Tổng quan luận án
Luận án tiến sĩ chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng (mã số: 9340201) của tác giả Nguyễn Quỳnh Trang, được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS. Đàm Văn Huệ tại Trường Đại học Kinh tế Quốc dân (năm 2022), tập trung nghiên cứu đề tài: "Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam".
Về tính cấp thiết, thuế đóng vai trò quan trọng trong việc tạo nguồn thu ngân sách nhà nước và phát triển kinh tế - xã hội (Bautigam và cộng sự, 2008). Tại Việt Nam, khu vực hộ kinh doanh cá thể (HKD) đóng góp bình quân 30% GDP trong giai đoạn 2015–2019 nhưng chỉ đóng góp khoảng 1,6% vào tổng thu ngân sách nhà nước. Theo Tổng điều tra kinh tế năm 2021, cả nước có khoảng 5,2 triệu cơ sở sản xuất kinh doanh cá thể với 8,5 triệu lao động (tăng 5,7% về số đơn vị và 3,0% về lao động so với năm 2016). Tuy nhiên, cơ quan thuế mới chỉ quản lý khoảng 1,5 triệu cơ sở có đăng ký thuế, cùng khoảng 711.000 hộ có doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thuộc diện không phải nộp thuế. Thực trạng này cho thấy một lượng lớn hộ kinh doanh đang nằm ngoài sự quản lý thu thuế ("lọt sổ thuế"), công tác quản lý thuế đối với khu vực này còn phức tạp và tiềm ẩn thất thu lớn. Hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề vừa giữ vai trò kinh tế, vừa bảo tồn văn hóa truyền thống, nhưng các quyết định tuân thủ thuế của nhóm đối tượng này chịu tác động bởi nhiều yếu tố tâm lý xã hội và đặc thù làng xã chưa được làm rõ.
Về khoảng trống nghiên cứu, tác giả chỉ ra rằng các công trình trước đây chủ yếu tập trung vào doanh nghiệp hoặc cá nhân nói chung, chưa có nghiên cứu chuyên sâu về các yếu tố tác động đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể làm nghề và kinh doanh nghề trong các làng nghề ở Việt Nam. Đồng thời, chiều hướng và mức độ tác động của các nhân tố tâm lý xã hội, thể chế và kinh tế đối với hai trạng thái tuân thủ thuế tự nguyện và tuân thủ thuế bắt buộc vẫn chưa đạt được sự đồng thuận trong y văn học thuật.
Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của luận án là xác định và đo lường mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến hành vi tuân thủ thuế (tự nguyện và bắt buộc) của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam, từ đó đề xuất các khuyến nghị thúc đẩy tính tuân thủ thuế. Để đạt được mục tiêu này, luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan các công trình nghiên cứu và hệ thống hóa cơ sở lý luận về tuân thủ thuế nhằm xác định khoảng trống nghiên cứu, đề xuất mô hình và thang đo.
- Đánh giá thực trạng tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam.
- Thiết kế phương pháp nghiên cứu, tiến hành phỏng vấn chuyên gia và khảo sát thực tế các hộ kinh doanh cá thể tại khu vực Đồng bằng sông Hồng; sử dụng phần mềm SPSS và AMOS để phân tích mô hình hồi quy đa biến, CFA và SEM.
- Thảo luận kết quả nghiên cứu, xác định các đóng góp mới về lý luận và thực tiễn, đề xuất các khuyến nghị quản lý thuế.
Luận án hướng đến giải quyết 12 câu hỏi nghiên cứu cụ thể:
- Tinh thần thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Ảnh hưởng của chuẩn mực chủ quan (gia đình, dòng họ, phường, hội) đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam như thế nào?
- Niềm tin vào cơ quan thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Gia tăng tính công bằng của hệ thống thuế có dẫn đến cải thiện niềm tin vào cơ quan thuế và qua đó thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế (tự nguyện) ở hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam hay không?
- Nhận thức về thuế của người nộp thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Thông tin về thuế đến với hộ kinh doanh cá thể ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Mức độ phức tạp về thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Khả năng bị kiểm tra, thanh tra thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Xử phạt ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Nhận thức về quyền lực của cơ quan thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
- Các biện pháp tăng cường quyền lực của cơ quan thuế và tăng cường hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế ảnh hưởng như thế nào đến hành vi tuân thủ thuế (bắt buộc) ở hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam?
