Chương 1: Một số van dé lý luận về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm và pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuan kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Chương 2: Thực trạng pháp luật về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm tại Việt Nam Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm. CHUONG 1: MOT SO VAN DE LÝ LUẬN VE TIEU CHUAN, QUY CHUAN KY THUAT TRONG LINH VUC AN TOAN THUC PHAM VA PHAP LUAT VE TIEU CHUAN, QUY CHUAN KY THUAT TRONG LINH VUC AN TOAN THUC PHAM 1. Lý luận về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm Cùng với lịch sử phát triển các hình thái kinh tế xã hội của loài người, tiêu chuẩn được xuất hiện và hình thành từ thời cổ đại. Dan dan, việc cần thiết chuyên môn hóa công tác tiêu chuẩn nhằm đáp ứng đúng vai trò của tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đối với các hoạt động kinh tế, xã hội, nhu cầu pháp ly hóa các hoạt động này được hau hết các quốc gia trên thế giới coi là nội dung quan trọng thông qua việc hình thành các cơ quan tiêu chuẩn hóa và luật định bởi các quy định mang tính bắt buộc điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể, khách thé tham gia công tác này.
Ở cấp độ quốc tế, có hơn 50 Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế và khu vực được hình thành. Vi dụ: Tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO (1947), Ủy ban kỹ thuật điện quốc tế IEC (1906), Liên minh Viễn thông quốc tế ITU-T, Ủy ban an toàn Thực phâm quốc tế CODEX., Ủy ban Tiêu chuẩn Châu Âu CEN, Tiểu ban Tiêu chuan và Đánh giá Sự phù hợp ASEAN- ACCSQ,. Ở cấp độ quốc gia: tính đến nay, trên thế giới có 169 cơ quan tiêu chuẩn hoá quốc gia là thành viên của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế - ISO, IEC, ITU, Codex, trong đó Việt Nam đã tham gia là thành viên đầy đủ từ năm 1977 với đại diện là Tổng cục Tiêu chuẩn Do lường Chất lượng Ngoài ra, rất nhiều các tổ chức tiêu chuẩn hóa là các hiệp hội, ngành nghề từ sản xuất, kinh doanh, thử nghiệm, chứng nhận. ở các quốc gia tham gia vào hoạt động này.
Đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm, các tô chức tiêu chuẩn hóa quốc tế cũng phân chia chuyên ngành nhằm tập trung hoạt động của mình một cách hiệu quả và được thừa nhận rộng rãi. Đó là, Ủy ban An toàn Thực phẩm (Codex), FAO, WHO, ISO. Đây là những tổ chức xây dựng và ban hành tiêu chuẩn, khuyến nghị về lĩnh vực an toàn thực phẩm uy tín hang đầu thé giới. Tiêu chuẩn do các Tổ chức này ban hành được coi là chuẩn mực dé các nước áp dụng nhằm dam bảo an toàn, chat lượng sản phẩm thực phẩm va cũng là căn cứ khoa học khi giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế liên quan các biện pháp vệ sinh, an toàn thực phẩm.1 Khái niệm, đặc điểm về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật trong lĩnh vực an toàn thực phẩm 1.1 Khai niệm Theo Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO, tiêu chuẩn là tdi liệu được thiết lập bằng cách thoả thuận và được một tổ chức được thừa nhận phê duyệt, nham cung cấp những qui tắc, hướng dan hoặc các đặc tính cho những hoạt động, hoặc những kết quả hoạt động đề sử dụng chung và lặp di lặp lại nhằm dat được một trật tự toi wu trong một khung cảnh nhất định.
Tiêu chuẩn phải được xây dựng dựa trên các kết quả vững chắc của khoa học, công nghệ và kinh nghiệm thực tiễn, và nhằm đạt được lợi ích tối uu cho cộng đồng. Đồng thời, guy chuẩn kỹ thuật hay còn gọi là tài liệu chuẩn (Normative Documents) là các tài liệu dé ra các quy tắc, hướng dan hoặc đặc tinh đối với những hoạt động hoặc kết qua của chúng. Cụ thẻ, theo Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (WTO/TBT), tiêu 10 chuẩn được định nghĩa là tai liệu do một tô chức được thừa nhận phê duyệt để sử dụng chung và lặp di lặp lại, trong đó quy định các quy tắc, hướng dan hoặc các đặc tính đối với sản phẩm hoặc các quá trình và phương pháp sản xuất có liên quan, mà việc tuân thủ chúng là không bắt buộc [2] Đối với quy chuẩn kỹ thuật, Hiệp định WTO/TBT đưa ra định nghĩa khá là tương đồng với định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuan hóa quốc tế ISO. Lý do là bởi Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế và Tổ chức Thương mại quốc tế là hai tổ chức có số lượng quốc gia thành viên lớn nhất thế giới về thương mại hàng hóa, trong đó hoạt động xây dựng và áp dụng tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật trở thành một phần của quá trình thuận lợi hóa thương mại quốc tế và là chuẩn mực, thước đo cho hàng hóa giao thương giữa các quốc gia thành viên.
