Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở việt nam

Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể tại làng nghề Việt Nam.

Chuyên ngành

Tài chính - Ngân hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2022

241
16
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Hành vi tuân thủ thuế và các yếu tố ảnh hưởng

Hành vi tuân thủ thuế là một khái niệm trung tâm trong nghiên cứu này, được định nghĩa là sự tuân thủ các quy định pháp luật về thuế của các hộ kinh doanh cá thể. Nghiên cứu chỉ ra rằng hành vi tuân thủ thuế bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm chính sách thuế, quản lý thuế, và niềm tin vào cơ quan thuế. Các yếu tố này không chỉ tác động trực tiếp mà còn gián tiếp thông qua các biến trung gian như nhận thức về sự công bằngđạo đức kinh doanh.

1.1. Chính sách thuế và quản lý thuế

Chính sách thuếquản lý thuế là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Một hệ thống thuế minh bạch và công bằng sẽ thúc đẩy sự tuân thủ tự nguyện của các hộ kinh doanh cá thể. Ngược lại, sự phức tạp trong chính sách thuế và thiếu hiệu quả trong quản lý thuế có thể dẫn đến hành vi trốn thuế. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tăng cường quyền lực của cơ quan thuế và cải thiện hoạt động kiểm tra, thanh tra có thể giảm thiểu hành vi không tuân thủ.

1.2. Niềm tin vào cơ quan thuế

Niềm tin vào cơ quan thuế là yếu tố tâm lý quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Khi các hộ kinh doanh cá thể tin tưởng vào sự công bằng và minh bạch của cơ quan thuế, họ có xu hướng tuân thủ thuế một cách tự nguyện. Ngược lại, sự thiếu tin tưởng có thể dẫn đến hành vi trốn thuế hoặc tuân thủ bắt buộc. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cải thiện niềm tin vào cơ quan thuế có thể thông qua việc tăng cường tính công bằng trong hệ thống thuế.

II. Đặc điểm của hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề Việt Nam

Các hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề Việt Nam có những đặc điểm riêng biệt, bao gồm văn hóa kinh doanh, nghề truyền thống, và thu nhập hộ gia đình. Những yếu tố này không chỉ ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh mà còn tác động đến hành vi tuân thủ thuế. Nghiên cứu chỉ ra rằng các hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề thường có xu hướng tuân thủ thuế thấp hơn so với các doanh nghiệp lớn, do sự thiếu hiểu biết về pháp luật thuếchính sách thuế.

2.1. Văn hóa kinh doanh và nghề truyền thống

Văn hóa kinh doanhnghề truyền thống là hai yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề Việt Nam. Các hộ kinh doanh cá thể thường có xu hướng tuân thủ các chuẩn mực văn hóa và truyền thống hơn là các quy định pháp luật. Điều này dẫn đến sự thiếu tuân thủ thuế trong một số trường hợp. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giáo dục và nâng cao nhận thức về pháp luật thuế có thể cải thiện hành vi tuân thủ thuế.

2.2. Thu nhập hộ gia đình và kinh tế làng nghề

Thu nhập hộ gia đìnhkinh tế làng nghề là hai yếu tố kinh tế quan trọng ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế. Các hộ kinh doanh cá thể có thu nhập thấp thường có xu hướng trốn thuế hoặc tuân thủ thuế một cách bắt buộc. Ngược lại, các hộ có thu nhập cao hơn có xu hướng tuân thủ thuế tự nguyện hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc cải thiện thu nhập hộ gia đình và phát triển kinh tế làng nghề có thể thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế.

III. Thực trạng tuân thủ thuế và khuyến nghị chính sách

Nghiên cứu chỉ ra rằng thực trạng tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề Việt Nam còn nhiều hạn chế. Một số nguyên nhân chính bao gồm sự thiếu hiểu biết về pháp luật thuế, sự phức tạp của chính sách thuế, và thiếu niềm tin vào cơ quan thuế. Để cải thiện tình hình, nghiên cứu đề xuất một số khuyến nghị chính sách, bao gồm việc đơn giản hóa chính sách thuế, tăng cường giáo dục về pháp luật thuế, và cải thiện niềm tin vào cơ quan thuế.

