Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở khoa học của đề tài 1. Cơ sở lý luận của đề tài + Kết quả nghiên cứu đề tài là dẫn liệu khoa học về khả năng sinh trưởng, ra hoa của các giống hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái nguyên. + Kết quả nghiên cứu của đề tài là tài liệu tham khảo trong giảng dạy, nghiên cứu về hoa lan Hồ Điệp trồng tại Thái Nguyên.
Cơ sở thực tiễn của đề tài Kết quả đề tài góp phần giải quyết yêu cầu thực tế sản xuất của các hộ nông dân, các doanh nghiệp trồng hoa lan để lựa chọn các biện pháp kỹ thuật tốt nhất trong việc nuôi trồng lan Hồ Điệp. Tạo tiền đề thúc đẩy nghề trồng hoa lan ở Thái Nguyên, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển kinh tế xã hội của tỉnh. Sơ lược về cây hoa lan 1. Nguồn gốc, vị trí, phân loại và đặc điểm thực vật học của cây hoa lan lan 1.
Nguồn gốc lịch sử Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2], Võ Văn Chi - Dương Đức Tiến (1978) [3], Phạm Hoàng Hộ (2000) [9], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] cây lan Orchida thuộc họ phong lan Orchidaceae, bộ lan Orchidales, lớp một lá mầm Monoctyledoneae. Cây lan được biết đến đầu tiên ở Phương Đông. Hoa lan được biết đến vào khoảng 2500 năm về trước (Thời đại của Đức Khổng Tử, 551- 479 trước công nguyên). Ở Phương Đông, lan được chú ý đến vì vẻ đẹp duyên dáng của lá, hương thơm tuyệt vời của hoa.
Khổng Tử đề cao lan là Vua của những loài cỏ cây có hương thơm. n 5 Hoa lan thường mọc ở các vùng nhiệt đới, đã được các thuỷ thủ, các lái buôn, nhà truyền giáo mang về nên người châu Âu biết đến rất muộn, lan được chú ý trước hết để làm thuốc chữa bệnh. Ở đây người ta đã tiến hành nghiên cứu rất công phu tỉ mỉ về lan. Có thể nói Theophara stus là cha đẻ ngành học về lan và ông cũng là người đầu tiên dùng từ Orchid để chỉ một loài lan có củ tròn.
Sau đó Robut Bron (1773 - 1858) là người đầu tiên đã phân biệt rõ ràng giữa họ lan và các họ khác [10]. Người đặt nền tảng hiện đại cho môn học về lan là John Lindley (1799 - 1865). Năm 1836 ông công bố, sắp xếp các tông họ lan (A tabuler view of the tribes of orchidaler). Tên của họ lan do ông đưa ra được dùng cho đến ngày nay [10].
Ở Việt Nam, dấu vết nghiên cứu về lan thời kỳ đầu không rõ rệt, có lẽ người đầu tiên có khảo sát về lan ở Việt Nam là Gioalas Noureiro - Nhà truyền giáo người Bồ Đào Nha, ông đã mô tả cây lan ở Việt Nam lần đầu tiên vào năm 1789 trong cuốn “Flora cochin chinensis”, gọi tên các cây lan trong cuộc hành trình đến nam phần Việt Nam là Aerides, Phaius và Sarcopodium. mà đã được Bentham và Hooker ghi lại trong cuốn “Genera planterum” (1862 - 1883) [9]. Chỉ sau khi người Pháp đến Việt Nam mới có những công trình nghiên cứu được công bố đáng kể là F. Gnillaumin mô tả 70 chi gồm 101 loài cho cả 3 nước Đông Dương trong bộ “Thực vật Đông Dương chí” do H.
Lecomte chủ biên, xuất bản năm 1932 - 1934 [15]. Theo tác giả Phạm Hoàng Hộ (1972), đã mô tả kèm hình vẽ 289 loài lan gặp ở Nam Việt Nam trong bộ “Cây cỏ Việt Nam” (quyển II ). Sau năm 1975 các nhà khảo cứu Việt Nam, Liên Xô, Tiệp Khắc bắt đầu tìm kiếm và nghiên cứu về những giống lan tại Việt Nam. Năm 1992, tác giả Gunnar Seidenfaden người Đan Mạch đã phát hành cuốn “Hoa Lan tại Đông dương” gồm 200 giống và 2000 loài, trong đó có khoảng 136 giống và 720 loài của Việt Nam.