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi tuân thủ thuế (tự nguyện và bắt buộc) của hộ kinh doanh cá thể làm nghề và kinh doanh nghề trong làng nghề.
- Phạm vi không gian: 11 tỉnh và thành phố thuộc vùng Đồng bằng sông Hồng (Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Hà Nam, Hưng Yên, Hải Dương, Hải Phòng, Thái Bình, Nam Định, Ninh Bình, Quảng Ninh), nơi tập trung mật độ làng nghề truyền thống cao nhất cả nước.
- Phạm vi thời gian: Thu thập và tổng quan tài liệu từ 10/2018 đến 12/2019; tiến hành phỏng vấn và khảo sát thực địa từ 01/2020 đến 12/2020; dữ liệu thứ cấp và số liệu báo cáo ngành thuế giai đoạn 2016–2020 và 2019–2021.
- Phạm vi nội dung: Tập trung vào nhận thức và cảm nhận của người nộp thuế đối với các nhóm yếu tố tâm lý xã hội, thể chế, kinh tế, kết hợp các biến kiểm soát nhân khẩu học tác động đến hai chiều kích tuân thủ tự nguyện và tuân thủ bắt buộc.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án tiến hành tổng quan 63 công trình nghiên cứu trong và ngoài nước (giai đoạn 1992–2021), trong đó có 48 công trình tập trung trực tiếp vào hành vi tuân thủ thuế. Các hướng tiếp cận nghiên cứu chính được điểm lại bao gồm:
- Hướng tiếp cận răn đe kinh tế: Khởi xướng từ mô hình của Allingham và Sandmo (1972), sau đó được mở rộng bởi Alm (1991), Clotfelter (1983), Eriksen và Fallan (1996), Evans và cộng sự (2005). Các nghiên cứu này nhìn nhận người nộp thuế tối đa hóa lợi ích trong điều kiện rủi ro, quyết định tuân thủ phụ thuộc vào xác suất thanh tra kiểm tra và mức phạt. Tuy nhiên, các tác giả như Slemrod và cộng sự (2001), Bergman và Nevarez (2006), Muthukrishna và cộng sự (2017) chỉ ra rằng việc thuần túy răn đe kinh tế có thể làm tăng chi phí quản lý, tạo cơ hội nhũng nhiễu và không giải thích được mức độ tuân thủ tự nguyện thực tế.
- Hướng tiếp cận tâm lý học hành vi và xã hội: Nhấn mạnh các biến số phi kinh tế (Kirchler, 2007; Kirchler và cộng sự, 2008; Muehlbacher và cộng sự, 2011). Hướng nghiên cứu này tập trung vào niềm tin vào cơ quan thuế (Feld và Frey, 2002; Kastlunger và cộng sự, 2013; Da Silva và cộng sự, 2019), tính công bằng của hệ thống thuế (Saad, 2011; Manchilot Tilahun, 2018), tinh thần thuế (Devos, 2013; Richardson, 2006; Alabede và cộng sự, 2011b) và chuẩn mực chủ quan (Bobek và Hatfield, 2003; Benk và cộng sự, 2010; Malik và Younus, 2020).
- Các nghiên cứu tại Việt Nam: Các công trình của Nguyễn Thị Lệ Thúy (2009), Nguyễn Minh Hà và Nguyễn Hoàng Quân (2012), Phan Thị Mỹ Dung và Lê Quốc Hiếu (2015), Lèng Hoàng Minh (2017), Bùi Ngọc Toản (2017), Phạm Thị Mỹ Linh (2019), Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) nghiên cứu về tuân thủ thuế của doanh nghiệp hoặc cá nhân nói chung. Các đề tài quản lý thuế hộ kinh doanh cá thể của Lê Kim Ngọc (2016), Nguyễn Thị Biên (2017), Nguyễn Thị Thủy (2017), Nguyễn Hải Nam (2020) chủ yếu tiếp cận dưới góc độ nghiệp vụ hành chính quản lý thu, chưa phân tích định lượng mô hình hành vi tuân thủ thuế của chủ hộ kinh doanh cá thể làng nghề.