3.1. Đơn giản hóa chính sách thuế

Việc đơn giản hóa chính sách thuế là một trong những khuyến nghị quan trọng nhằm thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh cá thể. Một chính sách thuế đơn giản và dễ hiểu sẽ giúp các hộ kinh doanh cá thể dễ dàng tuân thủ hơn. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc giảm bớt sự phức tạp trong chính sách thuế có thể giảm thiểu hành vi trốn thuế và tăng cường sự tuân thủ tự nguyện.

3.2. Tăng cường giáo dục về pháp luật thuế

Tăng cường giáo dục về pháp luật thuế là một khuyến nghị quan trọng khác nhằm cải thiện hành vi tuân thủ thuế. Việc nâng cao nhận thức về pháp luật thuế sẽ giúp các hộ kinh doanh cá thể hiểu rõ hơn về trách nhiệm và nghĩa vụ của mình. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng việc tổ chức các chương trình đào tạo và hướng dẫn về pháp luật thuế có thể thúc đẩy sự tuân thủ thuế một cách hiệu quả.

01/03/2025
Luận án tiến sĩ tài chính ngân hàng các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1. Mức độ quan tâm và các hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế Nghiên cứu về thuế có thể được tiếp cận từ các lĩnh vực đa ngành như luật, kinh tế, kế toán, tâm lý học và tài chính công (McKerchar, 2010). Trong đó, nghiên cứu của Groves (1958) về trốn thuế thu nhập là một trong những nghiên cứu được ghi nhận sớm nhất trong nghiên cứu về hành vi của người nộp thuế. Groves (1958) tiếp cận gián tiếp để đánh giá hành vi trốn thuế bằng cách phỏng vấn những người thuê nhà về thu nhập và chi phí mà chủ nhà của họ phải chịu trong quá trình quản lý căn hộ của họ.

Sau đó, ông có thể kiểm tra các tờ khai thuế của chủ nhà để xác định mức độ tuân thủ thuế của chủ nhà. Từ đó đến hiện nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ của người nộp thuế đã thực hiện trên thế giới với mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu khác nhau (Xem bảng 2 – Phụ lục 01). Ở Việt Nam, chủ đề nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng được nhiều nhà khoa học ở Việt Nam thực hiện trong các công trình nghiên cứu của mình: Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009) thực hiện luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài về “Hoàn thiện quản lý thu thuế của Nhà nước nhằm tăng cường sự tuân thủ thuế của doanh nghiệp (nghiên cứu tình huống của Hà Nội)”; Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012) với nghiên cứu “Các nhân tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của doanh nghiệp tư nhân - Xét trên khía cạnh nộp thuế đúng hạn”; Nguyễn Hoàng và Đào Thị Phương Liên (2013) với nghiên cứu về “Ảnh hưởng của chính sách thuế đến tuân thủ thuế: Kết quả khảo sát và một số kiến nghị”; Đặng Thị Bạch Vân (2014) với chủ đề nghiên cứu “Xoay quanh vấn đề người nộp thuế và tuân thủ thuế”; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của các doanh nghiệp”; Lèng Hoàng Minh (2017) với luận án tiến sĩ về “Nâng cao tính tuân thủ thuế của người nộp thuế ở Việt Nam; Bùi Ngọc Toản (2017) với nghiên cứu “Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế thu nhập của doanh nghiệp - Nghiên cứu thực nghiệm trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh”; Phạm Thị Mỹ Linh (2019) với luận án tiến sĩ nghiên cứu về “Các nhân tố ảnh hưởng đến tuân thủ thuế của doanh nghiệp Việt Nam: Nghiên cứu trường hợp thành phố Hà Nội”; Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) trong nghiên cứu về “Determinants Influencing Tax Compliance: The Case of Vietnam;. Bên cạnh đó, hiểu một cách giản đơn thì tuân thủ thuế là mức độ sẵn sàng đóng thuế của người nộp thuế; không tuân thủ thuế có thể hiểu là khi người nộp thuế không nộp thuế của mình (Kirchler, 2007).