Đến năm 1993, tác giả Phạm Hoàng Hộ [9] cho rằng, ở Việt Nam có tới 755 loài lan. n 6 Gần đây nhất tác giả Leonid Averyanov và các tác giả Nguyễn Tiến Hiệp, Phan Kế Lộc, Dương Đức Huyến đã lần lượt công bố trên tờ nguyệt san Orchids của Hội hoa lan Hoa Kỳ những khám phá mới lạ đã phát hiện thấy 4 loài lan ở Việt Nam chưa được biết đến đó là Paphio pledilum helenae, Renamthera citrina, Paphiopedilum hiepii và Vanda bidupensis. Vị trí phân bố Cây hoa lan mọc ở khắp mọi nơi trên thế giới, từ miền gió tuyết đến sa mạc nóng bỏng khô cằn, từ miền núi cao rừng thẳm đến đồng cỏ của miền bình nguyên và ngay cả các vùng sình lầy cũng có lan. Đa số lan mọc tập trung ở các rừng cây nhiệt đới, ở các nước Châu Á như Thái Lan, Lào, Cam Pu Chia, Việt Nam có Dendrobium, Vanda, Phalaenopsis, Archinis, Renanthera, ở Châu Nam Mỹ như Costarica, Venezuela, Colombia có các giống Cattleya, Odontoglosum, Miltonia.
Theo Briger (1971), vùng trung sinh Bắc bán cầu có 75 chi và 900 loài, vùng trung sinh Nam bán cầu có 40 chi và 500 loài, Châu Âu có 120 loài, Bắc Mỹ có 170 loài. Họ lan (Orchidaceac) thuộc vào một loài hoa đông đảo với khoảng chừng 750 chi và 30.000 loài nguyên thủy và khoảng một triệu loài lan; loài hoa có số lượng lớn đứng thứ 2 sau họ cúc (Asteraceac). Theo Presley (1981) thì vùng Châu Á nhiệt đới có 250 chi và 6.800 loài trong đó chi Dendrobium có 1.400 loài, chi Coelogyne có 200 loài, chi Phalaenopsis có 35 loài, chi Vanda có 60 loài, vùng châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.266 loài, chi Cattleya có 60 loài, chi Epidendrum có 500 loài, chi Odontoglossum có 200 loài. Vùng Châu Mỹ nhiệt đới có 306 chi và 8.
Trên thế giới có một số nước tập trung nhiều loài hoa như Colombia có 1.300 loài và Tân Ghinê có 1. Khảo sát sơ bộ ở Việt Nam, chi Dendrobium có khoảng 89 loài, Paphiopedilum có 25 loài, Aerides có 5 loài, chi Cymbidium có 20 loài, chi Phalaenopsis có 7- 8 loài. Phân loại hoa lan Theo các tác giả Trần Hợp (1990) [11], Nguyễn Tiến Bân (1997) [2], Vô Văn Chi - Dương Đức Tiến 1978 [3], Phạm Hoàng Hộ (1992) [9], Nguyễn Văn Chương, Trịnh Văn Thịnh (1991) [4] và Koopowitz (1986) [34], cây hoa lan thuộc họ lan (Orchidaceae), ở trong lớp đơn tử diệp, lớp 1 lá mầm (Monocotyledoneae), thuộc ngành ngọc lan - thực vật hạt kín Magnolio phyta, phân lớp hành Lilidae, bộ lan Orchidales. Theo tác giả Takhtajan (1980), họ lan bao gồm cả họ Apostasicideae và họ Cypripedicideae chia thành 3 họ phụ gồm: 1.
Apostasicideae Trong đó họ phụ lan (Orchidadeae) là phức tạp nhất, có nhiều giống nhiều loại nhất, hai họ phụ kia mỗi loại chỉ có một tông, (Phan Thúc Huân, 1989) [13]. Gần đây, do phân tích hoa đầy đủ hơn và đi sâu vào đặc tính di truyền, các nhà khoa học đã chia họ lan thành 6 họ phụ: 1. Vandoideae Cả 6 họ phụ này đều phổ biến rộng rãi trên trái đất. Họ lan của Việt Nam cũng khá phong phú, theo thống kê sơ bộ gần đây có khoảng 140 chi và 730 loài.