Vì vậy, hai tổ chức này thừa nhận các quy định, tiêu chuẩn và nguyên tắc hoạt động của nhau và được các nước thành viên trên thế giới thừa nhận. Do đó, không có bat kỳ khái niệm khác nào về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do ban chất nội hàm mang tính khoa học đầy đủ đã được chứng minh. Tại Việt Nam, cùng với quá trình chuyên đổi mô hình phát triển kinh tế qua các thời kỳ, Quốc hội và Chính phủ cũng đã ban hành lần lượt các văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh hoạt động tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và đưa ra các thuật ngữ, khái niệm về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật. Theo Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1990 và Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm 1999 của Quốc hội, tiêu chuẩn được định nghĩa /à văn bản kỹ thuật qui định qui cách, chỉ tiêu, yêu cầu kỹ thuật phương pháp thử, yêu cau bao gói, ghỉ nhận, vận chuyển bảo quản hàng hoá và các vấn dé khác liên quan đến chất lượng hàng hoá.
[3] Lúc này, chỉ có khái niệm tiêu chuẩn mà chưa xuất hiện khái niệm về quy chuẩn kỹ thuật. Do các tiêu chuẩn được ban hành dưới hình thức Quyết định của Bộ trưởng với tính chất bắt buộc áp dụng như một văn bản quy phạm pháp luật. 11 Đến năm 2006, Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội ban hành lần đầu tiên ở cấp hiệu lực pháp lý cao nhất. Tại Luật này, lần đầu tiên quy định về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được định nghĩa hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế, trong đó định nghĩa của Tổ chức Tiêu chuẩn hóa quốc tế ISO và Té chức Thương mai thé giới WTO chính là yêu cầu bắt buộc dé đáp ứng điều kiện gia nhập của Việt Nam tại thời điểm đó cũng như quá trình đàm phán các hiệp định thương mại đa phương của Việt Nam sau này.
Theo quy định tại Luật này, tiêu chuẩn là văn bản do một tổ chức công bồ dé tự nguyện áp dụng, trong đó quy định về đặc tinh kỹ thuật và yêu câu quản lý dùng làm chuẩn để phân loại, đánh giá sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đối tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của các đối tượng này [4]. Quan trọng hơn, Luật đã đưa ra khái niệm về quy chuẩn kỹ thuật và khái niệm này đã ngày càng được sử dụng rộng rãi, phô biến, coi là một văn bản vừa mang tính quy phạm, vừa mang tính kỹ thuật điều chỉnh, giải quyết được nhiều van dé, lĩnh vực phù hợp với đặc điểm quan lý của Việt Nam. Theo đó, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để bắt buộc áp dụng, quy định về mức giới hạn của đặc tính kỹ thuật và yêu câu quản lý mà sản phẩm, hàng hoá, dịch vụ, quá trình, môi trường và các đổi tượng khác trong hoạt động kinh tế - xã hội phải tuân thủ để bảo đảm an toàn, vệ sinh, sức khoẻ con người, bảo vệ động vật, thực vật, môi trường; bảo vệ lợi ích và an ninh quốc gia, quyên lợi của người tiêu dùng và các yêu cẩu thiết yếu khác. [4] An toàn thực phẩm là một lĩnh vực của hoạt động tiêu chuẩn hóa được xác định bởi phương pháp phân loại để sắp xếp, thống kê và quản lý hoạt động xây dựng, ban hành tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và phân công trách nhiệm xây dựng, ban hành cho các cơ quan, tô chức có chuyên môn, trách 12 nhiệm quản lý về an toàn thực phẩm.
Do đó, các khái niệm chung về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật nêu trên cũng được thừa nhận và áp dụng đối với lĩnh vực an toàn thực phẩm. Tuy nhiên, với những đặc thù riêng của sản phẩm thực phẩm, Luật chuyên ngành là Luật An toàn thực phẩm năm 2010 cũng đưa ra một số khái niệm khác liên quan đến tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật lĩnh vực an toàn thực phẩm tại Việt Nam như: Điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm, Kiểm nghiệm thực phẩm. Trong đó, điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm /à những quy chuẩn kỹ thuật và những quy định khác đối với thực phẩm, cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm và hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm đo cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyên ban hành nhằm mục dich bảo đảm thực phẩm an toàn đổi với sức khoẻ, tinh mạng con người; Kiểm nghiệm thực phẩm là việc thực hiện một hoặc các hoạt động thử nghiệm, danh gia sự phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn tương ứng đối với thực phẩm, phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm, chất bồ sung vào thực phẩm, bao gói, dụng cụ, vật liệu chứa đựng thực phẩm. [5] Thực phẩm an toàn (hay thực pham sạch) từ lâu đã là mối quan tâm của toàn thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, bởi việc sử dụng thực pham không an toàn (thực phẩm ban) là mối nguy cơ lớn đến sức khỏe con người.
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã tiễn hành nhiều nghiên cứu và đi đến kết luận, thực phẩm không an toàn có thé gây ra những van dé rat lâu dai với sức khỏe của người dùng. Hàng năm có khoảng 600 triệu người (khoảng 1/10 tổng dân số thế giới) bi ốm, 420.000 người bị chết, 33 triệu năm sống khỏe mạnh bị mat, khoảng 1/3 trẻ em dưới 5 tuôi tử vong trên thé giới là do nguyên nhân từ thực pham ban.