Từ kết quả tổng quan 47 công trình giai đoạn 2012–2021, tác giả xác lập bảng tổng hợp 15 yếu tố chính có kết quả nghiên cứu thực nghiệm chưa đồng thuận trên thế giới:
| STT |
Yếu tố |
Tác động thuận chiều (+) hoặc nghịch chiều (-) |
Chưa có cơ sở khẳng định mối quan hệ |
| 1 |
Tinh thần thuế |
Alm và McClellan (2012); Guerra và cộng sự (2018); Taing và Chang (2020); Hassan và cộng sự (2021) |
Kleven và cộng sự (2011); Kleven (2014); Andrighetto và cộng sự (2016); Fjeldstad và cộng sự (2020) |
| 2 |
Chuẩn mực chủ quan |
Bobek và Hatfield (2003); Benk và cộng sự (2010); Natrah Saad (2012); Malik và Younus (2020) |
Abdul Hamid (2014); Adellia và cộng sự (2020) |
| 3 |
Nhận thức tính công bằng |
Spicer và Becker (1980); Lisi (2014); Gobena và cộng sự (2016); Abba Ya’u và Natrah Saad (2019) |
Benk và cộng sự (2011); Deyganto (2018); Fjeldstad và cộng sự (2020) |
| 4 |
Quyền lực của cơ quan thuế |
Wahl và cộng sự (2010); Kastlunger và cộng sự (2013); Siglé và cộng sự (2018); Da Silva và cộng sự (2019) |
Yasa và Martadinata (2018); Mas’ud và cộng sự (2019); Taing và Chang (2020) |
| 5 |
Niềm tin vào cơ quan thuế |
Torgler (2003); Jimenez và Iyer (2016); Olsen và cộng sự (2018); Malik và Younus (2020) |
Lidija Hauptman và cộng sự (2015); Taing và Chang (2020) |
| 6 |
Nhận thức về thuế |
Palil và cộng sự (2013); Andreas và Savitri (2015); Savitri và Musfialdy (2016) |
Nugroho và cộng sự (2016); Taing và Chang (2020) |
| 7 |
Sự phức tạp về thuế |
Richardson (2006); Chau và Leung (2009); Alm (2014); Taing và Chang (2020) |
James và Edwards (2008) |
| 8 |
Thông tin về thuế |
Devos và Zackrisson (2015) |
Fadjar (2012); Taing và Chang (2020) |
| 9 |
Xử phạt |
Allingham và Sandmo (1972); Alm và cộng sự (1992); Lederman (2003); Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) |
Fjeldstad và cộng sự (2020); Mohdali và cộng sự (2014) |
| 10 |
Khả năng kiểm tra, thanh tra |
Allingham và Sandmo (1972); Niu (2011); Alm và cộng sự (2016); Nguyễn Thị Thùy Dương và cộng sự (2019) |
Murray (1995); Anderson và Bodvarsson (2005) |
| 11 |
Tuổi |
Dubin và Wilde (1988); Feinstein (1991); Matthias Kasper và cộng sự (2014); Deyganto (2018) |
Kogler và cộng sự (2016); Hofmann và cộng sự (2017); Güzel và Aktaş (2018) |
| 12 |
Giới tính |
McGee và Benk (2011); Fadi Alasfour và cộng sự (2016); Deyganto (2018) |
McGee và An (2006); McGee và Rossi (2006); Güzel và Aktaş (2018) |
| 13 |
Trình độ học vấn |
Alasfour và cộng sự (2016); Jackson và Milliron (1986); Roth và cộng sự (1989) |
Deyganto (2018); Güzel và Aktaş (2018) |
| 14 |
Thu nhập |
Allingham và Sandmo (1972); Abdul (2001); Fadi Alasfour và cộng sự (2016) |
Park và Hyun (2003); Deyganto (2018) |
| 15 |
Số năm hoạt động kinh doanh |
Sapiei và cộng sự (2014) |
Carsamer (2020) |
Vị trí của luận án được xác định thông qua việc giải quyết 4 khoảng trống nghiên cứu trọng tâm:
- Thiếu nghiên cứu thực nghiệm đối với nhóm đối tượng hộ kinh doanh cá thể tại các làng nghề truyền thống ở Việt Nam.