Theo Kirchler và Wahl (2010), tuân thủ và không 10 tuân thủ có thể được phân biệt: (i) tuân thủ thuế gồm tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc; (ii) không tuân thủ thuế bao gồm trốn thuế và tránh thuế (Xem bảng 2. Trong đó, tuân thủ tự nguyện bao gồm động cơ cơ bản, cụ thể là trên đó coi việc nộp thuế là nghĩa vụ của một công dân, trong khi việc tuân thủ bắt buộc liên quan đến nỗi sợ bị phát hiện và bị trừng phạt. Tránh thuế có thể được mô tả là việc giảm thiểu thuế trong ranh giới pháp lý, và trốn thuế bao gồm cả việc vi phạm pháp luật (Cechovsky, 2018). Dựa trên góc độ tiếp cận này, kết quả tổng quan các công trình nghiên cứu mà tác giả có thể tiếp cận được từ năm 1992 đến năm 2021, chỉ ra hướng nghiên cứu về tuân thủ thuế được thực hiện nhiều hơn so với hướng nghiên cứu về không tuân thủ thuế (Khi có đến 48/63 công trình mà tác giả có thể thu thập nghiên cứu về tuân thủ thuế - Xem bảng 1 của Phụ lục 01), nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc được thực hiện nhiều từ năm 2012-2021; và các công trình nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế được thực hiện ở nhiều quốc gia, cả ở các nước phát triển và các nước đang phát triển (Mỹ, Áo, Hàn Quốc, Trung Quốc, Ý, Malaysia, Indonesia, Jordan, Ghana, Campuchia, Việt Nam.) Với các công trình nghiên cứu về tuân thủ thuế, hướng nghiên cứu của các tác giả cũng rất đa dạng và có sự kế thừa, nghiên cứu bổ sung các khía cạnh liên quan đến tuân thủ thuế.

Trong đó, hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến ý định, hành vi tuân thủ thuế được nhiều nghiên cứu thực hiện (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) và cũng có những nghiên cứu hướng đến làm rõ về hành vi tuân thủ thuế (Arcos Holzinger và cộng sự, 2016; Alm và cộng sự, 2016), xây dựng thang đo đo lường về hành vi tuân thủ thuế (Kirchler and Wahl, 2010) hay như đánh giá, so sánh về tuân thủ thuế ở nhiều hoặc giữa các quốc gia (Mas’ud và cộng sự, 2019; Alm và cộng sự, 2016; Mas’ud và cộng sự, 2014; Natrah Saad, 2012; Alan Lewis và cộng sự, 2009). Về sắc thuế, thì hướng nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế theo sắc thuế cũng khá đa dạng như thuế thu nhập doanh nghiệp (Bùi Ngọc Toản, 2017; Gobena và cộng sự, 2016), thuế giá trị gia tăng (Azmi và cộng sự, 2016; Harju và cộng sự, 2019; Xin He và Huina Xiao, 2019; Fjeldstad và cộng sự, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020) hay thuế thu nhập (Khasawneh và cộng sự, 2008) (Xem bảng 1 – Phụ lục 01) Về đối tượng nộp thuế: bên cạnh đối tượng nghiên cứu là cá nhân, người nộp thuế (Alm và cộng sự ,2010; Benk và cộng sự, 2010; Lèng Hoàng Minh, 2017; Da Silva và cộng sự, 2019, Robbins và Kiser, 2020,.) thì các nghiên cứu về tuân thủ thuế cũng đa dạng về đối tượng nghiên cứu như các doanh nghiệp lớn (Siglé và cộng sự, 2018) cũng như các doanh nghiệp nói chung (Nguyễn Thị Lệ Thúy, 2009; Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu, 2015; Bùi Ngọc Toản, 2017; Phạm Thị Mỹ Linh, 2019; 11 Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự, 2019), hay như doanh nghiệp vừa và nhỏ (Malik và Younus, 2020; Alshira’h và cộng sự, 2020), doanh nghiệp siêu nhỏ (Abba Ya’u, Natrah Saad, 2019) doanh nghiệp khởi nghiệp (Nagel và cộng sự, 2018), doanh nghiệp tư nhân (Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân, 2012), cá nhân tự kinh doanh (Eichfelder và Kegels, 2014; Olsen và cộng sự, 2018; Choo và cộng sự, 2016) hay như đại lý thuế (Abdul Hamid, 2014), chuyên gia tư vấn thuế (Darmayasa và Aneswari, 2015), nhân viên thuế (Fagbemi và cộng sự, 2010). Tuy nhiên, từ với đối tượng hộ KD cá thể (làm nghề và kinh doanh nghề nghề tại các làng nghề) thì chưa được nghiên cứu nào thực hiện và đây là một khoảng trống trong nghiên cứu về tuân thủ thuế. Trong khi đó, Ở Việt Nam với đối tượng nghiên cứu là hộ kinh doanh cá thể thì hướng nghiên cứu về các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể nói chung và hộ KD cá thể trong các làng nghề chưa từng được nghiên cứu trước và là khoảng trống trong nghiên cứu về hành vi tuân thủ thuế.