Như vậy, họ lan đã trở thành 1 đối tượng cực kỳ phong phú và đặc sắc của hệ thực vật Việt Nam, không những là một trong những họ thực vật lớn nhất mà còn đóng góp nhiều về mặt giá trị sử dụng cho nền kinh tế nước n 8 nhà. Tuy nhiên, việc phân loại cây trồng hết sức phức tạp, cho đến nay chưa có khoá phân loại cho các đơn vị dưới loài, trong khi đó việc phân loại cho các đơn vị dưới loài hết sức quan trọng, nhất là trong công tác chọn giống cây trồng (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1997) [19], đối với họ lan cũng gặp những khó khăn này. Đặc điểm thực vật của cây hoa lan Thân cây họ lan: cây lan sống ở những nơi hoang dã, ở các địa điểm rất khác nhau, điều kiện môi trường rất khác nhau như các sườn núi cao giá lạnh, trên cây cao gió thốc hoặc ẩm ướt tối tăm ven suối trong rừng rậm., cấu trúc loài lan cũng đa dạng để thích nghi. Thân các loài lan có 2 kiểu tiêu biểu nhất là: Lan đa thân: Các chi lan Kiếm (Cymbidium), lan Hài (Paphiopedilum), lan Vũ nữ (Oncidium), Cát lan (Cattleya), lan Hoàng thảo (Dendrobium) thuộc vào kiểu lan đa thân.
Thông thường, phần của cây lan nhìn thấy được chỉ có lá, hoa và cuống. Chúng được mọc nên từ một đoạn phình to, giống như củ hành nên người ta gọi là giả hành. Giả hành có thể nhỏ như lan Kiếm hoặc khá to như lan Bầu rượu (Catlanthe), ngắn hình thoi như lan Hoàng thảo vẩy rồng, nhưng có loài khá dài như lan Hoàng thảo phi điệp (dài tới 1m). Việc tách bụi của lan đa thân là việc cắt thân rễ (căn hành), cắt ở vị trí nào ta cần tính toán sao cho mỗi bụi đều có đủ sức để phát triển mạnh, thường nên để mỗi có khoảng 3 giả hành.
Lan đơn thân: Các chi lan Vanda, Hồ điệp, Phượng vĩ, Ngọc điểm (Rhychostylis). thuộc kiểu lan đơn thân. Thân các loài lan đơn thân luôn mọc cao nên phía ngọn, phát triển theo chiều thẳng đứng. Sự phát triển chỉ ngừng khi đỉnh ngọn bị thương tổn, chồi bên sẽ xé rách bọc lá để mọc thành thân nhánh và cũng vươn cao nên phía đỉnh.
Khi thân các loài lan đơn thân vươn cao dễ bị đổ nghiêng ngả, có loài rễ n 9 gió (rễ khí) mọc theo thân bám chặt vào các cành cây hay bất cứ vật nào chúng gặp phải để giữ cho cây luôn được thẳng đứng. Rễ lan: đa số rễ của các loài lan có lớp mô xốp bao quanh rễ thật. Rễ của phong lan có lớp mô xốp màu trắng ngà với nhiều công dụng khác nhau: bảo vệ nguồn dẫn nước bên trong của rễ; hút nước và các muối khoáng bám trên mặt rễ và hấp thụ cả hơi nước trong không khí ẩm. Chúng còn có khả năng bám chặt vào các vật mà chúng tiếp xúc.
Ruột rễ của các loài lan là một sợi rất chắc và khá dai như sợi cước, chính vì thế rễ lan bảo đảm được cho cây lan có thể bám trên ngọn cây cao, ở các sườn non chót vót không bị gió mạnh cuốn đi. Miền chóp của rễ có chứa chất màu lục nên rễ cũng làm một phần chức năng quang hợp cho cây. Các sợi rễ không bấu víu vào các vật xung quanh nên chúng có thể hút sương sớm chiều và làm chức năng quang hợp. Rễ có hình trụ nhưng khi bám vào các vật cứng rễ bị bẹp đi trên vết bám.
Nói chung rễ của các loài lan dù phát triển thành nhánh cấp I, cấp II, có khi cấp III nhưng không có rễ tóc nhỏ li ti như của các loài thực vật khác.