- Kiểm định và làm rõ các tác động đa chiều, mâu thuẫn của 15 yếu tố kinh tế và phi kinh tế đối với hai chiều kích tuân thủ thuế tự nguyện và bắt buộc.
- Giải quyết tranh luận học thuật về cơ chế tác động giữa tính công bằng, niềm tin vào cơ quan thuế và hành vi tuân thủ thuế (kiểm định vai trò biến trung gian của niềm tin).
- Làm rõ vai trò điều kiện của nhận thức quyền lực cơ quan thuế đối với hiệu quả răn đe của hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và khái niệm nền tảng
Luận án kế thừa và phát triển khung phân tích dựa trên các lý thuyết cốt lõi:
- Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB - Theory of Planned Behavior của Ajzen, 1991): Giải thích ý định và hành vi thông qua thái độ, chuẩn mực chủ quan và nhận thức kiểm soát hành vi; được luận án mở rộng thêm các yếu tố thể chế và kinh tế.
- Mô hình Khung sườn dốc trơn trượt (Slippery Slope Framework - SSF của Kirchler và cộng sự, 2008; Wahl và cộng sự, 2010): Mô hình hóa sự tương tác trong không gian ba chiều giữa Quyền lực của cơ quan thuế, Niềm tin vào cơ quan thuế và Hành vi tuân thủ thuế (phân tách thành tuân thủ tự nguyện do niềm tin dẫn dắt và tuân thủ bắt buộc do quyền lực cưỡng chế).
- Lý thuyết Răn đe kinh tế (Allingham và Sandmo, 1972): Phân tích tác động của xác suất thanh tra, kiểm tra và mức độ xử phạt.
- Lý thuyết Tâm lý học tài chính (Fiscal Psychology Theory - Feld và Frey, 2002; Torgler và cộng sự, 2008): Tiếp cận mối quan hệ giữa người nộp thuế và cơ quan thuế như một hợp đồng tâm lý tương hỗ công bằng.
- Lý thuyết Công bằng (Equity Theory): Phân tích nhận thức công bằng ngang (đối xử như nhau giữa các cá nhân cùng điều kiện) và công bằng dọc (người có khả năng nộp thuế cao hơn phải đóng góp nhiều hơn).
- Mô hình tuân thủ thuế của Fischer (Chan và cộng sự, 2000; Chau và Leung, 2009): Tích hợp nhân khẩu học, cấu trúc thuế và thái độ hành vi.
Khái niệm và phân loại tuân thủ thuế: Kế thừa quan điểm của Kirchler và Wahl (2010), Plumly (1996) và OECD (2001, 2004, 2016), tuân thủ thuế bao gồm tuân thủ nộp hồ sơ tờ khai, tuân thủ kê khai chính xác và tuân thủ nộp thuế đúng hạn. Hành vi được chia thành hai nhánh: tuân thủ tự nguyện (dựa trên nghĩa vụ công dân và niềm tin) và tuân thủ bắt buộc (dựa trên nỗi sợ bị phát hiện và xử phạt). Ngược lại, không tuân thủ thuế gồm trốn thuế (bất hợp pháp) và tránh thuế (lợi dụng kẽ hở pháp lý).
Phương pháp nghiên cứu
Luận án áp dụng phương pháp nghiên cứu hỗn hợp kết hợp tuần tự giữa nghiên cứu định tính và nghiên cứu định lượng:
- Nghiên cứu định tính: Thực hiện phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý thuế (cán bộ lãnh đạo, chuyên viên chính tại Cục thuế và Chi cục thuế các tỉnh ĐBSH) cùng các chủ hộ kinh doanh cá thể làng nghề. Mục tiêu nhằm điều chỉnh, bổ sung các chỉ báo thang đo gốc từ các nghiên cứu quốc tế để phù hợp với đặc thù quản lý thuế khoán và bối cảnh làng nghề Việt Nam.
- Nghiên cứu định lượng:
- Thu thập dữ liệu: Thiết kế phiếu khảo sát cấu trúc với thang đo Likert, thực hiện khảo sát các chủ hộ kinh doanh cá thể làm nghề và kinh doanh nghề tại 11 tỉnh/thành phố Đồng bằng sông Hồng.
- Kỹ thuật phân tích dữ liệu: Dữ liệu được làm sạch và xử lý trên phần mềm SPSS và AMOS. Các kỹ thuật thống kê áp dụng bao gồm: thống kê mô tả; kiểm định độ tin cậy thang đo qua hệ số Cronbach's Alpha; phân tích nhân tố khám phá (EFA); kiểm định KMO và Bartlett; phân tích nhân tố khẳng định (CFA) để đánh giá độ tin cậy tổng hợp (CR), tổng phương sai trích (AVE), tính giá trị hội tụ và giá trị phân biệt; phân tích mô hình phương trình cấu trúc (SEM) để kiểm định các mối quan hệ tác động trực tiếp và gián tiếp; phân tích ANOVA và Independent Samples T-Test để kiểm tra sự khác biệt theo các biến nhân khẩu học.
- Nguồn dữ liệu: Dữ liệu sơ cấp từ bảng hỏi khảo sát và phỏng vấn sâu; dữ liệu thứ cấp trích xuất từ báo cáo của Tổng cục Thống kê (Tổng điều tra kinh tế 2017, 2021), báo cáo tổng kết công tác thuế của Tổng cục Thuế (2020, 2021), số liệu thu thuế hộ kinh doanh của Cục thuế Hà Nội và các Chi cục thuế ĐBSH, báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2021) và Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách (VEPR).
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan nghiên cứu
Chương này tổng thuật lịch sử nghiên cứu tuân thủ thuế từ nghiên cứu của Groves (1958) đến các mô hình hiện đại. Tác giả tổng hợp 63 công trình nghiên cứu tiêu biểu, phân loại phương pháp nghiên cứu thành: định lượng dựa trên dữ liệu thống kê (3 công trình), thống kê mô tả (2 công trình), phương pháp thực nghiệm (15 công trình) và khảo sát bảng hỏi/hỗn hợp. Tác giả điểm luận chi tiết 15 yếu tố ảnh hưởng còn thiếu tính đồng thuận và khẳng định tính cấp thiết của việc xây dựng khung nghiên cứu tích hợp TPB và SSF áp dụng cho hộ kinh doanh cá thể làng nghề tại Việt Nam.
Chương 2: Cơ sở lý luận và mô hình nghiên cứu
Chương 2 trình bày hệ thống lý luận chung về thuế (bản chất, 2 đặc điểm cốt lõi: tính bắt buộc/pháp lý cao và tính không hoàn trả trực tiếp; 4 tiêu chuẩn hệ thống thuế tối ưu: hiệu quả kinh tế, đơn giản, linh hoạt, công bằng). Phân định ranh giới giữa tuân thủ tự nguyện, tuân thủ bắt buộc, trốn thuế và tránh thuế. Trên cơ sở tổng hợp các lý thuyết nền tảng (TPB, SSF, Răn đe kinh tế, Tâm lý tài chính, Lý thuyết công bằng, Mô hình Fischer), tác giả xây dựng mô hình nghiên cứu gồm:
- 9 nhóm biến độc lập: Tinh thần thuế, Chuẩn mực chủ quan, Nhận thức tính công bằng, Quyền lực cơ quan thuế, Nhận thức về thuế, Mức độ phức tạp về thuế, Thông tin về thuế, Xử phạt, Khả năng bị kiểm tra/thanh tra.
- 1 biến trung gian: Niềm tin vào cơ quan thuế.
- 2 biến phụ thuộc: Hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và Hành vi tuân thủ thuế bắt buộc.
- 5 biến kiểm soát: Giới tính, độ tuổi, trình độ học vấn, số năm hoạt động kinh doanh, thu nhập hàng năm.
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Tác giả chi tiết hóa quy trình nghiên cứu hai giai đoạn. Giai đoạn định tính tiến hành phỏng vấn sâu nhằm hiệu chỉnh thang đo gốc từ các tác giả Kirchler và Wahl (2010), Bobek và Hatfield (2003), Saad (2012), Alm và cộng sự (2012). Giai đoạn định lượng trình bày quy trình chọn mẫu tại 11 tỉnh/thành phố ĐBSH, cấu trúc bảng hỏi, các tiêu chuẩn kiểm định độ tin cậy và giá trị thang đo qua SPSS và AMOS, cùng phương pháp kiểm định mô hình phương trình cấu trúc (SEM).
Chương 4: Bối cảnh nghiên cứu và kết quả nghiên cứu
Chương 4 phác thảo bức tranh thực trạng làng nghề và quản lý thuế hộ kinh doanh tại Việt Nam (hình thức nộp thuế khoán, sử dụng hóa đơn). Trình bày kết quả phân tích định lượng:
- Mẫu khảo sát đạt yêu cầu thống kê mô tả; các thang đo đều đạt độ tin cậy Cronbach's Alpha và độ giá trị qua EFA, CFA (chỉ số KMO, ma trận xoay, AVE, CR đạt chuẩn).
- Kết quả phân tích SEM khẳng định các giả thuyết nghiên cứu chính: Chuẩn mực chủ quan là yếu tố tác động thuận chiều mạnh nhất đến tuân thủ tự nguyện và mạnh thứ hai đến tuân thủ bắt buộc. Niềm tin vào cơ quan thuế thúc đẩy mạnh mẽ tuân thủ tự nguyện và đóng vai trò trung gian trong mối quan hệ giữa nhận thức công bằng và tuân thủ tự nguyện. Nhận thức quyền lực của cơ quan thuế tác động mạnh nhất đến tuân thủ bắt buộc. Khả năng kiểm tra thanh tra chỉ có tác động rõ nét khi quyền lực cơ quan thuế được nhận thức ở mức cao.
- Kết quả kiểm định khác biệt (ANOVA/T-test) chỉ ra sự khác biệt có ý nghĩa thống kê về mức độ tuân thủ thuế theo các nhóm độ tuổi, trình độ học vấn, số năm kinh doanh và mức thu nhập hàng năm của chủ hộ.
Chương 5: Thảo luận kết quả nghiên cứu và khuyến nghị nhằm thúc đẩy tuân thủ thuế ở hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề ở Việt Nam
Tác giả đối chiếu các phát hiện thực nghiệm với bối cảnh kinh tế - văn hóa làng xã tại Đồng bằng sông Hồng. Đưa ra hệ thống giải pháp gắn liền với 3 nhóm đóng góp thực tiễn: gắn trách nhiệm chính quyền cơ sở và phường hội làng nghề; hoàn thiện chính sách thuế khoán và tăng nặng chế tài xử phạt hành vi tái phạm; đổi mới công tác kiểm tra, thanh tra thuế theo hướng quản lý rủi ro hiện đại.
Kết quả và những đóng góp mới
Đóng góp mới về mặt lý luận
- Làm rõ vai trò chi phối của chuẩn mực chủ quan trong bối cảnh làng nghề: Khác với các nghiên cứu trước đây tại các nước phương Tây hoặc đối với khối doanh nghiệp, luận án chứng minh rằng trong môi trường làng nghề truyền thống Việt Nam — nơi văn hóa gia đình, dòng tộc và phường hội làng nghề chi phối mạnh mẽ — chuẩn mực chủ quan là yếu tố có tác động lớn nhất đến hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và tác động lớn thứ hai đến hành vi tuân thủ thuế bắt buộc.
- Xác nhận vai trò biến trung gian của niềm tin vào cơ quan thuế: Luận án giải quyết sự bất đồng trong y văn học thuật bằng việc chứng minh mô hình chuỗi tác động: Nhận thức về sự công bằng của hệ thống thuế nuôi dưỡng niềm tin vào cơ quan thuế, từ đó niềm tin đóng vai trò trung gian truyền dẫn tác động tích cực đến hành vi tuân thủ thuế tự nguyện của hộ kinh doanh cá thể.
- Phát hiện điều kiện biên về nhận thức quyền lực cơ quan thuế: Kết quả chỉ ra rằng hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế chỉ thực sự phát huy tác động răn đe thúc đẩy tuân thủ thuế bắt buộc khi hộ kinh doanh có nhận thức cao về năng lực và quyền lực thực thi của cơ quan thuế. Nếu thanh tra diễn ra thường xuyên nhưng không phát hiện vi phạm hoặc chế tài xử lý không nghiêm, nhận thức về quyền lực cơ quan thuế sẽ suy giảm và làm giảm hiệu quả tuân thủ.
Kiến nghị và đóng góp về mặt thực tiễn
- Phối hợp chính quyền và tổ chức đoàn thể địa phương: Gắn trách nhiệm của chính quyền cơ sở trong quản lý thuế; cơ quan thuế cần phối hợp chặt chẽ với các tổ chức phường, hội nghề nghiệp tại các xã, phường để tổ chức các hội nghị phổ biến chính sách thuế mới, tận dụng uy tín của các nghệ nhân, trưởng hội để định hướng chuẩn mực tuân thủ.
- Hoàn thiện chính sách thuế và chế tài xử phạt: Đảm bảo tính công bằng, tương đồng trong việc xác định mức doanh thu khoán giữa các nhóm hộ kinh doanh có cùng quy mô, ngành nghề; xây dựng khung xử phạt tăng nặng đối với hành vi tái phạm gian lận thuế (mức phạt lần hai cao gấp nhiều lần lần đầu); chỉ đạo các đội thuế xã/phường rà soát đưa các hộ kinh doanh dưới ngưỡng hoặc chưa đăng ký thuế vào diện quản lý chặt chẽ.
- Hiện đại hóa quy trình thanh tra, kiểm tra theo mức độ rủi ro: Phân loại hộ kinh doanh theo các mức độ rủi ro không tuân thủ; phân bổ tối thiểu 90% số lượng cuộc kiểm tra hàng năm dựa trên tiêu chí rủi ro cao và tối đa 10% lựa chọn ngẫu nhiên; định kỳ rà soát bổ sung các trường hợp có dấu hiệu trốn thuế vào kế hoạch thanh tra đột xuất.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Về hạn chế, luận án chỉ ra ba điểm chính:
- Phạm vi khảo sát thực địa mới chỉ tập trung tại 11 tỉnh, thành phố thuộc khu vực Đồng bằng sông Hồng, chưa mở rộng sang các vùng kinh tế trọng điểm khác có làng nghề phát triển (như Bắc Trung Bộ, Duyên hải miền Trung hay Tây Nam Bộ).
- Đối tượng nghiên cứu mới khu biệt ở nhóm hộ kinh doanh cá thể trực tiếp làm nghề và kinh doanh nghề truyền thống, chưa bao quát toàn diện các loại hình hộ kinh doanh thương mại, dịch vụ phụ trợ khác trong khu vực làng nghề.
- Dữ liệu nghiên cứu định lượng dựa trên phương pháp điều tra bảng hỏi tự báo cáo (self-reported) của người nộp thuế, có thể tiềm ẩn độ lệch nhất định do tính nhạy cảm của thông tin kê khai thu nhập và nghĩa vụ thuế.
Về hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng quy mô khảo sát trên phạm vi toàn quốc để kiểm chứng tính đại diện và so sánh đặc thù văn hóa vùng miền tác động đến hành vi tuân thủ thuế.
- Mở rộng mô hình nghiên cứu sang các nhóm hộ kinh doanh phi làng nghề, doanh nghiệp siêu nhỏ chuyển đổi từ hộ kinh doanh.
- Bổ sung các biến số nghiên cứu mới liên quan đến tác động của chuyển đổi số, ứng dụng hóa đơn điện tử khởi tạo từ máy tính tiền và sự phát triển của hệ thống đại lý thuế đối với hành vi tuân thủ thuế.
Giá trị tham khảo
Luận án là tài liệu tham khảo có giá trị học thuật và ứng dụng thực tiễn đối với các nhóm đối tượng:
- Nghiên cứu sinh, học viên cao học và giảng viên: Cung cấp khung phân tích kết hợp giữa lý thuyết TPB mở rộng và mô hình SSF; hệ thống hóa các thang đo định lượng về hành vi tuân thủ thuế trong khu vực kinh tế phi chính thức; làm tài liệu tham khảo cho các môn học Quản lý thuế, Tài chính công và Hành vi tổ chức.
- Nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý thuế: Cung cấp căn cứ khoa học cho Bộ Tài chính, Tổng cục Thuế và Cục thuế các địa phương trong việc thiết kế chính sách thuế khoán, quy trình kiểm tra thuế dựa trên đánh giá rủi ro và chiến lược tuyên truyền chính sách phù hợp với đặc thù văn hóa làng nghề truyền thống.
Câu hỏi thường gặp
-
Tại sao chuẩn mực chủ quan lại là yếu tố tác động mạnh nhất đến tuân thủ thuế tự nguyện của hộ kinh doanh cá thể làng nghề?
Do đặc thù làng nghề tại Việt Nam mang đậm tính gắn kết cộng đồng, văn hóa dòng tộc và phường hội nghề nghiệp. Các quyết định kinh doanh và nghĩa vụ xã hội của hộ kinh doanh chịu sự giám sát, dìu dắt và ảnh hưởng sâu sắc từ những người thân, trưởng họ và các bạn nghề trong cùng làng xã.
-
Niềm tin vào cơ quan thuế đóng vai trò gì trong mô hình nghiên cứu của luận án?
Niềm tin vào cơ quan thuế đóng vai trò là biến trung gian truyền dẫn. Khi người nộp thuế nhận thức hệ thống thuế là công bằng và minh bạch, lòng tin đối với cơ quan thuế sẽ được nuôi dưỡng, từ đó trực tiếp thúc đẩy hành vi tuân thủ thuế tự nguyện.
-
Vì sao hoạt động kiểm tra, thanh tra thuế đôi khi không làm gia tăng mức độ tuân thủ thuế của hộ kinh doanh?
Theo luận án, nếu hoạt động thanh tra kiểm tra diễn ra nhưng tỷ lệ phát hiện vi phạm thấp và chế tài xử phạt không đủ tính răn đe, người nộp thuế sẽ có nhận thức thấp về quyền lực của cơ quan thuế. Kiểm tra thanh tra chỉ thúc đẩy tuân thủ bắt buộc khi đi kèm với nhận thức quyền lực cơ quan thuế ở mức cao.
-
Tỷ lệ phân bổ kế hoạch thanh tra, kiểm tra hộ kinh doanh cá thể được tác giả khuyến nghị như thế nào?
Cơ quan thuế cần phân bổ không dưới 90% số lượng các trường hợp thanh tra, kiểm tra hàng năm dựa trên danh sách phân loại rủi ro không tuân thủ thuế, và dành không quá 10% cho việc lựa chọn ngẫu nhiên.
-
Thực trạng tỷ trọng đóng góp của khu vực hộ kinh doanh vào GDP và ngân sách nhà nước tại Việt Nam được nêu trong luận án là bao nhiêu?
Khu vực hộ kinh doanh cá thể chiếm tỷ trọng tương đối ổn định khoảng 30% GDP trong giai đoạn 2015–2019, nhưng chỉ đóng góp khoảng 1,6% vào tổng thu ngân sách nhà nước.
Kết luận
Luận án của tác giả Nguyễn Quỳnh Trang đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và thực nghiệm về hành vi tuân thủ thuế, kết hợp hài hòa giữa Lý thuyết Hành vi có kế hoạch (TPB) và Mô hình Khung sườn dốc trơn trượt (SSF). Công trình chỉ ra vai trò then chốt của chuẩn mực chủ quan, niềm tin vào cơ quan thuế và nhận thức quyền lực cơ quan thuế đối với hành vi tuân thủ thuế tự nguyện và bắt buộc của hộ kinh doanh cá thể trong các làng nghề Đồng bằng sông Hồng. Các phát hiện nghiên cứu đã giải quyết các khoảng trống lý luận quan trọng và cung cấp hệ thống khuyến nghị thực tiễn có cơ sở khoa học nhằm nâng cao hiệu lực quản lý thuế đối với khu vực hộ kinh doanh cá thể tại Việt Nam.