Bởi vì hầu hết các nghiên cứu ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào khía cạnh quản lý thuế. Như tác giả Lê Kim Ngọc (2016) với đề tài “Hoàn thiện quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai, thành phố Hà Nội”. Tác giả đã phân tích được thực trạng và chỉ ra những ưu, nhược điểm trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể trên địa bàn quận Hoàng Mai. Luận văn cũng nhấn mạnh những nguyên nhân chính dẫn đến một số bất cập trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể.

Từ đó tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đó là: Nâng cao hiệu lực bộ máy quản lý thuế bằng cách nâng cao chất lượng công tác xây dựng kế hoạch dự toán thu Ngân sách hàng năm, khai thác triệt để nguồn thu, chống thất thu; Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thông qua việc đào tạo, bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn, thực hiện sắp xếp lại nhiệm vụ giữa các đội trong công tác xác định doanh thu, mức thuế của hộ kinh doanh; Tăng cường công tác tuyên truyền, hỗ trợ người nộp thuế; Nguyễn Thị Biên (2017) với đề tài “Tăng cường quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán trên địa bàn huyện Thanh trì, thành phố Hà Nội”. Luận văn đã trình bày khá đầy đủ và chi tiết cơ sở lý luận về quản lý thuế đối với hộ kinh doanh nộp thuế theo phương pháp khoán, bao gồm: Khái niệm, phân loại, vai trò của thuế; Khái niệm đặc điểm và vai trò của hộ kinh doanh cá thể; Quan niệm, đặc điểm, nội dung và các nhân tố ảnh hưởng đến quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể. Dựa trên dữ liệu thu thập được, tác giả đã có nhưng đánh giá về thực trạng công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể nộp thuế theo phương pháp khoán tại địa phương. Từ đó, những nhóm giải pháp được đưa ra là: Đổi mới mục tiêu, hoàn thiện tổ chức bộ máy trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Hoàn thiện các công cụ và ứng dụng các 12 phương pháp hiện đại trong quản lý thuế đối với hộ kinh doanh cá thể; Tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra việc thu thuế và ý thức chấp hành nghĩa vụ nộp thuế của hộ kinh doanh cá thể; Nguyễn Thị Thủy (2017) với bài báo “Thực trạng quản lý thuế đối với hộ kinh doanh”.

Bài báo đã chỉ ra được những hạn chế trong công tác quản lý thuế đối với hộ kinh doanh như: Tình trạng trốn thuế, gian lận thuế và nợ đọng thuế gây thất thu NSNN vẫn diễn ra thường xuyên, chưa khuyến khích được ý thức tuân thủ pháp luật thuế của người nộp thuế; Hạn chế từ công tác xác định mục tiêu, đối tượng quản lý thuế và công tác tổ chức bộ máy thu thuế cho đến việc thực hiện các quy trình kiểm tra, thanh tra quản lý thuế của cơ quan thuế.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề Việt Nam" tập trung phân tích những yếu tố chính tác động đến việc tuân thủ thuế của các hộ kinh doanh cá thể trong làng nghề, bao gồm nhận thức về pháp luật, áp lực xã hội, và hiệu quả quản lý thuế. Nghiên cứu này không chỉ cung cấp cái nhìn sâu sắc về thực trạng tuân thủ thuế mà còn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao ý thức và hiệu quả quản lý thuế trong bối cảnh làng nghề truyền thống. Đây là nguồn tài liệu hữu ích cho các nhà quản lý, nhà nghiên cứu và doanh nghiệp muốn hiểu rõ hơn về cơ chế vận hành kinh tế tại các làng nghề.

Để mở rộng kiến thức về các làng nghề truyền thống, bạn có thể tham khảo thêm Luận án tiến sĩ chính sách phát triển bền vững làng nghề truyền thống từ thực tiễn vùng đồng bằng sông hồng, nghiên cứu về các chính sách phát triển bền vững cho làng nghề. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ thực trạng sản xuất kinh doanh của làng nghề truyền thống gốm sứ bát tràng tầm nhìn đến năm 2020 cung cấp cái nhìn chi tiết về hoạt động kinh tế của một làng nghề nổi tiếng. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ đánh giá hiệu quả kinh tế sản xuất bánh cáy tại làng nghề nguyên xá đông hưng thái bình sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về hiệu quả kinh tế của các sản phẩm làng nghề.