành nghề nông thôn”đã sửa đổi một số chi tiết về tiêu chí xác định làng nghề như sau: 1 Trần Quốc Vượng, Đỗ Thị Hảo (2014), Nghề thủ công truyền thống Việt Nam và các tổ nghề, NXB Văn hóa Thông tin, Hà Nội, tr.32 2 Phạm Côn Sơn (2004), Làng nghề truyền thống Việt Nam, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.9 6 a) Có tối thiểu 20% tổng số hộ trên địa bàn tham gia một trong các hoạt động hoặc các hoạt động ngành nghề nông thôn quy định tại Điều 4 Nghị định này. b) Hoạt động sản xuất kinh doanh ổn định tối thiểu 02 năm liên tục tính đến thời điểm đề nghị công nhận. c) Đáp ứng các điều kiện bảo vệ môi trường làng nghề theo quy định của pháp luật hiện hành.
Làng nghề thủ công truyền thống 1. Khái niệm “Làng nghề thủ công truyền thống” cũng là khái niệm chưa được thống nhất ở Việt Nam. Trong mỗi lĩnh vực nghiên cứu và ngành nghề khác nhau mà khái niệm này được sử dụng khác nhau. Xét về mặt văn hóa, tác giả Bùi Văn Vượng cho rằng: “Làng nghềtruyền thống là làng cổ truyền làm nghề thủ công.
Ở đấy không nhất thiết tất cả dân làng đều sản xuất hàng thủ công. Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông (nông dân). Nhưng yêu cầu chuyên môn hoá đã tạo thành những thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại làng của mình.” 1 “Làng nghề truyền thống là làng nghề cổ truyền làm nghề thủ công. Ở đấy không nhất thiết tất cả các dân làng đều sản xuất hàng thủ công.
Người thợ thủ công nhiều trường hợp cũng đồng thời làm nghề nông. Nhưng yêu cầu chuyên môn hóa cao đã tạo ra những người thợ chuyên sản xuất hàng truyền thống ngay tại quê mình” 2 Theo Quyết định ban hành quy định (tạm thời) về tiêu chuẩn làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp của tỉnh Hải Dương năm 2003 cho rằng “Làng nghề thủ công truyền thống là làng nghề đã hình thành lâu đời, sản phẩm có tính cách riêng biệt mang tính đặc thù riêng của địa phương, được nhiều nơi biết đến, sản phẩm có giá trị kinh tế và văn hóa cao”3 Từ một số khái niệm trên, có thể thấy làng nghề thủ công truyền thống là làng nghề được tồn tại và phát triển lâu đời trong lịch sử, là nơi quy tụ các nghệ nhân và đội ngũ thợ lành nghề, vẫn giữ được bí quyết và kỹ thuật sản xuất cổ truyền của làng. Sản phẩm mang tính thẩm mỹ cao và chứa đựng những giá trị văn hóa của dân tộc. 1 Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề truyền thống Việt Nam, NXB Văn hóa Dân tộc, Hà Nội, tr.
2 Bùi Văn Vượng (2002), Làng nghề thủ công truyền thống Việt Nam, Nxb Văn hóa - Thông tin, Hà Nội 3 UBND tỉnh Hải Dương (2003), Quyết định ban hành quy định tạm thời về tiêu chuẩn làng nghề công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp tỉnh Hải Dương, QĐ số 3798/2003/QĐ-UB, tr. Tiêu chí công nhận là làng nghề thủ công truyền thống Theo Thông tư 116/2006/TT – BNN ngày 18 tháng 12 năm 2006 về hướng dẫn thực hiện một số nội dung tại Nghị định số 66/2006/NĐ – CP ngày 07 tháng 7 năm 2006 và Nghị định số 52/2018/NĐ-CP "Về phát triển ngành nghề nông thôn" của Thủ tướng Chính phủ về công nhận nghề truyền thống, làng nghề, làng nghề truyền thống, đối với làng nghề truyền thống, gồm 02 tiêu chí: - Một là: Làng nghề truyền thống phải đạt tiêu chí làng nghề và có ít nhất một nghề truyền thống theo quy định trên; - Hai là: Đối với những làng nghề chưa đạt chuẩn làng nghề truyền thống, nhưng có ít nhất một nghề truyền thống được công nhận thì cũng được công nhận là làng nghề truyền thống. Phố nghề Khái niệm “phố nghề” cũng là khái niệm chưa có sự thống nhất ở Việt Nam. Theo GS Trần Quốc Vượng, các phố nghề (thường có chữ đầu tiên là “hàng” (sản phẩm, thương phẩm) là sự chuyển đi một bộ phận các làng nghề ở vùng kẻ quê và kẻ chợ.
Ở đây có sự ganh đua, sự cạnh tranh để sinh tồn và phát triển…tạo nên một/nhiều yếu tố kích thích, để thợ thủ công cải tiến tay nghề, thay đổi/đổi mới mẫu mã, khôn khéo chào hàng (tiếp thị), mở rộng thị trường trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài.